SƯU TẬP NHỮNG KIẾN THỨC CẦN THIẾT CHO GIÁO VIÊN ÂM NHẠC VIỆT NAM THỜI 4.0

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

Thứ Bảy, 21 tháng 8, 2021

 

Chơi nhạc cụ sẽ giúp các em có thêm cảm hứng, là bước khởi nguồn cho những sáng tạo nghệ thuật.

16/01/2018
GD&TĐ - Lần đầu tiên Âm nhạc được dạy học ở trường trung học phổ thông và lần đầu tiên nội dung nhạc cụ và hợp xướng được đưa vào chương trình. ThS Lê Anh Tuấn – Tổng Chủ biên Chương trình môn Âm nhạc – chia sẻ như vậy về môn Âm nhạc trong chương trình giáo dục phổ thông mới.

6 thay đổi chủ yếu:
- Ông có thể cho biết những thay đổi chủ yếu của chương trình môn Âm nhạc là gì?

Chương trình môn Âm nhạc có 6 thay đổi chủ yếu như sau:


Thứ nhất, chương trình được mở rộng về phạm vi giáo dục, lần đầu tiên Âm nhạc được dạy học ở trường trung học phổ thông.

Thứ hai, chương trình được hoàn thiện về nội dung dạy học, lần đầu tiên nội dung nhạc cụ và hợp xướng được đưa vào chương trình.

Thứ ba, chương trình tập trung phát triển năng lực thẩm mỹ và năng lực âm nhạc, với 4 thành phần: thể hiện âm nhạc, cảm thụ âm nhạc, phân tích & đánh giá âm nhạc, sáng tạo & ứng dụng âm nhạc.

Thứ tư, chương trình vừa có nội dung tích hợp (lý thuyết âm nhạc), vừa có nội dung phân hóa (nhạc cụ); vừa là môn học bắt buộc (từ lớp 1 đến lớp 9), vừa là môn học lựa chọn theo nguyện vọng và định hướng nghề nghiệp (từ lớp 10 đến lớp 12); Chương trình có hướng mở, để tác giả sách giáo khoa và giáo viên vận dụng linh hoạt, tránh quá tải.

Thứ năm, chương trình có những đổi mới về phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, ví dụ đọc nhạc theo ký hiệu bàn tay, bộ gõ cơ thể, hát bè,...

Thứ sáu, chương trình có điều chỉnh tên một vài nội dung, ví dụ: hát, đọc nhạc, thường thức âm nhạc, câu chuyện âm nhạc,...


Những nội dung giáo dục cốt lõi


- Những nội dung giáo dục cốt lõi của chương trình mới môn Âm nhạc cụ thể ra sao?

Hát là một nội dung phổ biến và xuyên suốt chương trình môn Âm nhạc, gồm: bài hát tuổi học sinh, dân ca Việt Nam, bài hát nước ngoài, hợp xướng. Nội dung hợp xướng chỉ được học ở trường trung học phổ thông.

Nhạc cụ là nội dung mang tính phân hóa, gồm: chơi tiết tấu (từ lớp 1), chơi giai điệu (từ lớp 4), chơi hòa âm (từ lớp 6). Tùy theo điều kiện thực tiễn của nhà trường (phương tiện dạy học, năng lực giảng dạy), giáo viên có thể dạy học sinh chơi bộ gõ cơ thể, nhạc cụ tự làm, nhạc cụ Việt Nam (trống nhỏ, song loan, thanh phách, sáo trúc, tiêu, đàn nguyệt, nhạc cụ phổ biến ở địa phương,...) hoặc nhạc cụ nước ngoài (melodica, recorder, ukulele, harmonica, guitar, keyboard,...).

Nghe nhạc là một hoạt động phổ biến trong giáo dục âm nhạc, gồm: nghe nhạc không lời, nghe nhạc có lời. Nội dung và yêu cầu cần đạt về nghe nhạc được tích hợp trong tất cả các phân môn, đặc biệt là ở phần học về tác giả và tác phẩm.

Đọc nhạc gồm các nội dung: đọc mẫu âm đơn giản ở giọng Đô trưởng theo ký hiệu bàn tay (từ lớp 1), đọc giai điệu ở giọng Đô trưởng theo ký hiệu ghi nhạc (từ lớp 4), đọc giai điệu ở giọng Đô trưởng hoặc La thứ (từ lớp 6),...

Lý thuyết âm nhạc là những kiến thức cơ bản, phổ thông và mang tính ứng dụng, làm nền tảng cho các hoạt động thực hành âm nhạc, gồm các nội dung: ký hiệu âm nhạc và các loại nhịp, kiến thức bổ sung. Không học riêng về lý thuyết mà tích hợp trong các nội dung: hát, nhạc cụ, đọc nhạc.

Học sinh chỉ học lý thuyết sau khi đã được trải nghiệm qua thực hành. Đây là thay đổi để khắc phục hạn chế về việc dạy học lý thuyết khô khan và nặng nề trong chương trình Âm nhạc hiện hành.

Thường thức âm nhạc gồm: tìm hiểu nhạc cụ, câu chuyện âm nhạc, tác giả và tác phẩm, hình thức biểu diễn, thể loại và cấu trúc âm nhạc, âm nhạc và đời sống. Các nội dung được bố trí dạy học phù hợp với khả năng nhận thức và năng lực của học sinh trong từng cấp học.

- Nhận định của ông thế nào về tính kế thừa và tính khả thi của chương trình môn Âm nhạc mới?

Thời lượng dạy học (từ lớp 1 đến lớp 9) của chương trình Âm nhạc hiện hành (2006) và chương trình mới đều là 35 tiết/ năm. Chương trình mới kế thừa khoảng 60% nội dung chương trình hiện hành, gồm các phần: mục tiêu, nội dung dạy học, chuẩn kiến thức và kỹ năng, phương pháp dạy học,... Như vậy giáo viên âm nhạc hiện nay có thể giảng dạy và đáp ứng được 60% về nội dung và yêu cầu của chương trình mới. Trong thời gian tới, các giáo viên cần được tập huấn để hoàn thành giảng dạy chương trình này.

Chương trình mới đưa thêm nội dung nhạc cụ, do đó tác giả biên soạn sách giáo khoa cần giảm bớt thời lượng dạy học một số nội dung khác, ví dụ: ôn tập bài hát, lý thuyết âm nhạc, đọc nhạc. Đồng thời nên sử dụng hát làm trục chính, một số nội dung khác (nghe nhạc, đọc nhạc, chơi nhạc cụ, thường thức âm nhạc, lý thuyết âm nhạc) sẽ được thiết kế xoay quanh trục này; bảo đảm số lượng bài hát, bài đọc nhạc, bài học nhạc cụ trong sách giáo khoa tương đương nhau, liên kết với nhau và dễ thực hiện.

- Tại sao chương trình có thêm nội dung nhạc cụ?

Học nhạc cụ làm bối cảnh học tập trở nên đa dạng hơn, vừa giúp học sinh phát triển năng lực âm nhạc (nghe, hát, đọc nhạc) và năng lực tự học, giao tiếp, hợp tác, vừa để giảm bớt lý thuyết, tăng cường thực hành và nâng cao tính ứng dụng.

Thông qua nhạc cụ, học sinh sẽ được học bằng đa giác quan, được cảm nhận về âm nhạc một cách trọn vẹn, được nâng cao sự trải nghiệm và thể hiện cảm xúc theo những cách khác nhau, khác với cách hát thông thường.

Nhiều học sinh không có khả năng ca hát, một số em đến độ tuổi 12 - 14 thường bị vỡ giọng, nhạc cụ sẽ là phương tiện để các em học tập và thể hiện bản thân.

Học nhạc cụ còn góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa và hội nhập quốc tế, thông qua việc học những nhạc cụ Việt Nam và nhạc cụ nước ngoài.



Không nhất thiết tất cả các trường THPT phải có ngay, có đủ giáo viên Âm nhạc


- Các trường trung học phổ thông hiện nay chưa có giáo viên âm nhạc, vậy cách triển khai chương trình như thế nào?

Ở trường trung học phổ thông, Âm nhạc là môn lựa chọn, không bắt buộc tất cả HS học; do đó, không nhất thiết tất cả các trường phải có ngay và có đủ giáo viên Âm nhạc. Các trường cũng có thể mời giảng viên trường nghệ thuật, mời nghệ nhân hoặc giáo viên Âm nhạc ở trung học cơ sở giảng dạy một số nội dung phù hợp.

Các Sở GDĐT nên chọn một số trường trung học phổ thông để thí điểm việc triển khai giảng dạy Âm nhạc trước khi nhân rộng.

- Chia sẻ của với các giáo viên Âm nhạc để họ triển khai tốt nhất chương trình mới?

Các thầy cô cần tiếp tục phát huy những ưu điểm về phương pháp dạy học đang vận dụng, đồng thời nên nhìn nhận tích cực trước sự thay đổi của chương trình môn Âm nhạc mới. Chương trình mới xây dựng những bối cảnh học tập đa dạng, với sự phong phú về nội dung và các hoạt động học tập, nhằm đáp ứng các nhu cầu, sở thích của học sinh; tạo được cảm xúc, niềm vui và hứng thú trong học tập.

Có thể một số thầy cô sẽ băn khoăn về nội dung nhạc cụ, tuy nhiên các loại nhạc cụ như melodica, recorder, ukulele,... đều là những nhạc cụ có âm thanh chuẩn xác, dễ chơi, dễ hòa tấu. Đa số giáo viên âm nhạc có thể chơi được những nhạc cụ này trong thời gian ngắn học tập.

Các thầy cô cần tìm hiểu, tham khảo và vận dụng một số nội dung và phương pháp dạy học mới như: đọc nhạc theo ký hiệu bàn tay, bộ gõ cơ thể, hát bè,... Bằng kinh nghiệm riêng của mỗi người, cần tạo nên những giờ học Âm nhạc thú vị và sinh động, giúp học sinh được nuôi dưỡng cảm xúc thẩm mỹ và tình yêu âm nhạc, để các em có đời sống tinh thần phong phú, lành mạnh.

- Vậy còn lưu ý với học sinh thì sao, thưa ông?

Các em hãy chơi một nhạc cụ, để tận hưởng những giờ học Âm nhạc một cách thú vị. Nhạc cụ là hiện thân của âm nhạc, là công cụ tuyệt vời để tạo ra âm thanh. Chơi nhạc cụ sẽ giúp các em có thêm cảm hứng, là bước khởi nguồn cho những sáng tạo nghệ thuật.

Phương pháp giáo dục có gì mới?

- Phương pháp giáo dục môn Âm nhạc có gì mới để giúp đạt mục tiêu của chương trình?

Căn cứ vào nội dung dạy học, yêu cầu cần đạt, thời lượng và đặc điểm của lớp học, giáo viên nên linh hoạt sử dụng các quy trình âm nhạc (nghe - đọc - tái hiện - phản ứng - sáng tạo - trình diễn - phân tích, đánh giá - ứng dụng) cho phù hợp và hiệu quả.

Ở tiểu học tập trung phát triển cảm xúc thẩm mỹ và tình yêu âm nhạc. Cần lựa chọn các hoạt động học tập phù hợp với sở thích và nhận thức của học sinh: nghe nhạc, vận động, chơi các trò chơi, kể chuyện,... Cần thiết kế các hoạt động trải nghiệm và khám phá âm nhạc tích hợp nhiều nội dung và hoạt động.

Ở trung học cơ sở: tập trung phát triển các kỹ năng âm nhạc cơ bản. Cần lựa chọn các hoạt động học tập phù hợp với hứng thú và nhận thức của học sinh: nghe nhạc, vận động, đánh giá, phân tích, sáng tạo, ứng dụng,... Cần thường xuyên củng cố và vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã học từ tiểu học.

Ở trung học phổ thông: tập trung nâng cao và hoàn thiện kỹ năng thực hành, dàn dựng và biểu diễn âm nhạc. Cần lựa chọn các hoạt động học tập phù hợp với phong cách cá nhân, tạo thói quen luyện tập âm nhạc hằng ngày, hình thành định hướng thẩm mỹ và định hướng nghề nghiệp.

- Những năng lực âm nhạc được biểu hiện như thế nào, thưa ông?

Môn Âm nhạc giúp học sinh hình thành và phát triển các năng lực âm nhạc sau.

Thể hiện âm nhạc: Biết tái hiện, trình bày hoặc biểu diễn âm nhạc thông qua các hoạt động hát, đọc nhạc, chơi nhạc cụ, đánh nhịp, vận động,... với nhiều hình thức và phong cách.

Cảm thụ âm nhạc: Biết thưởng thức và cảm nhận những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc, tế nhị và đẹp đẽ của âm nhạc, được thể hiện trong tác phẩm hoặc một bộ phận của tác phẩm. Biểu lộ thái độ và cảm xúc bằng ngôn ngữ nói và ngôn ngữ cơ thể.

Phân tích và đánh giá âm nhạc: Biết vận dụng kiến thức, kỹ năng, tư duy âm nhạc để phân tích và đánh giá về các phương tiện diễn cảm của âm nhạc và phong cách biểu diễn.

Sáng tạo và ứng dụng âm nhạc: Biết vận dụng kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm âm nhạc vào thực tiễn; ứng tác và biến tấu, đưa ra những ý tưởng hoặc sản phẩm âm nhạc hay, độc đáo. Hiểu và sử dụng âm nhạc trong các mối quan hệ với lịch sử, văn hóa và các loại hình nghệ thuật khác.

- Xin cảm ơn ông!

Lấy trẻ làm trung tâm thay đổi diện mạo giáo dục mầm non

 

24/11/2020 11647

Ngày 23/11, Bộ GDĐT tổ chức Hội thảo Tổng kết 05 năm triển khai thực hiện chuyên đề “Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm”. Thứ trưởng Ngô Thị Minh dự và phát biểu chỉ đạo.

Phát biểu tại hội thảo, Thứ trưởng Ngô Thị Minh cho biết: Thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện GDĐT, Bộ GDĐT đã ban hành Kế hoạch 56/KH-BGDĐT chỉ đạo 63 tỉnh, thành phố triển khai thực hiện chuyên đề “Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm” giai đoạn 2016 - 2020. Chuyên đề nhằm bảo đảm tất cả trẻ đều được tạo cơ hội học tập qua chơi và bằng nhiều cách khác nhau phù hợp với nhu cầu, hứng thú và khả năng của trẻ.

Trẻ “học bằng chơi, chơi mà học” 

Thứ trưởng đánh giá, trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm (LTLTT) không chỉ thực hiện ở những nơi có điều kiện tốt mà cả ở những nơi vật chất còn thiếu thốn. Kết quả sau 5 năm triển khai thực hiện chuyên đề đã góp phần tích cực làm thay đổi diện mạo các cơ sở giáo dục mầm non (GDMN). Đặc biệt, trẻ em được quan tâm đúng mức trong việc tạo cơ hội “học bằng chơi, chơi mà học”, để phát triển toàn diện theo quan điểm giáo dục LTLTT...

Thứ trưởng Ngô Thị Minh phát biểu tại Hội thảo

Trong quá trình thực hiện chuyền đề, các địa phương, các cơ sở GDMN gặp không ít khó khăn, có nhiều tấm gương sáng tạo, vượt khó thực hiện chuyên đề phù hợp với điều kiện của nhà trường, của địa phương.

Để triển khai chuyên đề trong giai đoạn tới, Thứ trưởng đề nghị hội thảo tập trung thảo luận về khó khăn trong triển khai thực hiện các tiêu chí của chuyên đề đối với các vùng, miền và điều kiện khác nhau, đồng thời chia sẻ những sáng kiến, kinh nghiệm bài học, đề xuất các giải pháp.

Thứ trưởng nhấn mạnh, trẻ phải phải được quan tâm, nuôi dạy khỏe mạnh, phát triển toàn diện, không béo phì, được sống trong môi trường an toàn không bạo lực, không bị mua bán, bắt cóc, không bị tai nạn thương tích; đặc biệt, trẻ phải được sống trong môi trường không bị ô nhiễm về nước sạch, vệ sinh...

Vụ trưởng Vụ Giáo dục mầm non Nguyễn Bá Minh thông tin thêm, chuyên đề “Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm” nhằm tạo ra 3 chuyển biến căn bản đối với GDMN: Xây dựng môi trường giáo dục học mà chơi; Tạo sự chuyển biến trong năng lực của giáo viên và cán bộ quản lý trong đổi mới giáo dục và chăm sóc trẻ; Tạo sự chuyển biến trong sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong việc tổ chức hoạt động giáo dục, chăm sóc trẻ em mầm non.

Đại diện Phòng GDĐT Chí Linh, Sở GDĐT Hải Dương chia sẻ, xác định đích đến của chuyên đề là trẻ, phòng chú trọng chỉ đạo các trường tăng cường tổ chức các hoạt động trải nghiệm cho trẻ trong trường mầm non. Trong quá trình trẻ hoạt động, không nặng về hình thức sản phẩm của trẻ đẹp hay xấu, mà cần quan tâm xem trẻ có được hoạt động nhiều không, trẻ có vui vẻ, thoải mái, tự tin và hứng thú tham gia không,…, từ đó, giúp trẻ có thêm kiến thức, kỹ năng.

Cô Vũ Ngọc Dự, Hiệu trưởng Trường mầm non chất lượng cao Mai Dịch, Q. Cầu Giấy, TP Hà Nội, đánh giá, chuyên đề đã thay đổi hẳn nhận thức của cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường về việc xây dựng một môi trường học an toàn, thân thiện, phù hợp với hứng thú, nhu cầu và khả năng của các bé.

Là phụ huynh, chị Nguyễn Thị Giang (Hà Nội) chia sẻ, nhờ học tập ở trường, con đã có nhiều tiến bộ, không chỉ được học tập, vui chơi trong lớp mà còn được vui chơi ở ngoài giờ học như khám phá thiên nhiên trường lớp. Khi về nhà, con tự giác ăn, ngủ, nhanh nhẹn hơn nhiều trong các hoạt động, giúp phụ huynh yên tâm.

Trên 60% cơ sở GDMN đạt mức độ 4 ở cả 5 nhóm tiêu chí

Sau 5 năm, toàn quốc có 18.970/31.375 cơ sở GDMN triển khai thực hiện chuyên đề. Báo cáo của các sở GDĐT cho thấy, ở cả 5 nhóm tiêu chí ban hành kèm theo Kế hoạch số 56/KH-BGDĐT, đều có trên 60% cơ sở GDMN đạt mức độ 4, tức là đạt từ 80 đến 100% nội dung trong tiêu chí.

Vụ trưởng Vụ GDMN Nguyễn Bá Minh phát biểu tại hội thảo

Cụ thể, 62,1% số cơ sở GDMN đạt mức độ 4 ở nhóm tiêu chí “Xây dựng môi trường vật chất, môi trường xã hội trong và ngoài lớp học”. Đến nay, gần 100% các trường MN đã xây dựng, công khai và thực hiện Bộ Quy tắc giao tiếp, ứng xử trong cơ sở GDMN. Giáo viên mầm non luôn ý thức và giữ vững là tấm gương cho trẻ trong việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ.

63,1% số cơ sở GDMN đạt mức độ 4 ở nhóm tiêu chí về “Xây dựng kế hoạch giáo dục”. 62,5% số cơ sở GDMN đạt mức độ 4 ở nhóm tiêu chí về “Đổi mới tổ chức các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ”.

Trong đó, tiêu chí đạt kết quả cao nhất là "Phối hợp các phương pháp hợp lý, tăng cường tính chủ động, tích cực hoạt động của trẻ, đảm bảo trẻ “học bằng chơi, chơi mà học” (67,7% số cơ sở GDMN được đánh giá đạt mức độ 4). Điều này cho thấy, giáo viên đã quan tâm sử dụng phương pháp thực hành, trải nghiệm cho trẻ mẫu giáo, phù hợp lứa tuổi, thời điểm, tăng cường tính chủ động, tích cực hoạt động của trẻ, đảm bảo trẻ “học bằng chơi, chơi mà học”.

Ở nhóm tiêu chí “Đánh giá sự phát triển của trẻ”, 60,5% số cơ sở GDMN đạt mức độ 4. Trong đó, tiêu chí đạt kết quả cao nhất là tôn trọng sự khác biệt của mỗi đứa trẻ về cách thức và tốc độ học tập và phát triển riêng, chú trọng và thúc đẩy tiềm năng của mỗi trẻ.

Có tới 68,6% số cơ sở GDMN được đánh giá đạt mức độ 4 ở nhóm tiêu chí “Công tác tuyên truyền, phối hợp, tạo sự thống nhất giữa cơ sở GDMN, gia đình và xã hội cùng quan tâm xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm”. Trong đó, 70,4% số cơ sở GDMN được đánh giá đạt mức độ 4 ở tiêu chí có mối quan hệ hợp tác, chia sẻ giữa giáo viên, cơ sở GDMN, cha mẹ trẻ và cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ.

Đến nay, 100% các lớp, các trường có góc tuyên truyền về mục tiêu, nội dung chuyên đề. 98% cha mẹ trẻ được tuyên truyền về nội dung xây dựng trường mầm non LTLTT. Các cơ sở GDMN tích cực tổ chức ngày hội, ngày lễ, hội thi, hoạt động trải nghiệm cho trẻ có sự tham gia của cha mẹ trẻ.

Nhân rộng các điển hình tốt 

Báo cáo của Vụ GDMN cho thấy, bên cạnh những kết quả đã đạt được, vẫn còn những hạn chế cần khắc phục liên quan đến công tác quản lý chỉ đạo; công tác kiểm tra, hỗ trợ của Bộ GDĐT, của các địa phương; thực hiện chuyên đề ở các điểm trường lẻ và cơ sở GDMN có điều kiện khó khăn; công tác bồi dưỡng, tập huấn cho đội ngũ, mức độ hiểu và vận dụng các tiêu chí… Những hạn chế này dẫn đến kết quả thực hiện một số nội dung của tiêu chí chuyên đề chưa đạt như mong đợi.

Thứ trưởng Ngô Thị Minh trao Bằng khen của Bộ trưởng Bộ GDĐT cho các tập thể, cá nhân triển khai hiệu quả chuyên đề “Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm”

Vì vậy, trong thời gian tới, cần thực hiện các giải pháp nhân rộng các điển hình tốt; triển khai thực hiện giai đoạn 2 Chuyên đề theo chỉ đạo và hướng dẫn của Bộ GDĐT. Rà soát, điều chỉnh bổ sung, cụ thể hóa các tiêu chí của chuyên đề phù hợp với địa phương để hướng dẫn quản lý, dạy học, nhằm nâng cao chất lượng phát triển toàn diện trẻ em mầm non.

Tiếp tục tham mưu tăng cường đầu tư các điều kiện để thực hiện chuyên đề; tăng cường bồi dưỡng năng lực đội ngũ. Đặc biệt, gắn kết, thống nhất giữa các tiêu chí vào các khâu trong thực hiện chương trình giáo dục nhà trường. Đẩy mạnh công tác truyền thông, công tác phối hợp cha mẹ trẻ em dưới nhiều hình thức; khuyến khích các cơ sở GDMN chủ động thực hiện phối hợp giữa cơ sở GDMN với gia đình và cộng đồng.

Theo Vụ trưởng Nguyễn Bá Minh, không có một mô hình duy nhất phù hợp với tất cả các trường mầm non trên toàn quốc, bởi mỗi vùng miền có những đặc thù riêng. Bộ GDĐT đã chỉ đạo các địa phương phải xây dựng được các mô hình điểm. Toàn quốc hiện có trên 3.000 trường mầm non điển hình cho các vùng miền để thực hiện chuyên đề này. Bộ GDĐT sẽ có đánh giá để nhân rộng trong thời gian tiếp theo.

Tiếp tục triển khai chuyên đề “Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm” trong giai đoạn tới cũng là kiến nghị của các nhà trường, giáo viên. Cô giáo Đỗ Thị Hòa, Trường Mầm non Núa Ngam, tỉnh Điện Biên, bày tỏ mong muốn tiếp tục được tạo điều kiện giao lưu, học hỏi nhiều hơn kinh nghiệm tổ chức hoạt động giáo dục, chăm sóc lấy trẻ làm trung tâm từ các trường bạn, tỉnh bạn.

Trung tâm Truyền thông Giáo dục 


Cơ sở đào tạo cùng các Sở GD&ĐT hiến kế khắc phục thiếu giáo viên mầm non

 

Chiều 19/4, tại Trường Cao đẳng sư phạm Trung ương diễn ra Tọa đàm “Đề xuất và triển khai mô hình đào tạo, bồi dưỡng khắc phục vấn đề thiếu giáo viên mầm non”. Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Ngô Thị Minh chủ trì.

Tham dự có đại diện các Bộ, ngành, các Sở GD&ĐT các vùng, miền trên cả nước, các cơ sở giáo dục mầm non (GDMN) và chuyên gia giáo dục mầm non.

Áp lực đáng lo về thiếu giáo viên

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Thứ trưởng Ngô Thị Minh đặc biệt nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của tọa đàm, góp ý kiến, đề xuất triển khai tháo gỡ việc thiếu GV Mầm non (GVMN) trên cả nước. Tình trạng thiếu GVMN là rất đáng lo lắng, GV phải làm việc trong điều kiện quá tải về thời gian, cơ sở vật chất và áp lực chăm sóc trẻ ngoài giờ.


Thứ trưởng Ngô Thị Minh phát biểu chỉ đạo tại Tọa đàm

Thứ trưởng đưa ra thực tế đi khảo sát tại tỉnh Điện Biên mới đây, bức tranh GDMN ở vùng sâu, vùng dân tộc thật đáng lo ngại. Áp lực đối với GVMN là rất lớn, nếu chúng ta không có bài giải, mất an toàn cho trẻ là điều khó tránh khỏi.

Tọa đàm là cơ hội để các cơ quan quản lý hoạch định chính sách; các nhà nghiên cứu chia sẻ kinh nghiệm đối việc đào tạo, bồi dưỡng, khắc phục vấn đề thiếu GVMN.

Thứ trưởng đề nghị thảo luận và đóng góp ý kiến sâu sắc, thiết thực, tập trung vào các vấn đề chính sau:

Các mô hình đào tạo GVMN liên thông từ trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học; Đào tạo văn bằng 2 ngành giáo dục mầm non; Bồi dưỡng nghiệp vụ; đào tạo giáo viên mầm non đạt chuẩn trong giai đoạn hiện nay; Cơ chế, chính sách quy định về đào tạo, bồi dưỡng giáo viên mầm non; Những khó khăn, bất cập trong đào tạo giáo viên mầm non cùng với đề xuất giải pháp.

Thứ trưởng cũng yều cầu các Sở GD&ĐT cần có trách nhiệm cao trong việc: đưa ra giải pháp bồi dưỡng GV đang dạy ở cơ sở MN tư thục, tốt nghiệp các ngành đào tạo khác (không thuộc chuyên ngành GDMN); thực hiện công tác bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo ở các cơ sở GDMN, có bất cập gì, bồi dưỡng đạt chuẩn…; đặc biệt đối với nhóm lớp độc lập tư thục và việc thực hiện chế độ chính sách bồi dưỡng cho GV theo nghị định số 105/2020/NĐ-CP - nảy sinh những thuận lợi và khó khăn thế nào, đề xuất tháo gỡ; triển khai Đề án đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý GDMN giai đoạn 2018-2025, bồi dưỡng GV đạt chuẩn đào tạo theo quy định tại Luật GD sửa đổi 2019...

Phân tích và đề xuất giải pháp tháo gỡ

Tham luận của đại diện các Sở GD&ĐT đã làm rõ nhiều nội dung và đề xuất, kiến nghị quan trọng. Đại diện Trường Cao đằng sư phạm Trung ương đưa ra mô hình đào tạo GVMN liên thông từ trình độ trung cấp lên trình độ cao đẳng; Văn bằng 2 ngành giáo dục mầm non trình độ cao đẳng; Bồi dưỡng nghiệp vụ GVMN.


Quang cảnh Tọa đàm

Trường ĐH Sư phạm Hà Nội, Trường ĐH Sư phạm - Đại học Huế, chia sẻ mô hình đào tạo liên thông từ trình độ cao đẳng lên trình độ đại học trong đào tạo giáo viên mầm non.

Trường CĐSP TW Nha Trang nêu những khó khăn trong đào tạo GVMN từ trình độ trung cấp lên trình độ cao đẳng và đề xuất giải pháp tháo gỡ.

Trường CĐSP Hòa Bình đã phân tích cơ chế, chính sách quy định về đào tạo, bồi dưỡng giáo viên mầm non từ trình độ trung cấp lên trình độ cao đẳng của tỉnh Hòa Bình.

Từ thực tế địa phương, các tham luận đã chỉ rõ những khó khăn và đề xuất giải pháp tháo gỡ ở những tỉnh miền núi có đông người dân tộc thiểu số và đa dạng các loại hình trường lớp. Đại diện Sở GD&ĐT Nghệ An, có ý kiến về công tác bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo ở các cơ sở GD công lập, tư thục, dân lập; đặc biệt đối với GV tại các nhóm lớp độc lập tư thục và việc thực hiện chế độ chính sách bồi dưỡng cho GV theo nghị định số 105/2020/NĐ-CP. 7.

Đại diện Sở GD&ĐT Yên Bái chia sẻ thực tế sử dụng GV, cán bộ quản lý trong các cơ sở GDMN chưa đáp ứng trình độ chuẩn được đào tạo.

Ở những địa phương thuận lợi về kinh tế - xã hội cũng không phải không gặp khó khăn. Sở GD&ĐT Bắc Ninh đề xuất giải pháp bồi dưỡng GV đang dạy ở cơ sở MN tư thục, tốt nghiệp các ngành đào tạo khác;

Hải Phòng đưa ra thực tế triển khai Đề án đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý GDMN giai đoạn 2018-2025, bồi dưỡng giáo viên đạt chuẩn đào tạo theo quy định tại Luật Giáo dục sửa đổi 2019. 

Với tinh thần trách nhiệm cao, các tham luận đã thẳng thắn chỉ ra những khó khăn khách quan cũng như thuận lợi, đi thẳng vào vấn đề. Đồng thời đưa ra những điểm băn khoăn, để khắc phục vấn đề thiếu GVMN trong thời gian tới.

(Theo Giáo dục & Thời đại)


Giáo dục mầm non năm học mới: Phấn đấu ba chữ “Yên”

 

18/08/2021 2723

Ngày 18/8, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) tổ chức Hội nghị trực tuyến tổng kết năm học 2020-2021, triển khai phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm năm học 2021-2022 đối với giáo dục mầm non (GDMN). Phát biểu tại Hội nghị, Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn nhấn mạnh: “Với bậc học mầm non, phải phấn đấu trẻ em tới lớp được yên vui, thầy cô công tác được yên tâm, cha mẹ gửi con được yên lòng”.

Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn và Thứ trưởng Ngô Thị Minh chủ trì hội nghị

Trên 5 triệu trẻ em được giáo dục, chăm sóc an toàn

Phát biểu khai mạc hội nghị, Thứ trưởng Ngô Thị Minh điểm qua bối cảnh năm học vừa qua và cho rằng, các tỉnh, thành phố đã có rất nhiều biện pháp chỉ đạo thực hiện chương trình GDMN sau sửa đổi, chủ động triển khai chương trình phù hợp khả năng của trẻ và thực tế địa phương. Chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục từng bước nâng lên và đạt hiệu quả nhất định.

Theo báo cáo tổng kết do Vụ trưởng Vụ GDMN Nguyễn Bá Minh trình bày, trong bối cảnh đặc biệt của dịch bệnh với nhiều khó khăn, bậc GDMN thực hiện nhiệm vụ năm học 2020-2021 đạt nhiều kết quả tốt.

Trên 5 triệu trẻ em tại cơ sở GDMN được đảm bảo an toàn, chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ được nâng cao, trẻ em mẫu giáo 5 tuổi được chuẩn bị các điều kiện sẵn sàng vào lớp 1 bằng nhiều giải pháp cụ thể, thiết thực; chế độ, chính sách cho trẻ em được thực hiện đầy đủ, kịp thời.

Công tác quy hoạch, sắp xếp, phát triển mạng lưới trường lớp được thực hiện hiệu quả, phù hợp với điều kiện của địa phương. Năm học 2020-2021, toàn quốc có 15.480 nhà trẻ, trường mẫu giáo, trường mầm non, 21.236 điểm trường lẻ. So với năm học trước tăng 19 trường, giảm 2.724 điểm trường lẻ.

Toàn quốc huy động 5.357.046 trẻ em mầm non đến cơ sở GDMN, tăng 50.725 trẻ so với năm học trước. Cuối năm học 2020-2021, tỉ lệ trẻ em được học 2 buổi/ngày đạt 99,2% (tăng 0,2%), tỉ lệ trẻ em mầm non được tổ chức ăn bán trú đạt 93,3% (tăng 0,3%). Đáng chú ý, tỉ lệ trẻ em ngoài công lập đạt 23,2%, tăng 1,1% so với năm học trước.

Vụ trưởng Vụ GDMN Nguyễn Bá Minh báo cáo tại hội nghị

Đội ngũ giáo viên được nhiều tỉnh/thành phố quan tâm tuyển dụng bổ sung, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để đáp ứng chương trình GDMN. Hiện tổng số đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên có 529.531 người. Bình quân 1,84 GV/lớp (tăng 0,02). Tỉ lệ giáo viên mầm non đạt trình độ chuẩn đào tạo trở lên theo Luật Giáo dục 2019 đạt 78,9% (tăng 5,2%).

Bên cạnh những kết quả đạt được, GDMN trong năm học qua gặp nhiều khó khăn, do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19. Trẻ em mầm non phải ở nhà trong thời gian dài, ảnh hưởng đến nền nếp, thói quen thực hiện chế độ sinh hoạt. Chuyển đổi phương pháp giáo dục trong thời điểm dịch còn hạn chế. Cơ sở giáo dục ngoài công lập gặp nhiều khó khăn, nguy cơ giáo viên mầm non chuyển đổi nghề nghiệp, bỏ việc, nhiều đơn vị phải dừng hoạt động và có nguy cơ giải thể.

Quyết tâm đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ 

Năm học 2021-2022, GDMN tập trung đảm bảo an toàn tuyệt đối về thể chất và tinh thần cho trẻ em, tổ chức nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ đáp ứng yêu cầu của chương trình GDMN trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp.

Trong bối cảnh dịch bệnh, Vụ trưởng Nguyễn Bá Minh lưu ý, cơ sở GDMN không tổ chức dạy học trực tuyến cho trẻ mầm non, mà tập trung phối hợp với phụ huynh để hướng dẫn trẻ tại nhà. Tranh thủ thời gian vàng trẻ đến trường để ưu tiên hướng dẫn kỹ năng, điều kiện cho trẻ 5 tuổi sẵn sàng vào lớp 1.

Các địa phương cũng khẩn trương rà soát, thống kê thiệt hại của các cơ sở GDMN trên địa bàn bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Tham mưu cho chính quyền các cấp có giải pháp hỗ trợ khắc phục khó khăn để duy trì hoạt động của các cơ sở, hỗ trợ giáo viên bị ảnh hưởng, tránh tình trạng giáo viên nghỉ việc, cơ sở GDMN giải thể, bởi đây là nguy cơ rất lớn đối với GDMN.

Thứ trưởng Ngô Thị Minh phát biểu tại hội nghị

Thảo luận tại hội nghị, ông Đỗ Duy Hưng, Giám đốc Sở GDĐT tỉnh Hải Dương cho biết, năm học 2020-2021 là năm học thứ 2 liên tiếp, tỉnh chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid-19. Nhiều trường mầm non trở thành tâm dịch với số lượng cán bộ giáo viên thuộc diện F1, F2 lớn. Trong năm học, trẻ mầm non Hải Dương phải 3 lần dừng học để thực hiện giãn cách, phòng chống dịch. Trước thách thức lớn đó, ngành Giáo dục Hải Dương đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, hoàn thành nhiệm vụ năm học 2020-2021 và đảm bảo tuyệt đối an toàn cho trẻ mầm non, không để xảy ra tình trạng lây lan dịch bệnh trong nhà trường.

Cũng là địa phương gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh, ông Lê Hoài Nam, PGĐ Sở GDĐT TP HCM cho biết, thời gian qua, nhiều trường học tại thành phố được dùng làm điểm cách ly, nhiều trường học, nhóm trẻ ngoài công lập đã giải thể; nhiều giáo viên, cán bộ quản lý là F0, tuy nhiên, thành phố đã nỗ lực để hoàn thành năm học. Bên cạnh đó, thực hiện tốt chế độ chính sách cho giáo viên mầm non, nhất là giáo viên chịu ảnh hưởng của Covid-19.

Đại diện Sở GDĐT Lào Cai nhấn mạnh, tỉnh huy động toàn hệ thống chính trị và các lực lượng để có thể đạt tỷ lệ huy động trẻ tới trường và coi đây là cơ sở quan trọng để duy trì và phát triển chất lượng GDMN bền vững. Sở GDĐT đã tham mưu đưa mục tiêu Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 4 tuổi vào Chương trình hành động của Tỉnh ủy, tạo điều kiện tiếp tục đầu tư các nguồn lực cho GDMN và nâng cao tỷ lệ trẻ em của tỉnh được tiếp cận giáo dục.

Ba chữ “Yên” - thước đo thành công của bậc học mầm non

Phát biểu chỉ đạo, Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn đánh giá, năm học 2020-2021, GDMN chịu nhiều ảnh hưởng, nhiều khó khăn, thách thức trước đại dịch Covid-19. Tuy nhiên, các địa phương, các cơ sở GDMN đã hết sức cố gắng, vượt khó, thể hiện trách nhiệm, năng động, sáng tạo, hoàn thành mục tiêu cơ bản của năm học, tỷ lệ huy động trẻ đến trường cao, đặc biệt là với mẫu giáo 5 tuổi.

Nhận định về năm học mới 2021-2022, Bộ trưởng cho rằng, đây là năm toàn ngành tiếp tục thực hiện mục tiêu phát triển và đổi mới; đồng thời cũng là năm triển khai các hoạt động giáo dục an toàn, đảm bảo mục tiêu chất lượng trong điều kiện dịch bệnh còn tiếp tục ảnh hưởng lâu dài.

Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn phát biểu chỉ đạo tại hội nghị

Với bậc học mầm non, theo Bộ trưởng có 4 quan điểm cần thống nhất. Trước hết, toàn xã hội, toàn ngành cần quan tâm hơn nữa, quan tâm một cách chính đáng, hiệu quả, thiết thực tới bậc học này. “Những gì tốt đẹp nhất phải dành cho trẻ em, sự đổi mới của giáo dục cần phải từ bậc học nền tảng, bậc mầm non”, Bộ trưởng nhấn mạnh.

Cũng theo Bộ trưởng, chúng ta đang nhấn mạnh, đề cao phương diện giáo dục con người, nhân cách, đạo đức, phẩm chất; mà nhân cách, đạo đức, tình cảm của con người được hình thành quan trọng ở cấp mầm non và những năm đầu tiểu học. Chính vì vậy, chăm lo tới giáo dục mầm non chính là quan tâm phát triển toàn diện trẻ em, coi trọng yếu tố nhân cách và con người.

Là bậc học có nhiều đặc điểm riêng về chăm sóc và nuôi dạy, theo đó, Bộ trưởng cho rằng, cần tăng cường thêm các biện pháp, chính sách sao cho phù hợp. Trong điều kiện thực tế của năm học chịu ảnh hưởng của dịch bệnh, cần xem xét việc dạy học ở bậc mầm non sao cho linh hoạt, phù hợp. Với những nơi trẻ em không thể đến lớp, cần phối hợp với gia đình để có biện pháp hỗ trợ.

Về việc này, Bộ trưởng giao Vụ Giáo dục Mầm non tập hợp các video bài giảng, kho học liệu mở trong nước và thế giới; xây dựng, biên soạn nguồn học liệu mới. “Đây là việc cấp bách, bình thường đã cần nhưng trong năm học mới càng cần hơn, để trong trường hợp các cháu không đến trường, phụ huynh vẫn có nguồn học liệu để hỗ trợ các cháu tại nhà”, Bộ trưởng chỉ đạo.

Trước một năm học khó khăn, Bộ trưởng lưu ý, cần nhận thức đầy đủ thách thức đặt ra, từ đó linh hoạt đề ra giải pháp, trong đó vai trò chủ động của địa phương là rất quan trọng. Cụ thể, các địa phương cần ưu tiên ngân sách cho kiên cố hóa trường học, chủ động có giải pháp khắc phục về thiếu hụt giáo viên, tập trung nguồn lực triển khai chương trình giáo dục mầm non mới và một số chính sách khác đối với bậc học mầm non.

Bộ trưởng bày tỏ sự chia sẻ và cảm thông với đội ngũ giáo viên mầm non, bởi đặc thù công việc nặng nhọc, thời gian làm việc dài, áp lực lớn, yêu cầu cao, trong khi thu nhập lại thấp. Theo Bộ trưởng, phải bằng nhiều cách thức để tháo gỡ việc này, làm sao tăng thu nhập thực tế để giáo viên gắn bó, yên tâm với công việc. Ngoài ra, cần tăng hệ thống các trường tư thục, với yêu cầu giáo viên hệ thống trường tư cũng phải có quyền lợi để đảm bảo tốt công việc.

Một nội dung cũng được Bộ trưởng nhấn mạnh là phải quan tâm đến các nhóm trẻ, vì đây là nơi giải quyết được nhu cầu lớn về giữ trẻ song lại tiềm ẩn nguy cơ về mất an toàn. Cần tiếp tục ban hành chính sách, các địa phương cần tăng cường kiểm tra, giám sát thường xuyên về cấp phép hoạt động với các cơ sở này. Bạo hành trẻ, theo Bộ trưởng đã có bước cải thiện nhưng trong năm vẫn xảy ra ở một số nơi, do đó vấn đề này rất cần được quan tâm trong thời gian tới.

“Phấn đấu làm sao để trẻ em đến lớp được yên vui, thầy cô công tác được yên tâm, cha mẹ gửi con được yên lòng. Ba chữ “yên” đó là thước đo sự thành công của chúng ta cho triển khai ở bậc học này. Tinh thần là dành tất cả những gì tốt đẹp nhất cho trẻ em”, Bộ trưởng nhấn mạnh.

Trung tâm Truyền thông Giáo dục

Thứ Sáu, 20 tháng 8, 2021

Thiếu giáo viên dạy theo chương trình mới

 

Để dạy lớp 1, 2 học hai buổi mỗi ngày, Hải Phòng thiếu khoảng 600 giáo viên; nếu thực hiện với cả lớp 3, 4, 5, số còn thiếu là 1.570.

Ông Vũ Văn Trà, Phó giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Hải Phòng, cho biết thông tin trên trong hội nghị trực tuyến tổng kết một năm thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông do Bộ Giáo dục và Đào tạo và Ủy ban Văn hóa Giáo dục của Quốc hội tổ chức ngày 20/8.

Theo ông Trà, ở một số môn học, đặc biệt là cấp tiểu học, dù có muốn tuyển giáo viên, thành phố cũng không có nguồn. Ông đề xuất Bộ chỉ đạo các cơ sở đào tạo giáo viên có chiến lược để cung cấp nhân lực đang "khan hiếm", sẵn sàng nguồn tuyển khi Bộ Nội vụ, Sở Nội vụ giao chỉ tiêu cho ngành.

Cô Đỗ Thị Trang, trường Tiểu học Danh Thắng (huyện Hiệp Hòa, Bắc Giang) trong tiết dạy Toán cho học sinh lớp 1 hôm 19/1. Ảnh: Dương Tâm

Cô Đỗ Thị Trang, trường Tiểu học Danh Thắng (huyện Hiệp Hòa, Bắc Giang) trong tiết dạy Toán cho học sinh lớp 1 hôm 19/1. Ảnh: Dương Tâm

Khẳng định năm học vừa qua đã ưu tiên chọn giáo viên có chuyên môn, nghiệp vụ tốt để dạy học lớp 1, đảm bảo đủ số lượng dạy hai buổi mỗi ngày, tuy nhiên Phó chủ tịch UBND tỉnh Bắc Kạn Phạm Duy Hưng cũng chia sẻ khó khăn về thiếu giáo viên tại địa phương.

Hiện nay, việc giao biên chế giáo viên được tính toán theo định mức học sinh mỗi lớp. Tuy nhiên, Bắc Kạn với đặc thù tỉnh miền núi diện tích rộng, dân cư thưa, có nhiều điểm trường, số học sinh mỗi lớp không đảm bảo theo định mức. Số lớp tăng lên nhưng chỉ tiêu biên chế giáo viên lại không đáp ứng yêu cầu.

Phó chủ tịch UBND tỉnh Bắc Kạn kiến nghị Bộ có ý kiến với Bộ Nội vụ, Ủy ban Văn hóa Giáo dục đề nghị Chính phủ xem xét việc giao biên chế giáo viên cho các tỉnh căn cứ vào số lớp trên thực tế. Ngoài ra, việc chuẩn bị cơ sở vật chất, thiết bị dạy học để thực hiện chương trình mới cũng gặp khó khăn. Nhiều trường thiếu phòng học bộ môn, thiếu nơi ăn, chỗ nghỉ để học sinh ở bán trú, nội trú.

Khó khăn về kinh phí cho triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới cũng là vấn đề được nhiều địa phương nêu ra. Hiện, Bộ Tài chính chưa có hướng dẫn nguồn kinh phí riêng cho thực hiện đổi mới chương trình mà sử dụng chung nguồn kinh phí địa phương. Trong khi đó, địa phương lại thực hiện nhiều nội dung chi và ưu tiên các nhiệm vụ chính trị khác như phòng chống Covid-19, xây dựng nông thôn mới, xóa đói giảm nghèo.

Lắng nghe ý kiến từ các địa phương, Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn khẳng định Bộ sẽ tiếp thu đầy đủ để có kế hoạch tháo gỡ. Ông bày tỏ mong muốn Ủy ban Văn hóa Giáo dục cùng quan tâm, có tiếng nói ủng hộ trong việc tháo gỡ các vướng mắc của địa phương.

Riêng về đội ngũ giáo viên, Bộ trưởng cho biết sẽ có kế hoạch làm việc với hệ thống trường đại học sư phạm để trao đổi về nội dung tập huấn, bồi dưỡng giáo viên, cũng như phát triển ngành nghề đào tạo thuộc nhóm sư phạm để bảo đảm cung cấp đủ, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông những năm tiếp theo.

Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn phát biểu tại hội nghị ngày 20/8. Ảnh: MOET

Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn phát biểu tại hội nghị ngày 20/8. Ảnh: MOET

Trong năm đầu thực hiện chương trình và sách giáo khoa mới đối với lớp 1, Bộ Giáo dục và Đào tạo đánh giá các nhà trường đã đổi mới quản trị theo hướng phát huy tính chủ động, linh hoạt và năng lực tự chủ, sáng tạo của tổ chuyên môn, giáo viên. Thầy cô cơ bản đã biết vận dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học nhằm phát triển năng lực, phẩm chất học sinh. Việc sử dụng sách giáo khoa và các nguồn học liệu, thiết bị dạy học phù hợp thực tiễn.

Điều này phần nào được phản ánh qua kết quả học tập của học sinh lớp 1 với 100% hoàn thành chương trình đúng kế hoạch. Các em có một số năng lực nổi trội hơn so với các khóa học trước. Tỷ lệ học sinh lớp 1 cả nước hoàn thành tốt chương trình môn Tiếng Việt và Toán lớp 1 năm học 2020-2021 đều cao hơn năm học 2019-2020.

"Vạn sự khởi đầu nan nên chặng đường đầu tiên với lớp 1 bao giờ cũng có nhiều thách thức. Nhưng với sự quyết tâm, nỗ lực chung, chúng ta đã bước đầu vượt qua", Bộ trưởng nhìn nhận.

Nhận định năm học 2021-2022 vừa thực hiện mục tiêu đổi mới, cũng là năm học đầy thách thức do dịch bệnh, Bộ trưởng Nguyễn Kim Sơn mong muốn lãnh đạo các địa phương, cơ sở giáo dục, thầy cô, cán bộ quản lý "quyết tâm hơn nữa, năng động và sáng tạo hơn nữa" để vượt qua khó khăn.


 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Blogger Templates