SƯU TẬP NHỮNG KIẾN THỨC CẦN THIẾT CHO GIÁO VIÊN ÂM NHẠC VIỆT NAM THỜI 4.0

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

Thứ Năm, 9 tháng 4, 2026

Thông tư BAN HÀNH QUY ĐỊNH PHÒNG HỌC BỘ MÔN CỦA CƠ SỞ GIÁO DỤC PHỔ THÔNG

 


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc 
---------------

Số: 14/2020/TT-BGDĐT

Hà Nội, ngày 26 tháng 05 năm 2020

 

THÔNG TƯ

BAN HÀNH QUY ĐỊNH PHÒNG HỌC BỘ MÔN CỦA CƠ SỞ GIÁO DỤC PHỔ THÔNG

Căn cứ Nghị định số 69/2017/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo;

Căn cứ Nghị định số 127/2018/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2018 của Chính phủ quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục;

Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Cơ sở vật chất;

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư ban hành Quy định phòng học bộ môn của cơ sở giáo dục phổ thông.

Điều 1. Ban hành kèm theo Thông tư này Quy định phòng học bộ môn của cơ sở giáo dục phổ thông.

Điều 2. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 11 tháng 7 năm 2020.

Thông tư này thay thế Quyết định số 37/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16 tháng 7 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về phòng học bộ môn.

Điều 3. Chánh Văn phòng, Cục trưởng Cục Cơ sở vật chất, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo; Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Giám đốc sở giáo dục và đào tạo; Thủ trưởng các cơ sở giáo dục phổ thông và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này./.

 


Nơi nhận:
- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Văn phòng Quốc hội;
- Văn phòng Chính phủ;
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ thuộc Chính phủ;
- Ủy ban Quốc gia đổi mới GDĐT;
- Cục KTVBQPPL (Bộ Tư pháp);
- Bộ trưởng (để báo cáo);
- Như Điều 3;
- Công báo;
- Cổng TTĐT Chính phủ;
- Cổng TTĐT Bộ GDĐT;
- Lưu: VT, Vụ PC, Cục CSVC.

KT. BỘ TRƯỞNG
THỨ TRƯỞNG




Phạm Ngọc Thưởng

 

QUY ĐỊNH

PHÒNG HỌC BỘ MÔN CỦA CƠ SỞ GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
(Ban hành kèm theo Thông tư số 14/2020/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 5 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng

1. Văn bản này quy định về phòng học bộ môn của cơ sở giáo dục phổ thông, bao gồm: Phòng học bộ môn; thiết bị phòng học bộ môn; yêu cầu kỹ thuật phòng học bộ môn; quản lý và sử dụng phòng học bộ môn.

2. Văn bản này áp dụng đối với trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông, trường phổ thông có nhiều cấp học (sau đây gọi chung là cơ sở giáo dục phổ thông) thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và các tổ chức, cá nhân có liên quan.

Điều 2. Giải thích từ ngữ

Trong quy định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. Phòng học bộ môn là phòng học đặc thù được trang bị, lắp đặt các thiết bị dạy học chuyên dùng để tổ chức dạy học một hoặc một số môn học theo yêu cầu chương trình giáo dục.

2. Phòng chuẩn bị là phòng để cất giữ, bảo quản và chuẩn bị thiết bị dạy học cho các môn học có tổ chức dạy học tại phòng học bộ môn.

3. Phòng thiết bị giáo dục là phòng để cất giữ, bảo quản, chuẩn bị thiết bị dạy học cho các môn học không có phòng học bộ môn và các thiết bị phục vụ hoạt động giáo dục khác.

4. Phòng đa chức năng là phòng học bộ môn được lắp đặt các thiết bị tin học, âm thanh, trình chiếu và các thiết bị khác để sử dụng chung cho nhiều môn học và các hoạt động giáo dục khác.

5. Diện tích làm việc tối thiểu là diện tích bên trong phòng, không kể diện tích hành lang, lối vào và diện tích bị chiếm bởi kết cấu tường, vách, cột trên mặt bằng.

6. Thiết bị nội thất chuyên dùng là các thiết bị có cấu tạo và tính năng chuyên biệt đáp ứng yêu cầu thí nghiệm, thực hành phù hợp với yêu cầu của môn học.

Điều 3. Mục đích, yêu cầu

1. Thống nhất trên phạm vi toàn quốc về tiêu chuẩn cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của phòng học bộ môn đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

2. Làm căn cứ để cơ sở giáo dục phổ thông xây dựng định mức, dự toán khi lập dự án đầu tư xây mới hoặc cải tạo phòng học bộ môn đã có.

3. Làm căn cứ để kiểm định chất lượng, công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với cơ sở giáo dục phổ thông.

4. Đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông theo các giai đoạn giáo dục cơ bản và định hướng nghề nghiệp; hình thành, phát triển cho học sinh về phẩm chất, năng lực ở từng giai đoạn giáo dục và từng cấp học.

5. Đáp ứng yêu cầu thí nghiệm, thực hành của chương trình môn học. Nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học, kỹ năng thí nghiệm, thực hành của học sinh.

Chương II

QUY CÁCH PHÒNG HỌC BỘ MÔN

Điều 4. Phòng học bộ môn

1. Loại phòng học bộ môn

a) Trường tiểu học có các phòng học bộ môn: Khoa học - Công nghệ (sử dụng chung cho các môn học Tự nhiên và xã hội, Khoa học, Công nghệ), Tin học, Ngoại ngữ, Âm nhạc, Mĩ thuật, Đa chức năng;

b) Trường trung học cơ sở có các phòng học bộ môn: Khoa học tự nhiên, Công nghệ, Tin học, Ngoại ngữ, Âm nhạc, Mĩ thuật, Đa chức năng, Khoa học xã hội (sử dụng chung cho các môn học Giáo dục công dân, Lịch sử và Địa lí);

c) Trường trung học phổ thông có các phòng học bộ môn: Vật lí, Hóa học, Sinh học, Công nghệ, Tin học, Ngoại ngữ, Âm nhạc, Mĩ thuật, Đa chức năng, Khoa học xã hội (sử dụng chung cho các môn học Lịch sử, Địa lí, Giáo dục kinh tế và pháp luật);

d) Trường phổ thông có nhiều cấp học căn cứ các quy định tại điểm a, b và c, khoản 1 Điều này để xác định các phòng học bộ môn. Phòng học bộ môn của trường phổ thông có nhiều cấp học được bố trí riêng biệt cho các cấp học, ngoại trừ các phòng học bộ môn có thể sử dụng chung cho một số môn học bảo đảm đáp ứng yêu cầu về nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học.

2. Số lượng phòng học bộ môn của cơ sở giáo dục phổ thông được thực hiện theo quy định về tiêu chuẩn cơ sở vật chất của cơ sở giáo dục phổ thông do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

3. Tên phòng học bộ môn được đặt theo tên môn học hoặc theo công năng sử dụng. Cơ sở giáo dục phổ thông có nhiều phòng học bộ môn cùng môn học thì đánh thêm số thứ tự để phân biệt.

Điều 5. Quy cách phòng học bộ môn

1. Diện tích làm việc tối thiểu phòng học bộ môn được tính trên cơ sở diện tích làm việc tối thiểu cho một học sinh

a) Trường tiểu học

Đối với phòng học bộ môn Tin học, Ngoại ngữ, Đa chức năng diện tích làm việc tối thiểu cho một học sinh là 1,50m2 và mỗi phòng có diện tích không nhỏ hơn 50m2;

Đối với phòng học bộ môn Khoa học - Công nghệ, Âm nhạc, Mĩ thuật diện tích làm việc tối thiểu cho một học sinh là 1,85m2 và mỗi phòng có diện tích không nhỏ hơn 50m2.

b) Trường trung học cơ sở

Đối với phòng học bộ môn Khoa học tự nhiên, Tin học, Ngoại ngữ, Đa chức năng diện tích làm việc tối thiểu cho một học sinh là 1,85m2 và mỗi phòng có diện tích không nhỏ hơn 60m2;

Đối với phòng học bộ môn Công nghệ, Âm nhạc, Mĩ thuật diện tích làm việc tối thiểu cho một học sinh là 2,25m2 và mỗi phòng có diện tích không như hơn 60m2;

Phòng học bộ môn Khoa học xã hội (sử dụng chung cho các môn học Giáo dục công dân, Lịch sử và Địa lí), diện tích làm việc tối thiểu cho một học sinh là 1,50m2 và mỗi phòng có diện tích không nhỏ hơn 60m2.

c) Trường trung học phổ thông

Đối với phòng học bộ môn Vật lí, Hóa học, Sinh học, Tin học, Ngoại ngữ, Đa chức năng diện tích làm việc tối thiểu cho một học sinh là 2,00m2 và mỗi phòng có diện tích không nhỏ hơn 60m2;

Đối với phòng học bộ môn Công nghệ, Âm nhạc, Mĩ thuật diện tích làm việc tối thiểu cho một học sinh là 2,45m2 và mỗi phòng có diện tích không nhỏ hơn 60m2;

Phòng học bộ môn Khoa học xã hội (sử dụng chung cho các môn học Lịch sử, Địa lí, Giáo dục kinh tế và pháp luật), diện tích làm việc tối thiểu cho một học sinh là 1,50m2 và mỗi phòng có diện tích không nhỏ hơn 60m2.

d) Trường phổ thông có nhiều cấp học căn cứ các quy định tại điểm a, b và c, khoản 1 Điều này để xác định diện tích làm việc tối thiểu các phòng học bộ môn.

2. Kích thước phòng học bộ môn

a) Chiều rộng phòng học bộ môn (tính theo chiều vuông góc với hành lang tiếp giáp phòng học bộ môn): Đối với cấp tiểu học không nhỏ hơn 5,70m; đối với cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông không nhỏ hơn 7,20m;

b) Chiều dài phòng học bộ môn (tính theo chiều dọc hành lang tiếp giáp phòng học bộ môn) không lớn hơn 2 lần chiều rộng;

c) Chiều cao phòng học bộ môn (tính từ nền/sàn nhà tới trần nhà) từ 3,30m trở lên. Trong trường hợp sử dụng nền/sàn giả để bố trí ngầm hệ thống kĩ thuật, chiều cao phòng học bộ môn (tính từ nền/sàn nhà tới trần nhà) không nhỏ hơn 2,80m.

3. Phòng học bộ môn Khoa học tự nhiên, Công nghệ, Vật lí, Hoá học, Sinh học và một số môn học có nhiều thiết bị thực hành phải có phòng chuẩn bị. Phòng chuẩn bị được bố trí liền kề, có cửa liên thông với phòng học bộ môn có diện tích làm việc từ 12m2 đến 27m2.

Điều 6. Phòng thiết bị giáo dục

1. Cơ sở giáo dục phổ thông có tối thiểu 01 phòng thiết bị giáo dục để cất giữ, bảo quản và chuẩn bị thiết bị dạy học cho các môn học không có phòng học bộ môn.

2. Thiết bị dạy học trong phòng thiết bị giáo dục được bố trí, sắp xếp riêng biệt theo từng môn học, khối lớp.

3. Diện tích làm việc tối thiểu phòng thiết bị giáo dục không nhỏ hơn 48m2.

Chương III

THIẾT BỊ PHÒNG HỌC BỘ MÔN

Điều 7. Thiết bị dạy học trong phòng học bộ môn

1. Thiết bị dạy học trong phòng học bộ môn, bao gồm: Thiết bị có trong danh mục thiết bị dạy học theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và các thiết bị khác.

2. Yêu cầu thiết bị dạy học trong phòng học bộ môn

a) Được trang bị đầy đủ các thiết bị có trong danh mục thiết bị dạy học tương ứng với từng loại phòng học bộ môn theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo;

b) Khuyến khích trang bị các thiết bị khác nhằm đáp ứng yêu cầu đối mới phương pháp dạy học, ứng dụng các công nghệ mới, nâng cao kỹ năng thí nghiệm, thực hành của học sinh; hỗ trợ chuyên đề dạy học, nghiên cứu khoa học và định hướng giáo dục nghề nghiệp trong cơ sở giáo dục phổ thông;

c) Thiết bị dạy học trong phòng học bộ môn được bố trí, sắp xếp hợp lý, khoa học, phù hợp về yêu cầu kỹ thuật, công năng sử dụng, nội dung môn học nhằm bảo đảm thuận tiện khi sử dụng, bảo quản và không làm giảm tính năng của từng phòng học bộ môn;

d) Các loại hóa chất được bố trí, sắp xếp, bảo quản riêng biệt không gây ảnh hưởng, phá hủy các thiết bị dạy học khác.

Điều 8. Thiết bị nội thất chuyên dùng trong phòng học bộ môn

1. Thiết bị nội thất chuyên dùng, bao gồm:

a) Bàn, ghế, bảng viết, tủ, kệ, giá đỡ chuyên dùng;

b) Tủ sấy; tủ hút; hệ thống thoát khí thải, mùi và hơi độc;

c) Hệ thống chậu rửa, vòi nước chuyên dùng;

d) Hệ thống điện chuyên dùng;

đ) Tủ thuốc y tế;

e) Các thiết bị nội thất chuyên dùng khác.

2. Yêu cầu thiết bị nội thất chuyên dùng

a) Thiết bị nội thất chuyên dùng trong phòng học bộ môn được tính toán căn cứ theo số lượng học sinh và yêu cầu thí nghiệm, thực hành của chương trình môn học;

b) Phòng học bộ môn phải được thiết kế, trang bị nội thất đồng bộ, khoa học và thuận tiện khi sử dụng;

c) Bàn, ghế phòng học bộ môn được bố trí bảo đảm các quy định về góc nhìn bảng viết, khoảng cách giữa các dãy bàn, hàng bàn, bảng viết và các tường bao quanh bảo đảm tổ chức dạy học thí nghiệm, thực hành theo nhóm; Bàn, ghế phòng học bộ môn là loại chuyên dùng, có thể làm từ các vật liệu khác nhau đáp ứng yêu cầu đặc thù của môn học. Ngoài ra bàn, ghế phòng học bộ môn Khoa học - Công nghệ, Khoa học tự nhiên, Công nghệ, Vật lí, Hoá học, Sinh học có khả năng chống chịu nhiệt, hóa chất, cơ học, bảo đảm thuận lợi vệ sinh và bảo dưỡng;

d) Hệ thống tủ, kệ, giá đỡ chuyên dùng trong phòng học bộ môn, phòng chuẩn bị và phòng thiết bị giáo dục được bố trí, sắp xếp hợp lý để cất giữ, bảo quản thiết bị dạy học;

đ) Tủ thuốc y tế trong phòng học bộ môn được trang bị thuốc và dụng cụ y tế thiết yếu dùng để sơ cấp cứu khi xảy ra sự cố. Được treo cố định ở nơi hợp vệ sinh, dễ quan sát, dễ dàng tiếp cận và thuận tiện sử dụng;

e) Hệ thống rèm cửa phòng học bộ môn được bố trí để có thể che ánh sáng cục bộ hoặc toàn bộ phòng học.

Chương IV

YÊU CẦU KỸ THUẬT PHÒNG HỌC BỘ MÔN

Điều 9. Nền và sàn nhà phòng học bộ môn

Nền và sàn nhà phòng học bộ môn phải phù hợp với các quy định về tiêu chuẩn xây dựng hiện hành. Nền và sàn nhà phòng học bộ môn bảo đảm dễ làm vệ sinh, không trơn trượt, không có kẽ hở, không bị mài mòn, không bị biến dạng, chống được ẩm, tránh được hiện tượng nồm ướt và chịu được tác động của hoá chất.

Điều 10. Cửa ra vào và cửa sổ phòng học bộ môn

Cửa ra vào và cửa sổ phòng học bộ môn phải phù hợp với các quy định về tiêu chuẩn xây dựng hiện hành.

Điều 11. Hệ thống cấp thoát nước

1. Hệ thống cấp thoát nước trong phòng học bộ môn được bố trí riêng, đặt ngầm trong tường, nền nhà hoặc trong hộp kỹ thuật. Các van đặt trong hộp kỹ thuật phải có cửa kiểm tra để thuận tiện cho việc quản lý và sửa chữa.

2. Phòng học bộ môn Hóa học, Sinh học được bố trí hệ thống chậu rửa, vòi nước, đường cấp thoát nước gắn với bàn thí nghiệm, thực hành; Phòng học bộ môn Vật lí, Khoa học tự nhiên, Mĩ thuật được bố trí hệ thống chậu rửa, vòi nước ở vị trí phù hợp; Vật liệu, kích thước chiều rộng, chiều sâu của chậu rửa phải đáp ứng các yêu cầu đặc thù của môn học.

3. Các phòng học bộ môn khi hoạt động tạo ra chất thải độc hại ảnh hưởng đến môi trường phải có hệ thống xử lý chất thải.

Điều 12. Hệ thống chiếu sáng, cách âm, kỹ thuật điện

1. Chiếu sáng tự nhiên trong phòng học bộ môn phải tuân theo quy định về tiêu chuẩn chiếu sáng hiện hành. Các cửa phòng vừa phải đáp ứng yêu cầu chiếu sáng tự nhiên, thông gió thoáng khí cho phòng, vừa phải che chắn được gió lạnh, mưa hắt, nắng chiếu xuyên phòng, đồng thời bảo đảm thuận tiện, an toàn trong sử dụng, dễ làm sạch.

2. Chiếu sáng nhân tạo trong phòng học bộ môn

a) Hệ thống chiếu sáng nhân tạo trong phòng học bộ môn tuân thủ các yêu cầu quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chiếu sáng - Mức cho phép chiếu sáng nơi làm việc;

b) Áp dụng hệ thống chiếu sáng hỗn hợp trong phòng học bộ môn (chiếu sáng đồng đều và chiếu sáng cục bộ). Mật độ công suất chiếu sáng bảo đảm tương ứng với chức năng từng loại phòng học bộ môn theo quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chiếu sáng - Mức cho phép chiếu sáng nơi làm việc.

3. Phòng học bộ môn Âm nhạc được thiết kế cách âm để tránh tiếng ồn với khu vực xung quanh.

4. Các phòng học bộ môn được trang bị hệ thống điện xoay chiều 220V đáp ứng yêu cầu thí nghiệm, thực hành. Ngoài ra, các phòng học bộ môn: Khoa học tự nhiên, Công nghệ, Vật lí, Hóa học, Sinh học được trang bị hệ thống điện một chiều và xoay chiều với điện áp đầu ra điều chỉnh được từ 0-24V/2A. Ổ cắm điện trang bị trong phòng học bộ môn phải bảo đảm chống giật, chống nước.

Điều 13. Hệ thống thông gió, điều hòa không khí

1. Phòng học bộ môn được bố trí hệ thống thông gió tự nhiên và nhân tạo. Ngoài ra, phòng học bộ môn Khoa học tự nhiên, Vật lí, Hóa học, Sinh học được lắp đặt các thiết bị như tủ sấy; tủ hút; hệ thống thoát khí thải, mùi và hơi độc.

2. Căn cứ điều kiện của cơ sở giáo dục phổ thông để trang bị máy điều hòa không khí cho phòng học bộ môn.

Điều 14. Hệ thống phòng cháy và chữa cháy

Phòng học bộ môn phải bảo đảm điều kiện an toàn về phòng cháy và chữa cháy theo các tiêu chuẩn, quy chuẩn phòng cháy và chữa cháy hiện hành.

Chương V

QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG PHÒNG HỌC BỘ MÔN

Điều 15. Quản lý phòng học bộ môn

1. Hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ thông chịu trách nhiệm:

a) Ban hành các văn bản quy định về quản lý, khai thác, sử dụng, bảo quản, kế hoạch hoạt động của phòng học bộ môn và thiết bị dạy học;

b) Quy định về hệ thống hồ sơ, sổ sách và nội quy của phòng học bộ môn;

c) Xếp thời khóa biểu cho từng nội dung dạy học của từng môn học có sử dụng phòng học bộ môn hoặc có sử dụng thiết bị dạy học trong các giờ dạy trên lớp, bố trí đủ giáo viên bộ môn, nhân viên thiết bị, thí nghiệm phù hợp với thời khóa biểu đã xây dựng;

d) Định kỳ kiểm tra, thanh tra các hoạt động của phòng học bộ môn.

2. Tổ trưởng chuyên môn chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động và thời khóa biểu của phòng học bộ môn theo tuần, tháng, học kì, năm học; giám sát hoạt động của phòng học bộ môn theo quy định của cơ sở giáo dục phổ thông.

3. Nhân viên thiết bị, thí nghiệm chịu trách nhiệm về hoạt động của phòng học bộ môn theo phân công và các quy định tại Điều 17 của văn bản này.

4. Giáo viên bộ môn có trách nhiệm xây dựng nội dung các tiết học có thí nghiệm, thực hành hoặc có sử dụng thiết bị dạy học trên lớp theo yêu cầu của chương trình môn học; phối hợp với nhân viên thiết bị, thí nghiệm tổ chức thực hiện các thí nghiệm, thực hành trong phòng học bộ môn hoặc mượn thiết bị để tổ chức dạy học trên lớp.

Điều 16. Sử dụng phòng học bộ môn

1. Phòng học bộ môn được sử dụng để tổ chức dạy học các nội dung về thí nghiệm, thực hành theo yêu cầu của chương trình môn học.

2. Phòng học bộ môn được sử dụng để tổ chức các hoạt động giáo dục định hướng nghề nghiệp, nghiên cứu khoa học, thực hiện giáo dục STEM.

3. Phòng học bộ môn được sử dụng để lưu giữ, bảo quản các thiết bị dạy học của các môn học tương ứng với tính chất của loại phòng học bộ môn. Thiết bị dạy học trong phòng học bộ môn được kiểm tra, bảo dưỡng thường xuyên; sửa chữa, thay thế, bổ sung nếu hư hỏng. Hóa chất, vật liệu tiêu hao được bổ sung kịp thời để bảo đảm phục vụ tốt cho hoạt động dạy học; hóa chất hết hạn sử dụng được xử lý, tiêu hủy theo các quy định hiện hành. Hằng năm, thiết bị dạy học phòng học bộ môn được kiểm kê, thanh lý theo quy định của Nhà nước.

Điều 17. Nhiệm vụ của nhân viên thiết bị, thí nghiệm

1. Quản lý, bảo quản và sắp xếp khoa học các thiết bị trong phòng học bộ môn theo nhóm, chủng loại thiết bị và theo khối lớp.

2. Lập kế hoạch mua sắm bổ sung, sửa chữa những thiết bị đơn giản và thanh lý, tiêu hủy thiết bị, hóa chất hỏng, hết hạn sử dụng.

3. Chuẩn bị đủ các điều kiện và các thiết bị, thí nghiệm theo yêu cầu của từng môn học, bài học có sử dụng thiết bị để thực hành, thí nghiệm trong phòng học bộ môn hoặc trên lớp; phối hợp với giáo viên hướng dẫn học sinh thực hành, thí nghiệm; bảo đảm các điều kiện về an toàn, phòng chống cháy nổ trong quá trình thực hành, thí nghiệm.

4. Quản lý, lưu giữ và sử dụng hệ thống hồ sơ, sổ sách theo dõi việc quản lý, khai thác, sử dụng và bảo quản thiết bị dạy học của phòng học bộ môn; hướng dẫn giáo viên, học sinh thực hiện nội quy, quy trình sử dụng bảo đảm an toàn trong quá trình thực hành, thí nghiệm.

5. Lập báo cáo định kỳ, thường xuyên về công tác thiết bị dạy học.

6. Tham gia học tập, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ.

Chương VI

TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Điều 18. Trách nhiệm của sở giáo dục và đào tạo

1. Tham mưu Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lập dự án đầu tư xây mới hoặc cải tạo phòng học bộ môn của cơ sở giáo dục phổ thông thuộc phạm vi quản lý.

2. Chỉ đạo, kiểm tra, giám sát các phòng giáo dục và đào tạo, các cơ sở giáo dục phổ thông triển khai công tác tổ chức quản lý và sử dụng phòng học bộ môn theo quy định.

3. Hằng năm báo cáo tình hình đầu tư, quản lý và sử dụng các phòng học bộ môn với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Điều 19. Trách nhiệm của phòng giáo dục và đào tạo

1. Tham mưu Ủy ban nhân dân cấp huyện lập dự án đầu tư xây mới hoặc cải tạo phòng học bộ môn của cơ sở giáo dục phổ thông thuộc phạm vi quản lý.

2. Chỉ đạo, kiểm tra, giám sát các cơ sở giáo dục phổ thông triển khai công tác tổ chức quản lý và sử dụng phòng học bộ môn theo quy định.

3. Hằng năm báo cáo tình hình đầu tư, quản lý và sử dụng các phòng học bộ môn với Ủy ban nhân dân cấp huyện, sở giáo dục và đào tạo.

Điều 20. Trách nhiệm của cơ sở giáo dục phổ thông

1. Tham mưu cấp có thẩm quyền lập kế hoạch đầu tư xây mới hoặc cải tạo phòng học bộ môn đáp ứng yêu cầu theo quy định nhằm duy trì và nâng cao chất lượng giáo dục.

2. Tổ chức quản lý và sử dụng các phòng học bộ môn đúng quy định.

3. Hằng năm báo cáo tình hình đầu tư, quản lý và sử dụng các phòng học bộ môn với phòng giáo dục và đào tạo, sở giáo dục và đào tạo.

Điều 21. Quy định chuyển tiếp

1. Đối với các cơ sở giáo dục phổ thông có phòng học bộ môn đã được chứng nhận kiểm định chất lượng giáo dục, công nhận đạt chuẩn cơ sở vật chất trước ngày văn bản này có hiệu lực thì tiếp tục theo cấp độ, mức độ đã được công nhận; khi thực hiện công nhận lại hoặc công nhận cấp độ, mức độ cao hơn thực hiện theo quy định tại văn bản này.

2. Đối với dự án đầu tư xây dựng mới phòng học bộ môn đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt trước ngày văn bản này có hiệu lực thì tiếp tục thực hiện nếu đáp ứng các quy định tại văn bản này.

3. Đối với các dự án đầu tư xây dựng cải tạo phòng học bộ môn được chấp nhận khi bảo đảm diện tích không nhỏ hơn 12% diện tích phòng học bộ môn được quy định tại văn bản này.


Quy định về phòng học bộ môn của cơ sở giáo dục phổ thông, sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 14/2020/BGDĐT trước đây.

 


Từ 2/9/2025 áp dụng quy định mới về phòng học bộ môn của cơ sở giáo dục phổ thông 

22/07/2025 23:36
 Minh Ngọc
Theo dõi trênGoogle News

GDVN - Theo Thông tư số 14/2025/BGDĐT, số lượng phòng học bộ môn của cơ sở giáo dục phổ thông sẽ được căn cứ linh hoạt theo điều kiện thực tế.

Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 14/2025/BGDĐT Quy định về phòng học bộ môn của cơ sở giáo dục phổ thông, sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 14/2020/BGDĐT trước đây.

Cụ thể, Thông tư số 14/2025/BGDĐT bổ sung Khoản 3, Khoản 4, Điều 1, Thông tư số 14/2020/BGDĐT, mở rộng phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng là: Trường Phổ thông vùng cao Việt Bắc, Trường Hữu nghị 80, Trường Hữu nghị T78 được áp dụng Quy định này để thực hiện chương trình giáo dục phổ thông. Trường dự bị đại học được áp dụng Quy định này như trường trung học phổ thông để thực hiện chương trình bồi dưỡng dự bị đại học.

Về quy định loại phòng học bộ môn, Thông tư bãi bỏ cụm từ “Đa chức năng" tại toàn bộ Quy định, đồng thời bãi bỏ Khoản 4, Điều 2 giải thích về phòng đa chức năng.


gdvn-thitotnghiepthptnam2025.jpg
Ảnh minh họa: Việt Dũng

Thông tư bổ sung điểm đ, Khoản 1, Điều 4, xác định thêm phòng học bộ môn sử dụng chung cho một số môn học. Phòng học này sẽ thực hiện theo nguyên tắc bảo đảm đủ chức năng của các phòng học bộ môn, có chức năng tương đồng, đầy đủ thiết bị cho mỗi môn học, bảo đảm việc bố trí thời gian, không gian để thực hiện dạy học và tổ chức hoạt động giáo dục theo từng chức năng, bảo đảm kế hoạch và định mức giờ dạy trên quy mô học sinh đối với các môn học. Bảo đảm quy cách, phòng chuẩn bị, thiết bị nội thất chuyên dùng, yêu cầu kỹ thuật phòng học bộ môn của các môn học sử dụng chung.

Về số lượng phòng học, Thông tư sửa đổi Khoản 2 Điều 4 thể hiện tính linh hoạt. Cụ thể, số lượng phòng học bộ môn căn cứ quy mô số lớp và điều kiện thực tế của cơ sở giáo dục phổ thông, bảo đảm quy định về tiêu chuẩn cơ sở vật chất các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

Trước đó, theo quy định cũ, số lượng phòng học bộ môn của cơ sở giáo dục phổ thông được thực hiện theo quy định về tiêu chuẩn cơ sở vật chất của cơ sở giáo dục phổ thông do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

Về quy cách phòng học bộ môn của trường tiểu học, Thông tư sửa đổi điểm a, Khoản 1, Điều 5 hướng tới tăng diện tích phòng học một số bộ môn. Đối với phòng học bộ môn Tin học, Ngoại ngữ diện tích làm việc tối thiểu cho một học sinh là 1,50m² và mỗi phòng có diện tích không nhỏ hơn 50m².

Đối với phòng học bộ môn Khoa học - Công nghệ, Âm nhạc, Mĩ thuật, diện tích làm việc tối thiểu cho một học sinh là 1,85m² và mỗi phòng có diện tích không nhỏ hơn 60m² (tăng 10m² so với Thông tư cũ).

Ngoài ra, bổ sung điểm đ, Khoản 1, Điều 5, quy định diện tích làm việc tối thiểu của phòng học bộ môn sử dụng chung cho một số môn học sẽ xác định theo phòng học bộ môn có diện tích lớn nhất trong các môn học sử dụng chung.

Thông tư số 14/2025/BGDĐT có hiệu lực thi hành từ ngày 2/9/2025. Các dự án đầu tư xây dựng mới phòng học bộ môn đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt trước ngày thông tư này có hiệu lực thì tiếp tục thực hiện theo quy định cũ.

Minh Ngọc

Trường tiểu học có quy mô tối thiểu 10 lớp và tối đa 30 lớp




(Chinhphu.vn) – Đây là quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Thông tư 13/2020/TT-BGDĐT ban hành quy định tiêu chuẩn cơ sở vật chất các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học.

16/06/2020  17:22

Ảnh minh họa

Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết, tiêu chuẩn cơ sở vật chất của các cơ sở giáo dục tại Quy định này được sử dụng làm căn cứ để: Xác định tiêu chuẩn tối thiểu về cơ sở vật chất của các cơ sở giáo dục nhằm bảo đảm điều kiện thực hiện chương trình giáo dục; xác định mức độ đạt tiêu chuẩn về cơ sở vật chất để công nhận đạt kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia các cơ sở giáo dục.

Thông tư nêu rõ về tiêu chuẩn cơ sở vật chất trường Tiểu học. Theo đó, Trường tiểu học có quy mô tối thiểu 10 lớp và tối đa 30 lớp. Đối với trường tại các xã thuộc vùng khó khăn có quy mô tối thiểu 05 lớp.

Diện tích khu đất xây dựng trường, điểm trường được xác định trên cơ sở số lớp, số học sinh với bình quân tối thiểu 10m2 cho một học sinh; đối với các đô thị miền núi, khu vực trung tâm các đô thị có quỹ đất hạn chế cho phép bình quân tối thiểu 8m2 cho một học sinh. Đối với trường có tổ chức nội trú, diện tích khu đất cho các hạng mục công trình phục vụ nội trú bảo đảm 6m2 cho một học sinh nội trú.

Về phòng học: bảo đảm mỗi lớp có một phòng học riêng; có thể sử dụng làm nơi nghỉ trưa cho học sinh (nếu có); được trang bị đầy đủ: Bàn, ghế học sinh đúng quy cách và đủ chỗ ngồi cho học sinh; bàn, ghế giáo viên; bảng lớp; hệ thống đèn và hệ thống quạt; hệ thống tủ đựng hồ sơ, thiết bị dạy học.

Mỗi trường có tối thiểu 01 thư viện, mỗi điểm trường có tủ sách dùng chung; thư viện tối thiểu có các khu chức năng: kho sách, khu quản lý (nơi làm việc của nhân viên thư viện), khu đọc sách dành riêng cho giáo viên và học sinh…

Trường mầm non có quy mô tối thiểu 09 nhóm, lớp và tối đa 20 nhóm, lớp

Về tiêu chuẩn cơ sở vật chất của trường mầm non, Thông tư quy định: Trường mầm non có quy mô tối thiểu 09 nhóm, lớp và tối đa 20 nhóm, lớp. Đối với trường tại các xã thuộc vùng khó khăn có quy mô tối thiểu 05 nhóm, lớp.

Diện tích khu đất xây dựng trường, điểm trường được xác định trên cơ sở số nhóm, lớp, số trẻ em với bình quân tối thiểu 12m2 cho một trẻ em; đối với các đô thị miền núi, khu vực trung tâm các đô thị có quỹ đất hạn chế cho phép bình quân tối thiểu 10m2 cho một trẻ em.

Trường trung học cơ sở cần có quy mô tối thiểu 08 lớp và tối đa 45 lớp. Diện tích khu đất xây dựng trường, điểm trường được xác định trên cơ sở số lớp, số học sinh với bình quân tối thiểu 10m2 cho một học sinh; đối với các đô thị miền núi, khu vực trung tâm các đô thị có quỹ đất hạn chế cho phép bình quân tối thiểu 8m2 cho một học sinh. Đối với trường có tổ chức nội trú, diện tích khu đất cho các hạng mục công trình phục vụ nội trú bảo đảm 6m2 cho một học sinh nội trú…

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ 11/7/2020.


Đề nghị Sở Giáo dục và Đào tạo xem xét phê duyệt chủ trương triển khai tập huấn kỹ năng âm nhạc thực hành cho giáo viên mầm non thông qua mô hình BEE MUSIC PACKAGE


 Việc đổi mới giáo dục mầm non Việt Nam tập trung vào STEAM và Montessori nhằm xây dựng tư duy sáng tạo, kỹ năng giải quyết vấn đề và nền tảng công nghệ cho trẻ. Sự chuyển hướng này nhấn mạnh trải nghiệm và tự lập, thường được tích hợp vào các hoạt động học tập hiện đại. Kỹ năng âm nhạc vẫn quan trọng, nhưng đổi mới tập trung vào các phương pháp mới để nâng cao năng lực cạnh tranh và tư duy phản biện từ nhỏ. 

Trong tính hình thức tế như trên, xin viết giúp phần thuyết giai thích và thuyết phục bằng cơ sở khoa học để lãnh đạo giáo dục và lãnh đạo mầm non đồng ý chủ trương phải yêu cầu chú ý cộng tác tổ chức tập huấn kỹ năng âm nhạc thực hành cho giáo viên mầm non vì chính âm nhạc là phương tiện giúp tích hợp được STEAM và Montessory vào hoạt động giáo dục mầm non và làm tăng hấp dẫn, sinh động thu hút trẻ tham gia hoạt động giáo dục trong trường mầm non. 


Dưới đây là phần thuyết giải thích + lập luận khoa học (viết theo văn phong có thể đưa thẳng vào đề án trình Sở/UBND), tập trung “thuyết phục lãnh đạo”:



1. Cơ sở khoa học của việc tích hợp âm nhạc trong giáo dục mầm non hiện đại


Trong bối cảnh đổi mới giáo dục mầm non theo định hướng STEAM và Montessori, trọng tâm chuyển từ “truyền thụ kiến thức” sang “phát triển năng lực”, đặc biệt là:

Tư duy sáng tạo

Khả năng giải quyết vấn đề

Năng lực tự học và tự lập

Nền tảng cảm xúc – xã hội

Các nghiên cứu trong lĩnh vực Neuroscience và Early Childhood Education đã chỉ ra:

Âm nhạc kích hoạt đa vùng não (ngôn ngữ, vận động, cảm xúc, logic), giúp hình thành các kết nối thần kinh mạnh mẽ ở giai đoạn “cửa sổ vàng” (0–6 tuổi).

Hoạt động âm nhạc (hát, gõ, vận động theo nhịp) giúp phát triển đồng thời cả hai bán cầu não, tạo nền tảng cho tư duy tích hợp – cốt lõi của STEAM.

Trẻ tham gia hoạt động âm nhạc thường xuyên có khả năng tập trung, ghi nhớ và điều chỉnh hành vi tốt hơn.

Đặc biệt, theo lý thuyết của Howard Gardner, âm nhạc là một trong các loại hình trí thông minh cốt lõi (Musical Intelligence), có khả năng hỗ trợ phát triển các trí thông minh khác như ngôn ngữ, logic và vận động.

👉 Như vậy, âm nhạc không chỉ là “môn học phụ” mà là công cụ khoa học để phát triển não bộ và năng lực nền tảng cho trẻ.



2. Vai trò của âm nhạc trong tích hợp STEAM


STEAM không phải là dạy riêng lẻ từng lĩnh vực, mà là tích hợp liên ngành thông qua trải nghiệm. Âm nhạc chính là phương tiện tự nhiên để thực hiện điều này:

Science (Khoa học): Trẻ khám phá âm thanh, cao độ, rung động

Technology (Công nghệ): Sử dụng thiết bị số, app học nhạc, đàn điện tử

Engineering (Kỹ thuật): Lắp ráp, thử nghiệm nhạc cụ đơn giản

Arts (Nghệ thuật): Biểu đạt cảm xúc qua âm nhạc

Mathematics (Toán học): Nhịp điệu, phách, cấu trúc tiết tấu

👉 Âm nhạc là môi trường tích hợp STEAM hoàn chỉnh, nơi trẻ học bằng trải nghiệm thay vì lý thuyết.



3. Sự tương thích sâu sắc giữa âm nhạc và phương pháp Montessori


Phương pháp Montessori nhấn mạnh:

Trẻ học qua trải nghiệm cảm giác

Tăng cường tính tự lập và tự khám phá

Giáo viên đóng vai trò hướng dẫn, không áp đặt

Âm nhạc đáp ứng hoàn toàn các nguyên lý này:

Trẻ tự chơi – tự khám phá âm thanh trên nhạc cụ

Học thông qua lặp lại có chủ đích (repetition)

Phát triển kỷ luật nội tại qua việc giữ nhịp, chơi đúng

👉 Khi tích hợp âm nhạc, Montessori trở nên sinh động, dễ triển khai và phù hợp với trẻ Việt Nam hơn, đặc biệt trong môi trường lớp học đông.



4. Thực tiễn triển khai: điểm nghẽn hiện nay


Mặc dù định hướng đổi mới đã rõ, nhưng thực tế tại các cơ sở mầm non:

Giáo viên thiếu kỹ năng âm nhạc thực hành (đàn, đệm hát, tổ chức hoạt động nhạc)

Hoạt động âm nhạc còn mang tính hình thức, thiếu hấp dẫn

Chưa khai thác được vai trò của âm nhạc trong tích hợp STEAM và Montessory 

👉 Điều này dẫn đến nghịch lý:

Chủ trương hiện đại – nhưng công cụ triển khai lại thiếu thực tiễn



5. Luận điểm then chốt: Âm nhạc là “công cụ tích hợp” bắt buộc


Từ các cơ sở trên, có thể khẳng định:

Nếu không có năng lực tổ chức hoạt động âm nhạc thực hành, giáo viên mầm non khó có thể triển khai hiệu quả STEAM và Montessori trong thực tế lớp học.

Âm nhạc giúp:

“Kích hoạt lớp học” → tăng hứng thú và sự tham gia của trẻ

“Kết nối hoạt động” → tích hợp đa lĩnh vực tự nhiên

“Dẫn dắt trải nghiệm” → giúp trẻ học thông qua hành động

👉 Vì vậy, âm nhạc không phải nội dung bổ sung, mà là phương tiện cốt lõi để thực hiện đổi mới giáo dục mầm non.



6. Đề xuất chính sách (thuyết phục lãnh đạo)


Để đảm bảo triển khai hiệu quả chương trình đổi mới, cần:


Ban hành chủ trương:

Tổ chức tập huấn kỹ năng âm nhạc thực hành cho 100% giáo viên mầm non


Nội dung tập huấn:

Kỹ năng đàn (piano/organ) để đệm hát

Tổ chức hoạt động âm nhạc theo hướng STEAM & Montessori

Sử dụng công nghệ (app, thiết bị số) trong dạy học âm nhạc


Hiệu quả mang lại:

Nâng cao năng lực thực hành của giáo viên

Tăng chất lượng và sự hấp dẫn của hoạt động giáo dục

Góp phần thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện năng lực trẻ



7. Kết luận (câu “chốt” trình lãnh đạo)

Âm nhạc là cầu nối khoa học giữa phương pháp giáo dục hiện đại và thực tiễn lớp học mầm non.

Đầu tư vào đào tạo kỹ năng âm nhạc cho giáo viên chính là đầu tư vào năng lực triển khai đổi mới giáo dục một cách thực chất và bền vững.



Dưới đây là phiên bản “gắn thẳng vào đề án BEE MUSIC PACKAGE”, đã được cấu trúc lại theo văn phong hành chính – thuyết phục – có thể đặt vào phần “Cơ sở khoa học và sự cần thiết của đề án”trong hồ sơ trình Sở/UBND:



III. CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ SỰ CẦN THIẾT TRIỂN KHAI BEE MUSIC PACKAGE


1. Bối cảnh đổi mới giáo dục mầm non


Chương trình giáo dục mầm non giai đoạn mới chuyển mạnh từ tiếp cận nội dung sang phát triển năng lực, lấy trẻ làm trung tâm, trong đó nhấn mạnh:

Tư duy sáng tạo

Năng lực giải quyết vấn đề

Kỹ năng hợp tác và giao tiếp

Nền tảng công nghệ và hội nhập

Các định hướng như STEAM và phương pháp Montessori đang được khuyến khích triển khai rộng rãi nhằm tổ chức hoạt động học tập thông qua trải nghiệm thực tiễn.

Tuy nhiên, để các phương pháp này đi vào thực chất, cần có công cụ tổ chức hoạt động phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý trẻ mầm non.



2. Cơ sở khoa học: Âm nhạc là công cụ phát triển não bộ và năng lực nền tảng


Các nghiên cứu trong lĩnh vực Neuroscience và Early Childhood Education đã chứng minh:

Âm nhạc kích hoạt đồng thời nhiều vùng não (ngôn ngữ, vận động, cảm xúc, tư duy logic)

Tăng cường kết nối thần kinh trong giai đoạn phát triển vàng (0–6 tuổi)

Cải thiện khả năng ghi nhớ, tập trung và điều chỉnh hành vi

Theo lý thuyết đa trí tuệ của Howard Gardner, trí thông minh âm nhạc là một trong những năng lực cốt lõi, có khả năng hỗ trợ và lan tỏa sang các lĩnh vực khác như ngôn ngữ, toán học và vận động.

👉 Như vậy, âm nhạc không chỉ là hoạt động nghệ thuật mà là phương tiện khoa học để phát triển toàn diện năng lực trẻ.



3. Vai trò của âm nhạc trong tích hợp STEAM và Montessori


3.1. Âm nhạc – môi trường tích hợp STEAM tự nhiên


Thông qua hoạt động âm nhạc, trẻ có thể:

Khám phá âm thanh, cao độ (Science)

Sử dụng thiết bị số, ứng dụng học tập (Technology)

Tạo và thử nghiệm nhạc cụ đơn giản (Engineering)

Biểu đạt cảm xúc (Arts)

Cảm nhận nhịp điệu, tiết tấu (Mathematics)

👉 Âm nhạc tạo ra một môi trường học tập tích hợp, sinh động và phù hợp với lứa tuổi mầm non.



3.2. Âm nhạc – phương tiện triển khai Montessori hiệu quả


Âm nhạc đáp ứng đầy đủ các nguyên lý của phương pháp Montessori:

Trẻ học qua trải nghiệm cảm giác và vận động

Khuyến khích tự khám phá và lặp lại có chủ đích

Hình thành tính tự lập và kỷ luật nội tại

👉 Khi tích hợp âm nhạc, hoạt động Montessori trở nên dễ tổ chức hơn trong điều kiện lớp học thực tế tại Việt Nam.



4. Thực trạng và điểm nghẽn triển khai


Qua khảo sát thực tế tại các cơ sở giáo dục mầm non:

Giáo viên còn hạn chế về kỹ năng âm nhạc thực hành (đàn, đệm hát, tổ chức hoạt động)

Hoạt động âm nhạc còn mang tính hình thức, chưa phát huy vai trò tích hợp

Thiếu công cụ và mô hình hỗ trợ triển khai STEAM và Montessori một cách hiệu quả

👉 Điều này dẫn đến:

Chủ trương đổi mới đúng nhưng chưa được hiện thực hóa trong hoạt động giáo dục hàng ngày.



5. Giải pháp của đề án: BEE MUSIC PACKAGE


BEE MUSIC PACKAGE cung cấp giải pháp đồng bộ gồm:

Thiết bị: Đàn phím điện tử BEE KL-4.0 kết nối ứng dụng

Công nghệ: App BEE TỰ HỌC PIANO (hướng dẫn trực quan bằng phím phát sáng)

Nội dung: Hệ thống bài giảng âm nhạc mầm non chuẩn hoá

Đào tạo: Chương trình tập huấn kỹ năng âm nhạc thực hành cho giáo viên

👉 Điểm khác biệt cốt lõi:

Giúp giáo viên “biết làm – làm được – áp dụng ngay” trong lớp học



6. Luận điểm thuyết phục (trọng tâm để phê duyệt)

Âm nhạc là phương tiện hiệu quả nhất để tích hợp STEAM và Montessori trong giáo dục mầm non

Muốn triển khai đổi mới giáo dục thành công, bắt buộc phải nâng cao năng lực âm nhạc thực hành cho giáo viên.

BEE MUSIC PACKAGE chính là giải pháp:

Biến chủ trương đổi mới thành hoạt động cụ thể trong lớp học

Nâng cao năng lực giáo viên một cách nhanh, đồng bộ, quy mô lớn

Tăng tính hấp dẫn, thu hút trẻ tham gia hoạt động giáo dục



7. Kết luận đề xuất


Việc triển khai BEE MUSIC PACKAGE là:

Phù hợp với định hướng đổi mới giáo dục mầm non

Có cơ sở khoa học rõ ràng

Giải quyết đúng điểm nghẽn thực tiễn

Mang lại hiệu quả đồng thời về chuyên môn và xã hội

Đề nghị Sở Giáo dục và Đào tạo xem xét phê duyệt chủ trương triển khai tập huấn kỹ năng âm nhạc thực hành cho giáo viên mầm non thông qua mô hình BEE MUSIC PACKAGE nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đáp ứng yêu cầu đổi mới trong giai đoạn hiện nay.

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Blogger Templates