SƯU TẬP NHỮNG KIẾN THỨC CẦN THIẾT CHO GIÁO VIÊN ÂM NHẠC VIỆT NAM THỜI 4.0

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

Thứ Ba, 28 tháng 4, 2026

Cao đẳng Sư phạm hết thời?

 

ts-le-viet-khuyen-svvn.jpg


SVO - "Chủ trương nâng chuẩn trình độ giáo viên lên đại học là xu hướng tất yếu của giáo dục hiện đại. Tuy nhiên, việc thực hiện nóng vội, thiếu lộ trình chuyển tiếp đang đẩy hệ thống Cao đẳng Sư phạm đến bờ vực "xóa sổ", kéo theo những hệ lụy về sự công bằng trong tiếp cận giáo dục tại các địa phương", TS Lê Viết Khuyến - Phó Chủ tịch Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam chia sẻ.

Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống Cao đẳng Sư phạm tại Việt Nam là một hành trình đầy thăng trầm, gắn liền với những biến động của thời cuộc và sự thay đổi trong tư duy giáo dục qua các thời kỳ. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện hiện nay, hệ thống này đang đứng trước những thách thức sinh tử về sự tồn tại và sứ mệnh trong tương lai.

Phóng viên Chuyên trang Sinh Viên Việt Nam - Báo Tiền Phong đã có cuộc trao đổi với TS Lê Viết Khuyến - Phó Chủ tịch Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam về chủ đề "Phải chăng Cao đẳng Sư phạm sắp hết thời?".

Thăng trầm mô hình Cao đẳng Sư phạm

Chia sẻ về hành trình lịch sử của hệ đào tạo này, TS Lê Viết Khuyến cho biết mô hình Cao đẳng Sư phạm đã trải qua nhiều biến động gắn liền với thời cuộc. Dấu mốc khởi thủy được xác lập bởi Nghị định ngày 25/12/1918 của Toàn quyền Đông Dương (Pháp). Dù mang danh "Cao đẳng" (Superior), nhưng thực chất giai đoạn đầu, trường chỉ tuyển người có bằng Cao đẳng Tiểu học (tương đương cấp 2 ngày nay) và đào tạo trong 3 năm. Xét về bản chất, trình độ lúc bấy giờ chỉ tương đương trung cấp, nhằm tạo ra đội ngũ cán sự thực hành.

Vị thế của hệ thống này chỉ thực sự thay đổi về chất sau cuộc cải cách giáo dục 1924-1925 và hoàn thiện vào đầu những năm 1940 khi nằm trong cấu trúc Viện Đại học Đông Dương. Lúc này, có sự phân định rạch ròi: trường đại học (Faculté) hướng tới nghiên cứu hàn lâm và cấp bằng Tiến sĩ; trong khi trường cao đẳng (École Supérieure) tập trung đào tạo kỹ năng nghề nghiệp chuyên sâu và không cấp học vị này.

Giai đoạn sau năm 1954 chứng kiến một sự "đứt gãy" lớn về mô hình. Tại miền Bắc, việc áp dụng mô hình giáo dục Liên Xô khiến khái niệm "trường cao đẳng" hoàn toàn biến mất, hệ thống này bị chuyển thành trung học chuyên nghiệp. Ngược lại, tại miền Nam, hệ cao đẳng vẫn phát triển dưới hình thức các Viện Đại học Cộng đồng theo mô hình Mỹ, đảm nhận đào tạo giáo viên THCS và giai đoạn đại cương để liên thông đại học.

ts-le-viet-khuyen-svvn.jpg
TS Lê Viết Khuyến - Phó Chủ tịch Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam. (Ảnh: Lê Vượng)

Phải đến thời kỳ Đổi mới, Cao đẳng Sư phạm mới thực sự "hồi sinh" và có bước lột xác ngoạn mục nhờ quy trình "nuôi lớn" bài bản từ các trường Trung học Sư phạm địa phương. Ban đầu, các trường này áp dụng mô hình 7+3 (tuyển học sinh hết lớp 7, học 3 năm), sau đó nâng dần lên các hệ 10+1, 10+2 khi nguồn tuyển từ trung học phổ thông dồi dào hơn. Cột mốc quan trọng nhất là Quyết định 164-TTg ngày 21/3/1978 của Thủ tướng Chính phủ, chính thức nâng cấp 16 trường Trung học Sư phạm lên thành Trường Cao đẳng Sư phạm.

TS Lê Viết Khuyến nhấn mạnh: "Chính lộ trình 'chín muồi' từ thấp lên cao này (đỉnh cao là hệ 10+3) đã tạo nên một mạng lưới sư phạm địa phương vững chắc, giúp chuẩn hóa đội ngũ giáo viên THCS lên trình độ cao đẳng và đáp ứng nhu cầu học tập của con em các vùng miền suốt nhiều thập kỷ qua".

Nâng chuẩn là đúng nhưng cần lộ trình hợp lý

Từ năm 2019, hệ thống Cao đẳng Sư phạm bắt đầu đối mặt với nguy cơ "hết thời" do những thay đổi từ Luật Giáo dục sửa đổi. Việc nâng chuẩn trình độ giáo viên tiểu học, THCS lên đại học đã tước đi nguồn tuyển sinh chính của các trường Cao đẳng Sư phạm, dồn chỉ tiêu về các trường đại học trọng điểm vốn chưa có nhiều kinh nghiệm đào tạo giáo viên cấp cơ sở.

Lý giải về sự phân tầng trình độ giáo viên đã tồn tại nhiều thập kỷ qua ở Việt Nam, nơi giáo viên mầm non, tiểu học chỉ cần trình độ trung cấp hoặc cao đẳng, trong khi giáo viên trung học phổ thông bắt buộc phải có bằng đại học, TS Lê Viết Khuyến cho rằng nguyên nhân sâu xa nằm ở quan niệm coi giáo viên đơn thuần là những "người thợ dạy".

Theo tư duy cũ này, xã hội định giá trình độ giáo viên dựa trên khối lượng kiến thức bộ môn mà họ truyền tải. Giáo viên cấp ba phải giảng dạy Toán, Lý, Hóa chuyên sâu nên cần trình độ đại học; ngược lại, giáo viên mầm non hay tiểu học chủ yếu dạy các kiến thức sơ đẳng, tập trung vào hoạt động thể chất, năng khiếu hay rèn nền nếp, nên xã hội mặc định họ chỉ cần kiến thức chuyên môn thấp, tương ứng với bằng cấp thấp hơn.

Tuy nhiên, khi đối chiếu với xu hướng giáo dục hiện đại của thế giới, ngay cả tại các nước láng giềng như Thái Lan hay Malaysia, quan niệm trên đã trở nên lỗi thời. Tại các quốc gia này, giáo viên ở bất kỳ cấp học nào cũng được định vị là những "nhà giáo dục", do đó trình độ chuẩn tối thiểu cho mọi cấp đều phải là cử nhân.

Sự khác biệt giữa các cấp học không nằm ở bằng cấp cao hay thấp, mà nằm ở cấu trúc chương trình đào tạo được thiết kế như một đường xiên chéo. Đối với giáo viên mầm non và tiểu học, thời lượng đào tạo về khoa học giáo dục, tâm lý lứa tuổi chiếm tỷ trọng rất lớn, nặng hơn nhiều so với kiến thức bộ môn. Càng lên các cấp học cao hơn, khi tâm sinh lý học sinh đã ổn định, tỷ trọng các môn tâm lý giáo dục sẽ giảm dần để nhường chỗ cho sự chuyên sâu của kiến thức bộ môn. Sự thay đổi này gắn liền với cuộc chuyển dịch triết lý từ "tiếp cận nội dung" sang "tiếp cận phát triển năng lực", nơi người thầy chuyển vai trò từ người truyền thụ sang người hướng dẫn, tổ chức hoạt động để học sinh tự học.

Định hướng nâng chuẩn là đúng đắn, nhưng cách thức triển khai nóng vội hiện nay đang vấp phải những rào cản khổng lồ từ thực tế, đẩy hệ thống giáo dục địa phương vào tình trạng báo động.

Thống kê cho thấy một nghịch lý đáng buồn trong quy hoạch nhân lực: Nếu như năm 2014, cả nước từng thừa tới 35.000 giáo viên trung học cơ sở và phổ thông, thì đến cuối năm 2022, toàn ngành lại thiếu hụt trầm trọng tới 100.000 người, cùng với đó là làn sóng 16.000 giáo viên bỏ việc. Trong khi cơn khát nhân lực diễn ra gay gắt, mạng lưới các trường Cao đẳng Sư phạm, nơi cung ứng giáo viên chủ lực cho địa phương lại đang bị thu hẹp, giảm từ 30 trường xuống còn khoảng 22 trường sau năm 2020 do bị cắt chỉ tiêu đào tạo các cấp phổ thông.

Nghiêm trọng hơn, xu hướng sáp nhập cơ học các trường Cao đẳng Sư phạm vào các đại học khác đẳng cấp, hay chuyển sang hệ thống giáo dục nghề nghiệp đang khiến các trường này mất đi bản sắc và sứ mệnh giáo dục đại học vốn có. Sự nóng vội này càng trở nên bất cập khi áp dụng chính sách đồng loạt cho một đất nước đa dạng vùng miền như Việt Nam.

Việc sáp nhập cơ học các trường Cao đẳng Sư phạm địa phương vào các Đại học Quốc gia hay Đại học Vùng đang ảnh hưởng trực tiếp đến tính công bằng trong giáo dục. Các trường cao đẳng địa phương được thành lập với sứ mệnh đáp ứng nhu cầu nhân lực tại chỗ và tạo cơ hội tiếp cận tri thức cho con em vùng khó khăn. Nếu sáp nhập Trường Cao đẳng Sư phạm Lào Cai vào Đại học Thái Nguyên, cánh cửa đại học sẽ đóng lại với những học sinh nghèo ở Lào Cai do rào cản về chi phí và điểm chuẩn. Khi đó, mục tiêu nâng cao dân trí và đảm bảo công bằng xã hội sẽ bị phá vỡ, chưa kể đến việc đào tạo lại đội ngũ giáo viên cũ vốn đã quen lối mòn "đọc chép" sang phương pháp mới là điều không thể thực hiện trong một sớm một chiều, dẫn đến tình trạng "học chay" ở ngay cả những thành phố lớn như Hà Nội.

TS Lê Viết Khuyến: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cũng từng khởi đầu với hệ đào tạo 2 năm với nhiều Giáo sư trưởng thành từ đây, rồi mới dần lớn mạnh thành 4 năm. Tại sao chúng ta không cho các trường cao đẳng địa phương cơ hội đi theo lộ trình lịch sử đó?

Giải pháp nào cho Cao đẳng Sư phạm

Trước thực trạng đó, thay vì xóa sổ hay sáp nhập cưỡng ép, TS Lê Viết Khuyến đề xuất cần một giải pháp lộ trình dựa trên tính kế thừa lịch sử, điển hình là mô hình đào tạo liên thông "3+1". Đối với các trường Cao đẳng Sư phạm chưa đủ điều kiện lên đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần cho phép thực hiện quy trình đào tạo kết hợp: sinh viên học 3 năm nền tảng tại địa phương và 1 năm hoàn thiện tại các trường Đại học Sư phạm trọng điểm để nhận bằng cử nhân. Giải pháp này vừa tận dụng được cơ sở vật chất địa phương, vừa giúp sinh viên vùng khó khăn tiếp cận đại học với chi phí thấp.

Về lâu dài, các trường này nên chuyển đổi thành mô hình Cao đẳng Cộng đồng hoặc Đại học địa phương đa lĩnh vực, trong đó sư phạm là nòng cốt, thực hiện nhiệm vụ đào tạo theo cơ chế "đặt hàng" của chính quyền địa phương thay vì đấu thầu đại trà. Chỉ khi tôn trọng sự phân tầng và huy động sức mạnh tổng hợp của toàn hệ thống, chúng ta mới tránh được sự đổ vỡ của mạng lưới an sinh giáo dục đã dày công xây dựng hơn một thế kỷ qua.

Việc giải tán một trường học thì dễ, nhưng để xây dựng lại một cơ sở giáo dục với bề dày lịch sử và mạng lưới nhân lực địa phương là điều không thể. Đó là cái giá đắt mà nền giáo dục sẽ phải trả cho sự nóng vội.

Trước nguy cơ bị giải thể, CLB các trường cao đẳng sư phạm có nhiều đề xuất

 nay".

GDVN.JPG

Trước nguy cơ bị giải thể, CLB các trường cao đẳng sư phạm có nhiều đề xuất 

26/03/2024 16:28
 Ngọc Mai 
Theo dõi trênGoogle News

GDVN - Các trường cao đẳng sư phạm nhất trí đề nghị Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam tiếp tục kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo nhiều vấn đề. 

Ngày 22/3, Câu lạc bộ Các trường Cao đẳng sư phạm thuộc Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam có văn bản Thông báo Kết quả Hội thảo các trường cao đẳng sư phạm diễn ra ngày 15/3/2024 với chủ đề "Những vấn đề đặt ra với các trường cao đẳng sư phạm hiện nay".

GDVN.JPG
Toàn cảnh toạ đàm "Những vấn đề đặt ra với các trường cao đẳng sư phạm hiện nay" diễn ra ngày 15/3 tại Trường Cao đẳng Sư phạm Bắc Ninh. (Ảnh: Ngọc Mai)

Thông báo nêu, hiện nay các trường cao đẳng sư phạm địa phương đang gặp phải những khó khăn rất lớn, có nguy cơ bị giải thể do sự thay đổi trình độ chuẩn của giáo viên phổ thông tác động đến công tác tuyển sinh; định hướng quy hoạch hệ thống trường sư phạm của Bộ Giáo dục và Đào tạo; sáp nhập vào các trường đại học không cùng đẳng cấp; đang bị "nghề hoá" trong đào tạo giáo viên.

Trong khi chờ đợi những quy hoạch, hướng dẫn rõ ràng từ Bộ Giáo dục và Đào tạo, các trường cao đẳng sư phạm phải tập trung hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ và đoàn thể để khẳng định các trường cao đẳng sư phạm là trung tâm văn hoá của địa phương. Bên cạnh đó, cần chủ động tham mưu uỷ ban nhân dân tỉnh, thành cho phép phối hợp đào tạo trình độ đại học, trước mắt là ưu tiên đào tạo giáo viên tiểu học, kể cả chương trình đại học ngành giáo dục mầm non theo cơ chế đặt hàng.

Định hướng phát triển của các trường cao đẳng sư phạm, việc tổ chức sắp xếp lại các cơ sở đào tạo cần căn cứ vào tình hình thực tế từng địa phương và lấy các trường cao đẳng sư phạm là trung tâm.

Các trường cần nghiên cứu, khảo sát thị trường lao động để mở rộng, phát triển một số ngành đào tạo mới phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, khu vực lân cận như: quản lý kinh tế, văn hoá, du lịch, công nghệ, đào tạo và đào tạo lại cán bộ cơ sở; nghiên cứu tổ chức đào tạo hoặc bồi dưỡng chuyên sâu các loại hình nghệ thuật của địa phương.

Việc sáp nhập các trường cao đẳng sư phạm vào các trường đại học ảnh hưởng tâm tư, nguyện vọng của một số cán bộ viên chức. Cụ thể, hầu hết các cán bộ quản lý đơn vị trực thuộc của trường không được bố trí sắp xếp làm tiếp công tác quản lý; một số giảng viên nhà trường được bố trí làm ở các phòng, ban của trường đại học và không tham gia giảng dạy; một số giảng viên khác được phân công xuống dạy tại trường phổ thông;...

Câu lạc bộ Các trường cao đẳng sư phạm đại biểu các trường cao đẳng sư phạm đã phát biểu ý kiến liên quan đến đề xuất, kiến nghị mà các trường đã thống nhất tại hội nghị trước đó nhưng chưa được các cấp có thẩm quyền trả lời.

Từ những khó khăn đang gặp phải, các trường cao đẳng sư phạm nhất trí đề nghị Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam tiếp tục kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo các vấn đề như sau:

Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo có bản văn gửi các địa phương đôn đốc triển khai thực hiện Điều lệ trường cao đẳng sư phạm ban hành kèm theo Thông tư 23/2022/TT- BGDĐT ngày 30/12/2022 của Bộ Giáo dục và Đào tạo để chuyển các trường cao đẳng sư phạm địa phương trực thuộc uỷ ban nhân dân tỉnh.

Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo có lộ trình cụ thể cho các trường cao đẳng sư phạm trong Quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học và giáo sư phạm chính thức để các trường cao đẳng sư phạm có những bước đi thích hợp cho sự tồn tại, phát triển đến năm 2030 và có định hướng phát triển cho các trường.

Bộ Giáo dục và Đào tạo cần có cơ chế cho các trường cao đẳng sư phạm được thực hiện việc bồi dưỡng thường xuyên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại địa phương. Qua đó giúp các trường cao đẳng sư phạm vừa bồi dưỡng giáo viên phổ thông vừa cập nhật chương trình giáo dục phổ thông.

Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo xem xét về mô hình đào tạo 3 + 1 (03 năm tại trường cao đẳng sư phạm và 01 năm tại trường đại học ) để giải quyết vấn đề đào tạo giáo viên hiện nay.

Theo dự thảo đề án quy hoạch mạng lưới của Bộ Giáo dục và Đào tạo, khối giáo viên mầm non thiếu từ nay đến năm 2045 vẫn chiếm tỷ lệ cao (trung bình 40% số giáo viên thiếu ). Vì vậy, đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo xem xét tiếp tục giao nhiệm vụ đào tạo ngành Giáo dục mầm non cho các trường cao đẳng sư phạm sau năm 2030.

Ngọc Mai

trường cao đẳng sư phạm trung ương ký hợp tác xây dựng đội ngũ chuyên gia GDMN

 


nói.

z5298089616486_ffdb2d11ae08c237828995c67ce83288.jpg

3 trường cao đẳng sư phạm trung ương ký hợp tác xây dựng đội ngũ chuyên gia GDMN 

30/03/2024 16:16
 Ngọc Mai 
Theo dõi trênGoogle News

GDVN - Ngày 29/3/2024, ba trường cao đẳng sư phạm trung ương ký kết hợp tác phát triển, xây dựng đội ngũ chuyên gia giáo dục mầm non. 

Ngày 29/3/2024, nhân dịp Hội nghị Sơ kết hoạt động Cụm thi đua số 7 năm học 2023-2024, tại Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương - Nha Trang đã diễn ra lễ ký kết biên bản ghi nhớ giữa ba trường, gồm: Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương - Nha Trang, Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương và Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương - Thành phố Hồ Chí Minh.

Đây là ba trường cao đẳng sư phạm trung ương ở 3 miền (Bắc - Trung - Nam) của đất nước, trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo. Các trường đã xây dựng được thương hiệu về đào tạo, bồi dưỡng giáo viên mầm non, cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non.

Tham dự buổi lễ ký kết, có Tiến sĩ Nguyễn Thị Hạnh - Phó Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ (Bộ Giáo dục và Đào tạo).

Và lãnh đạo của ba trường cao đẳng sư phạm trung ương gồm Tiến sĩ Nguyễn Trung Triều - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương - Nha Trang; Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Đình Tuấn - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương và Thạc sĩ Nguyễn Nguyên Bình - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương - Thành phố Hồ Chí Minh.

Cùng dự có các cán bộ, giảng viên của ba trường cao đẳng sư phạm trung ương.

Phát biểu tại buổi lễ ký kết, Tiến sĩ Nguyễn Trung Triều - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương - Nha Trang cho biết, ba trường cao đẳng sư phạm trung ương lâu nay có mối quan hệ mật thiết, gắn bó, tích cực hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau trong công tác chuyên môn, học thuật.

“Trên cơ sở kế thừa những kết quả đạt được trong thời gian qua, việc ký kết hợp tác lần này nhằm phát huy hơn nữa năng lực của mỗi trường trong công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên mầm non và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non, đặc biệt là xây dựng đội ngũ chuyên gia giáo dục mầm non đáp ứng yêu cầu của xã hội”, thầy Triều nói.

z5298089616486_ffdb2d11ae08c237828995c67ce83288.jpg
Ba trường cao đẳng sư phạm trung ương ký kết biên bản ghi nhớ vào ngày 29/3/2024. (Ảnh: NTCC)

Theo đó, nội dung của thỏa thuận hợp tác là xây dựng và đổi mới chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên mầm non và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non phù hợp với khung trình độ quốc gia, chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non, chuẩn hiệu trưởng cơ sở giáo dục mầm non và đặc thù địa phương.

Tổ chức các chương trình đào tạo liên thông,... trao đổi và chia sẻ kinh nghiệm cho giáo viên và cán bộ quản lý tại các cơ sở giáo dục mầm non.

Xây dựng các dự án, chương trình hỗ trợ bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục mầm non, nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ về quản trị trường mầm non, phát triển chương trình giáo dục mầm non và chuyển giao, ứng dụng các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học tiên tiến vào các cơ sở giáo dục mầm non.

Xây dựng mạng lưới liên kết các chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục mầm non, hệ thống các trường mầm non công lập và ngoài công lập, hệ thống các cơ sở giáo dục có đào tạo giáo dục mầm non.

z5298880265740_1d9c597dbf9eba69408af4e3f930bfd3.jpg
Lãnh đạo ba trường cao đẳng sư phạm trung ương trong buổi lễ ký kết biên bản ghi nhớ. (Ảnh: NTCC)

Cũng theo biên bản ghi nhớ, ba trường thống nhất tổ chức các chuyên đề, hội thảo khoa học; thực hiện các chương trình đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên theo chương trình, đề án của Bộ Giáo dục và Đào tạo và của địa phương.

Ba trường ký kết thỏa thuận có nhiệm vụ phối hợp cùng xây dựng kế hoạch chi tiết và cụ thể để thực hiện nghiêm túc các thỏa thuận và cam kết.

Sau khi thỏa thuận được ký kết, cơ chế hợp tác giữa ba trường sẽ được xây dựng cụ thể trên cơ sở tính chất đặc thù của riêng từng dự án.

Dựa trên tiềm năng và tính khả thi của mỗi dự án, ba trường sẽ cùng bàn bạc chi tiết, cụ thể từng hạng mục, các bước tiến hành bằng hợp đồng riêng.

Ngọc Mai

Thời đại AI đặt ra nhiều yêu cầu đối với công tác đào tạo và bồi dưỡng CBQL, giáo viên mầm non

 

Ngày 24/4/2026, tại Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương Nha Trang, Câu lạc bộ Các trường Cao đẳng Sư phạm (thuộc Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam) tổ chức Tọa đàm Công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên mầm non trong thời đại AI - Thực trạng và giải pháp.

Tọa đàm có sự tham gia của Thạc sĩ Phạm Ngọc Lan - Trưởng ban Công tác Hội viên của Hiệp hội; bà Nguyễn Thị Xuân Trinh - Chuyên viên Phòng Giáo dục mầm non, Giáo dục phổ thông, Sở Giáo dục tỉnh Khánh Hòa; Tiến sĩ Hồ Cảnh Hạnh - Phó Chủ tịch Hội khuyến học thành phố Hồ Chí Minh, nguyên Chủ nhiệm Câu lạc bộ Các trường cao đẳng sư phạm; Tiến sĩ Hồ Văn Thành - Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Huế, nguyên Phó Chủ nhiệm Câu lạc bộ...

Về phía Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương Nha Trang có Tiến sĩ Nguyễn Trung Triều - Hiệu trưởng nhà trường; Thạc sĩ Đinh Hiền Minh - nguyên Chủ tịch Hội đồng trường; Thạc sĩ Nguyễn Đức Thới - Phó Hiệu trưởng nhà trường; Tiến sĩ Nguyễn Thị Bích Thủy - Phó Hiệu trưởng nhà trường.

Ngoài ra, tọa đàm còn có sự tham gia của đại diện các trường Trường Cao đẳng Sư phạm Kiên Giang, Trường Cao đẳng Sư phạm Bà Rịa - Vũng Tàu, Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Trị, Trường Cao đẳng Sư phạm Điện Biên, Trường Cao đẳng Sư phạm Thái Bình, Trường Cao đẳng Sư phạm Nam Định, Trường Cao đẳng Sư phạm Bắc Ninh, Trường Cao đẳng Lạng Sơn và Trường Cao đẳng Huế.

Thạc sĩ Thạc sĩ Phạm Ngọc Lan - Trưởng ban Công tác Hội viên của Hiệp hội Các trường cao đẳng, đại học Việt Nam tặng hoa chúc mừng tọa đàm.

Thạc sĩ Thạc sĩ Phạm Ngọc Lan - Trưởng ban Công tác Hội viên của Hiệp hội Các trường cao đẳng, đại học Việt Nam tặng hoa chúc mừng tọa đàm.

Cần tăng cường tiếp cận công cụ AI cho cán bộ quản lý, giáo viên mầm non

Phát biểu tại tọa đàm, Tiến sĩ Nguyễn Trung Triều - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương Nha Trang chia sẻ: "Luật Giáo dục năm 2019 và xu thế tinh gọn bộ máy đã và đang tác động mạnh đến các cơ sở giáo dục. Đến thời điểm hiện tại, một số trường có lối đi riêng đã định hình, các trường còn lại cũng có những định hướng khác nhau. Thực tế đó dẫn đến Câu lạc bộ Các trường Cao đẳng Sư phạm thời gian qua có những biến động nhất định.

Trong bối cảnh đó, câu lạc bộ vẫn duy trì tổ chức tọa đàm thường niên với sự tham gia của đại diện Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam và 11 trường đến từ cả 3 miền Bắc - Trung - Nam. Hy vọng rằng, với kinh nghiệm thực tiễn phong phú từ các đơn vị, tọa đàm năm nay sẽ đạt kết quả tốt, góp phần hiệu quả cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên mầm non vốn là thế mạnh và cũng là sứ mệnh của trường cao đẳng sư phạm".

Báo cáo tình hình chung của câu lạc bộ, Tiến sĩ Phan Thế Hải - Quyền Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Sư phạm Bà Rịa - Vũng Tàu, thay mặt Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ thông tin, sau hơn một năm thực hiện Kết luận 127-KL/TW ngày 28/02/2025 của Bộ Chính trị về sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu quả và thực hiện Quyết định số 452/QĐ-TTg, ngày 27/02/2025 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, nhìn chung các địa phương đã chủ động hướng đến phát triển các trường cao đẳng theo ba định hướng của Thủ tướng Chính phủ.

Đó là sáp nhập vào một trường đại học sư phạm hoặc cơ sở giáo dục đại học đa ngành, đa lĩnh vực có trường, khoa sư phạm hoặc khoa học cơ bản; Sáp nhập vào một cơ sở giáo dục đại học tại địa phương hoặc trong vùng; Sáp nhập, hợp nhất với một số cơ sở giáo dục khác tại địa phương.

"Tính đến hôm nay, hơn một nửa số trường cao đẳng sư phạm trong cả nước đã thực hiện việc sắp xếp. Mặc dù đã có chủ trương sáp nhập, hợp nhất hoặc chưa có chủ trương, đan xen với những lo lắng, chờ đợi, các cơ sở giáo dục vẫn phải duy trì, phát triển nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng. Đặc biệt là trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo (AI) đã và đang tác động sâu rộng đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có giáo dục.

Thực tiễn cho thấy, công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên mầm non hiện nay đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Mặc dù vậy, vẫn còn tồn tại những hạn chế như: nội dung đào tạo chưa theo kịp yêu cầu chuyển đổi số, kỹ năng ứng dụng công nghệ còn chưa đồng đều, việc tiếp cận các công cụ AI trong giáo dục còn nhiều bỡ ngỡ… Trước sự cần thiết và quan trọng đó, Câu lạc bộ tổ chức Tọa đàm với chủ đề Công tác đào tạo và bồi dưỡng giáo viên mầm non trong thời đại AI, Thực trạng và Giải pháp - thầy Hải bày tỏ.

Khách mời và ban tổ chức chụp ảnh tại tọa đàm.

Khách mời và ban tổ chức chụp ảnh tại tọa đàm.

AI sẽ trở thành động lực nâng cao chất lượng giáo dục mầm non

Trong khuôn khổ tọa đàm, Tiến sĩ Nguyễn Thị Bích Thủy (Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương Nha Trang) đã trình bày tham luận Thực trạng và giải pháp ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong công tác đào tạo người học ngành Giáo dục mầm non tại Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương Nha Trang.

Thông qua kết quả khảo sát, cô Thủy nhận định giáo viên và sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương Nha Trang đều có nhận thức tương đối tốt về AI, thể hiện ở việc hiểu khái niệm cơ bản, nhận biết được vai trò của AI trong dạy học và học tập, đồng thời ý thức được yêu cầu về đạo đức học thuật khi sử dụng công nghệ này. Bên cạnh đó, cả hai nhóm đều đánh giá tích cực về lợi ích của AI, đặc biệt trong hỗ trợ tìm kiếm tài liệu, tiết kiệm thời gian, mở rộng ý tưởng, nâng cao chất lượng chuẩn bị bài giảng và nhiệm vụ học tập.

Điều này cho thấy AI đã được nhìn nhận như một công cụ có ý nghĩa thiết thực trong môi trường đào tạo người học ngành giáo dục mầm non của Nhà trường. Tuy nhiên, giữa năng lực nhận thức và năng lực thực hành của cả giảng viên và sinh viên, nhà trường vẫn còn một khoảng cách nhất định.

Để vượt qua những rào cản và khai thác hiệu quả tiềm năng của AI trong đào tạo người học ngành giáo dục mầm non của nhà trường, cô Thủy đề xuất một số giải pháp như: Nâng cao nhận thức của giảng viên và sinh viên về ứng dụng AI trong công tác giảng dạy và học tập; Tăng cường các chuyên đề bồi dưỡng cho giảng viên và sinh viên những kiến thức cơ bản về AI, đặc biệt là các kỹ năng thực hành ứng dụng AI trong hoạt động giảng dạy và học tập; Đưa các học phần mới có liên quan đến chuyển đổi số, công nghệ AI, cách mạng công nghiệp như phân tích dữ liệu AI, trực quan hóa dữ liệu, đạo đức kỹ thuật số... vào chương trình đào tạo dưới hình thức các học phần tự chọn để trang bị kiến thức cơ bản và kỹ năng thực hành ứng dụng AI cho sinh viên; Đẩy mạnh hợp tác giữa các trường sư phạm có đào tạo giáo viên mầm non nhằm chia sẻ kinh nghiệm và nguồn lực về ứng dụng AI trong đào tạo người học ngành giáo dục mầm non; Đưa nhiệm vụ chuyển đổi số, đặc biệt là ứng dụng AI trong công tác đào tạo vào kế hoạch chiến lược phát triển Nhà trường; Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất trong khuôn viên Nhà trường.

Cuối cùng, Tiến sĩ Nguyễn Thị Bích Thủy khẳng định AI đã và đang trở thành một công cụ hữu ích trong việc quản trị các cơ sở giáo dục và đào tạo, giúp cho các nhà trường nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục, cải thiện các hoạt động quản lý và tối ưu hóa nguồn lực.

Trình bày tham luận về Sử dụng mạng xã hội Facebook là một công cụ chuyên nghiệp nhằm chia sẻ, kết nối các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, Thạc sĩ Bùi Thị Thanh Thủy (Trường Cao đẳng Sư phạm Nam Định) cho biết, mạng xã hội Facebook đang là công cụ số được sử dụng rộng rãi trong cộng đồng giáo viên tại Việt Nam, đã trở thành một môi trường quan trọng hỗ trợ hoạt động phát triển nghề nghiệp của giáo viên. Nhiều trang hội nhóm giáo viên trên Facebook đã là những không gian chia sẻ tri thức, kinh nghiệm và kết nối cộng đồng chuyên môn.

Dù thế, trên trang cá nhân của mỗi giáo viên, việc chuyên nghiệp hóa nhằm phục vụ cho hoạt động giáo dục ít nhiều vẫn còn hạn chế. Trong bối cảnh thuật toán tìm kiếm của Facebook hiện nay có sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và mức độ sử dụng còn tăng mạnh từ năm 2024 đến nay, những bài viết với những từ khóa phổ biến, những nội dung hữu ích sẽ có cơ hội lan tỏa ngày càng nhanh tới cộng đồng.

Đó là cơ hội và cũng là thách thức cho mỗi người làm giáo dục sử dụng Facebook như một công cụ số chuyên nghiệp để sáng tạo những nội dung nhằm chia sẻ, kết nối và phát triển bản thân, phục vụ cho những công việc của mình.

Trong thế giới “phẳng”, với ứng dụng chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo, cơ hội khai thác nguồn tài nguyên tri thức nhân loại sẽ ngày một rộng mở. Ngoài ra, nhiều tổ chức giáo dục trong nước và quốc tế cũng sẵn sàng với các hoạt động phi lợi nhuận nhằm quảng bá, lan tỏa những giá trị tốt đẹp của họ. Đó là cơ hội nhưng cũng chính là thách thức của mỗi người làm giáo dục, nhất là ở những nơi không phải là vùng trung tâm của quốc gia.

Vì vậy, sự chuyên nghiệp hóa trong mỗi khâu làm việc của người làm giáo dục (mà sử dụng Facebook như một công cụ chuyên nghiệp là một vấn đề) đều sẽ giúp cho chúng ta từng bước kết nối vào thế giới trong môi trường số nói chung, từ đó có thêm nhiều kiến thức, phương pháp để sống và làm việc ngày một tốt hơn, đáp ứng yêu cầu giáo dục của thời đại.

Kết thúc phần tham luận tại tọa đàm là phần trình bày Phát triển năng lực ứng dụng AI cho cán bộ quản lý, giáo viên mầm non của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trương Đình Thăng (Trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Trị).

Thầy Thăng phân tích, thời đại AI đang đặt giáo dục mầm non trước một yêu cầu mới: phải thay đổi để thích ứng, nhưng không được đánh mất bản chất của giáo dục mầm non. Sự thay đổi ấy không nên được hiểu là chạy theo công nghệ, càng không phải là thay thế vai trò của giáo viên bằng máy móc, mà là nâng cao năng lực nghề nghiệp của cán bộ quản lý và giáo viên để họ sử dụng AI một cách thông minh, có trách nhiệm và phục vụ tốt hơn cho trẻ.

Từ các tài liệu quốc tế và thực tiễn trong nước có thể thấy rất rõ rằng, AI chỉ phát huy giá trị tích cực khi đi cùng với tư duy lấy con người làm trung tâm, với đạo đức nghề nghiệp, với cơ chế bảo vệ dữ liệu, với chương trình bồi dưỡng phù hợp và với sự hỗ trợ liên tục từ nhà trường và cơ sở đào tạo.

Trong bối cảnh giáo dục mầm non Việt Nam còn thiếu đội ngũ, chịu áp lực công việc lớn và đang đứng trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ, công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên mầm non trong thời đại AI cần được nhìn nhận như một nhiệm vụ chiến lược. Các chương trình bồi dưỡng cần chuyển từ giới thiệu công cụ sang phát triển năng lực; từ đại trà sang phân hóa theo đối tượng; từ tập huấn ngắn hạn sang hỗ trợ nghề nghiệp liên tục; từ chú trọng thao tác kỹ thuật sang chú trọng đạo đức, phán đoán sư phạm và hiệu quả thực tế trong công việc.

Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu không chỉ là nhận thức đúng về AI mà còn là tổ chức thực hiện hiệu quả Khung năng lực số đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, bảo đảm đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên mầm non có đủ năng lực sử dụng công nghệ số và AI một cách phù hợp, an toàn và nhân văn.

Với vai trò của mình, các trường cao đẳng sư phạm cần chủ động hơn trong nghiên cứu, thiết kế chương trình, xây dựng học liệu và hỗ trợ địa phương hình thành đội ngũ giáo viên mầm non có khả năng làm chủ công nghệ mà vẫn giữ vững giá trị nhân văn của nghề giáo. Đó cũng chính là con đường để AI trở thành động lực nâng cao chất lượng giáo dục mầm non, thay vì trở thành một xu hướng nhất thời hoặc một áp lực mới đối với nhà giáo.

Tọa đàm kết thúc sau phần thảo luận sôi nổi liên quan đến vấn đề đưa AI vào trường học; khung năng lực số của sinh viên sư phạm mầm non; cách khai thác các công cụ AI để đánh giá kết quả của người học...

Cầu nối giữa lý thuyết giáo dục và thực tiễn giảng dạy

 

Cầu nối giữa lý thuyết giáo dục và thực tiễn giảng dạy

Khoảng cách giữa nghiên cứu hàn lâm và thực tiễn giảng dạy vẫn là thách thức trong giáo dục, khi việc áp dụng các phát hiện mới vào lớp học còn hạn chế và diễn ra chưa kịp thời. Phương pháp nghiên cứu dựa trên thiết kế được đề xuất như một hướng tiếp cận triển vọng, nhằm kết nối lý thuyết và thực hành một cách linh hoạt, thiết thực.

Trong lĩnh vực giáo dục, một vấn đề được quan tâm xuyên suốt là khoảng cách giữa nghiên cứu học thuật và thực tiễn giảng dạy tại nhà trường. Dù các trường đại học và viện nghiên cứu không ngừng đưa ra các kết quả khoa học đổi mới, song việc áp dụng những kết quả này vào thực tế lớp học lại thường xuyên bị chậm trễ hoặc gặp khó khăn trong triển khai. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tìm ra một phương pháp nghiên cứu có khả năng kết nối chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành. Trên cơ sở đó, phương pháp Design-Based Research (DBR) - Nghiên cứu dựa trên thiết kế - được đề xuất như một giải pháp đầy tiềm năng để vượt qua rào cản này.

Khác với những mô hình nghiên cứu truyền thống vốn đặt trọng tâm vào việc kiểm nghiệm lý thuyết trong môi trường tách biệt, DBR định hình một cách tiếp cận thực nghiệm và linh hoạt, trong đó lý thuyết và thực tiễn được phát triển song song và tương hỗ. Phương pháp này khởi nguồn từ nhu cầu cải tiến dạy học trong môi trường thực tế, đồng thời vẫn duy trì tính chặt chẽ về mặt khoa học. Một dự án DBR thường trải qua các chu kỳ liên tiếp gồm: xác định vấn đề, thiết kế giải pháp, triển khai trong lớp học, thu thập và phân tích dữ liệu, điều chỉnh giải pháp và lặp lại quy trình này để đạt được cả hiệu quả thực tiễn lẫn giá trị học thuật.

Nghiên cứu khẳng định DBR là một mô hình lý tưởng cho giáo dục, vì cho phép các nhà nghiên cứu hợp tác trực tiếp với giáo viên trong việc xây dựng và thử nghiệm các công cụ, bài giảng hoặc chương trình học. Trong quá trình này, cả hai bên cùng đóng vai trò chủ động: giáo viên mang đến kinh nghiệm và hiểu biết thực tế về lớp học, trong khi nhà nghiên cứu cung cấp cơ sở lý luận và công cụ khoa học để phân tích và cải tiến.

Để minh họa cho tính hiệu quả và khả năng ứng dụng của DBR, một nghiên cứu tình huống được thực hiện trong môn Địa lý tại một trường phổ thông ở Đức. Nghiên cứu tập trung vào cách học sinh châu Âu nhận thức về Châu Phi - một chủ đề thường bị chi phối bởi những hình ảnh phiến diện và định kiến tiêu cực, như chiến tranh, nghèo đói, dịch bệnh. Nhằm mục tiêu giúp học sinh phản tư và điều chỉnh những định kiến này, nghiên cứu đã thiết kế một chuỗi hoạt động học tập theo quy trình DBR.


Nguồn: Pexels.com

Đầu tiên, nhóm nghiên cứu lựa chọn một loạt hình ảnh phản ánh đời sống thường nhật ở Tanzania, chẳng hạn như một công trình xây dựng đang dở dang. Những hình ảnh này sau đó được đưa vào cả hai bối cảnh: một là trong các cuộc phỏng vấn người dân Tanzania để ghi nhận cách họ nhìn nhận hình ảnh đó từ góc nhìn nội tại; hai là trong các buổi học tại Đức, nơi học sinh được yêu cầu mô tả và đánh giá các hình ảnh tương tự.

Kết quả cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong cách nhìn nhận giữa hai nhóm. Người dân Tanzania nhấn mạnh yếu tố kinh tế-xã hội, thói quen xây dựng theo giai đoạn, trong khi học sinh Đức có xu hướng diễn giải hình ảnh theo hướng tiêu cực, gắn liền với nghèo đói và lạc hậu. Dữ liệu này trở thành chất liệu quan trọng để nhóm nghiên cứu phát triển một đơn vị bài học mới, trong đó học sinh được tiếp xúc đồng thời với các hình ảnh và nhận xét từ cả hai nền văn hóa.

Các tiết học thí điểm được triển khai tại nhiều lớp học, có sự quan sát của nhóm nghiên cứu và được tiếp nối bằng phỏng vấn, thảo luận nhóm và đánh giá định tính. Sau mỗi chu kỳ giảng dạy, tài liệu học tập được điều chỉnh: các hình ảnh không hiệu quả bị loại bỏ, các câu hỏi thảo luận được thay đổi để khơi gợi suy nghĩ sâu hơn và quy trình dạy học được thiết kế lại để tăng cường sự tham gia cá nhân trước khi làm việc nhóm. Qua nhiều vòng cải tiến, đơn vị bài học dần đạt được hiệu quả mong muốn: học sinh bắt đầu thể hiện sự nhận thức rõ hơn về tính chủ quan trong cách nhìn nhận một không gian văn hóa khác biệt và phát triển tư duy phản biện đối với các hình ảnh quen thuộc.

Kết luận từ nghiên cứu tình huống cho thấy DBR là một mô hình nghiên cứu không chỉ có khả năng giải quyết vấn đề giảng dạy cụ thể mà còn đóng góp vào việc hình thành lý thuyết mới dựa trên thực tiễn. Phương pháp này cho phép các bên cùng đồng kiến tạo tri thức: giáo viên được tiếp cận với các công cụ nghiên cứu và có cơ hội phản tư sâu sắc về thực hành giảng dạy của mình, trong khi nhà nghiên cứu có thể hiểu rõ hơn về thực tiễn và phát triển các lý thuyết dạy học có tính ứng dụng cao.

Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc áp dụng DBR đòi hỏi thời gian, nguồn lực và sự cam kết lâu dài từ cả hai phía. Việc duy trì sự hợp tác bình đẳng, đảm bảo tính minh bạch và tôn trọng chuyên môn lẫn nhau là điều kiện tiên quyết để DBR phát huy hiệu quả. Dù vẫn còn một số thách thức trong chuẩn hóa phương pháp, công bố kết quả và tìm kiếm nguồn tài trợ, nhưng những gì DBR mang lại cho giáo dục - cả về mặt học thuật lẫn thực tiễn là rất đáng kể.

Như vậy, nghiên cứu làm rõ tiềm năng của Design-Based Research như một phương pháp nghiên cứu đổi mới trong giáo dục, góp phần thu hẹp khoảng cách giữa lý thuyết và thực hành, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển hóa tri thức học thuật thành giải pháp cụ thể cho các vấn đề dạy học trong bối cảnh thực tế. Với tính linh hoạt, tính hợp tác và định hướng giải pháp, DBR đang trở thành một trong những phương pháp nghiên cứu đáng chú ý trong đổi mới giáo dục thế kỷ XXI.

Hoàng Dũng lược dịch

Nguồn:

Barthmann, K., Schrüfer, G., & Eckstein, V. (2025). Design-Based Research - A Research Format for Educational Research. Vietnam Journal of Education9(Special Issue), 137-145. https://doi.org/10.52296/vje.2025.438


 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Blogger Templates