SƯU TẬP NHỮNG KIẾN THỨC CẦN THIẾT CHO GIÁO VIÊN ÂM NHẠC VIỆT NAM THỜI 4.0

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

Thứ Bảy, 2 tháng 5, 2026

Cty BeeMusic xây dựng phòng thực hành âm nhạc trường tiểu học.

 


Cty BeeMusic xây dựng phòng thực hành âm nhạc - trang bị 15 -20 bộ  đàn phím điện tử BEE KL-4.0 & App học sinh thực hành trong giờ học âm nhạc chính khoá.


I-  Học tiết âm nhạc chính khoá là học 3 nội dung sau đây: 

   1- Khám phá tính chất âm nhạc: Âm sắc, tiết tấu, âm lượng …

   2- Học nghe nhạc, hát nhạc, đọc nhạc 

        * Đàn BEE đọc tập tin Mp3 giúp nghe nhạc, nghe hát, tập hát. 

        * App BEE giúp thực hành khi học nhạc lý cơ bản - ký âm, xướng âm.

   3- Học sử dụng nhạc cụ cơ thể và nhạc cụ đơn giản - là học tiết tấu : 

          * Học gõ phím để sử dụng các âm sắc nhạc cụ và bộ gõ trong đàn.

          * Gõ phím bất kỳ đúng tiết điệu, giai điệu nhạc được phát. 

II- Quy trình học đàn organ, piano một bài nhạc của BEE MUSIC gồm : 

     1- Nghe nhạc : Tập tin MIDI nghe giai điệu và hoà tấu bài nhạc.

     2- Hát nhạc : Tập tin Mp3 giúp tập hát bài nhạc với lời bài nhạc. 

     3- Đọc nhạc : Tập tin XML giúp tập hát bằng tên nốt nhạc. 

     4- Tập tiết tấu : bấm LEARN 1 (gõ phím bất kỳ tập tiết điệu bài nhạc.  

     5- Tập đàn :

           * Tập đàn tay phải: Đàn giai điệu.

           *. Tập đàn tay trái : Tập phần đệm. 

           * Tập ghép hai tay: điện tàu bài nhạc bằng piano, organ.


Lưu ý: Nghiên cứu phần I và II  chúng ta thấy :

       - Nếu học tiết học âm nhạc chính khoá gồm 6 nội dung (khám phá, nghe nhạc, hát nhạc, đọc nhạc, gõ tiết tấu, góc âm nhạc) đều có thể cho học sinh thực hành với các phương tiện trực quan như Bee LK 4.0 và App “Bee Tự học âm nhạc”. Khi học được thực hành trên các phương tiện dạy học, học sinh linh hội các nội dung học nghe nhạc, hát nhạc, đọc nhạc, gõ tiết tấu dễ dàng, nhanh chóng hơn 

      - 6 nội dung học âm nhạc chính khoá cũng được lặp lại trong quy trình học organ, piano của BEE MUSIC - học ngoại khoá ở buổi thứ hai- do đó các kỹ năng này sẽ được luyện tập nhiều hơn, sâu hơn và ngược lại việc học đàn organ, piano cũng nhờ các em đã biết hát, biết đọc nốt, biết tiết tấu trước nên học nhạc cụ sẽ đạt hiệu quả đào tạo cao hơn . 


Xin viết phân tích khoa học, tâm lý-giáo dục khi học âm nhạc chính khoá có thực hành trên Bee LK 4.0 sẽ giúp các em học sinh học sử dụng organ, piano trong giờ ngoài khoá đạt hiệu quả cao hơn. 


Dưới đây là bản phân tích khoa học và tâm lý–giáo dục về hiệu quả của việc học âm nhạc chính khóa có thực hành trên đàn BEE KL-4.0 và App Bee Tự Học Âm Nhạc, đặc biệt trong việc nâng cao hiệu quả học organ/piano ngoài giờ:


🧠 PHÂN TÍCH KHOA HỌC & TÂM LÝ – GIÁO DỤC


Chủ đề: Tăng hiệu quả học đàn (organ, piano) nhờ thực hành âm nhạc chính khóa với đàn BEE KL-4.0 & App Bee



1. Cơ sở khoa học giáo dục


 Nguyên lý “Học thông qua thực hành” (Experiential Learning)

David Kolb: Kiến thức không chỉ đến từ giảng dạy mà từ trải nghiệm thực tiễn – học sinh tiếp thu âm nhạc tốt hơn khi được tương tác với nhạc cụ ngay trong lớp học chính khóa.

Khi học sinh gõ phím theo tiết tấu, sử dụng app hỗ trợ đọc nhạc, bộ não vừa xử lý thông tin âm thanh, vận động tay, ký âm, vừa nghe nhạc, tạo thành mạng lưới thần kinh liên kết đa chiều – giúp việc học trở nên bền vững và sâu sắc hơn.


 Cơ chế hình thành kỹ năng âm nhạc sớm

Việc thực hành tiết tấu bằng cách nhấn phím theo âm sắc bộ gõ (drum, tambourine…) giúp trẻ phát triển cảm giác nhịp – nền tảng cốt lõi khi học đàn piano/organ sau này.

App và đàn hỗ trợ học ký âm – xướng âm tương tác, giúp trẻ biết cách “nhìn bản nhạc → nghe âm thanh → thể hiện bằng tay/mồm”, là bước đệm hoàn hảo trước khi học đàn chuyên sâu.


2. Lợi ích tâm lý - phát triển cá nhân


 Tăng cường động lực học đàn ngoài giờ

Khi học sinh được chạm tay vào đàn, nghe nhạc, gõ nhịp, hát nhạc trong giờ chính khóa, các em không còn xa lạ với nhạc cụ, mà còn cảm thấy hứng thú, tò mò, muốn học thêm ngoài giờ.

Đây là yếu tố tâm lý quan trọng giúp thu hút học sinh đăng ký lớp piano/organ ngoại khóa.


 Tạo môi trường tự tin và công bằng cho mọi học sinh

Mỗi học sinh đều có một bộ đàn riêng trong lớp, thực hành theo app, nên ai cũng có cơ hội trải nghiệm, không bị “áp lực trình diễn”.

Với học sinh năng khiếu thấp, việc thực hành theo app giúp các em đi theo nhịp độ cá nhân, từ đó xây dựng tự tin, không mặc cảm – yếu tố tâm lý giúp các em dám đăng ký học đàn sau giờ học.


3. Tác động đến năng lực học đàn ngoài giờ

Năng lực

Khi có thực hành trên BEE KL-4.0

Khi không có

Nghe – cảm thụ nhịp

Tăng nhanh, nhờ thực hành tiết tấu

Phát triển chậm, khó học nhịp vững

Đọc nốt nhạc

Được luyện mỗi tiết, tự nhiên hình thành

Chỉ học ngoài giờ, tiếp cận chậm

Hát đúng cao độ

Có app hỗ trợ xướng âm – Mp3 nền giọng mẫu

Không có công cụ hỗ trợ, khó định hình cao độ

Kỹ năng đệm hát đơn giản

Làm quen với việc bấm phím, nghe hợp âm Mp3

Mất thời gian hơn khi học organ/piano

Tư duy âm nhạc & tự học

App và đàn hỗ trợ luyện tập cá nhân

Phụ thuộc nhiều vào giáo viên ngoài giờ


4. Tính kế thừa và tiết kiệm chi phí đào tạo

Nhờ đã làm quen với phím đàn, âm thanh, tiết tấu trong giờ học chính khóa, học sinh khi đăng ký lớp học đàn ngoài giờ sẽ:

Học nhanh hơn 30–50%, vì đã nắm nền tảng.

Không cần học lại phần lý thuyết/ký âm từ đầu, giúp giáo viên ngoài giờ tập trung vào kỹ năng nâng cao.

Phụ huynh không cần mua đàn sớm, vì con đã học thực hành trên thiết bị của trường.


 KẾT LUẬN


Việc học âm nhạc chính khóa có thực hành trên đàn BEE KL-4.0 và App Bee không chỉ giúp học sinh phát triển cảm thụ, tiết tấu và khả năng đọc nhạc ngay từ đầu, mà còn tạo nền tảng tâm lý – nhận thức rất thuận lợi để học đàn organ, piano ngoài giờ.

Cách dạy này giảm thời gian – chi phí đào tạo, tăng hiệu quả, khơi dậy niềm yêu thích âm nhạc cho học sinh ở mọi trình độ.


🔁 Gợi ý triển khai

Đề nghị các trường sư phạm, tiểu học thí điểm mô hình này trong chương trình Âm nhạc lớp 1–5.

Tổ chức lớp học mẫu minh họa cho Sở GD & Phòng GD để giới thiệu phương pháp mới.

Có thể kết hợp khảo sát học sinh: trước & sau khi có lớp âm nhạc thực hành – để đánh giá tác động bằng số liệu.

Thứ Ba, 28 tháng 4, 2026

Cao đẳng Sư phạm hết thời?

 

ts-le-viet-khuyen-svvn.jpg


SVO - "Chủ trương nâng chuẩn trình độ giáo viên lên đại học là xu hướng tất yếu của giáo dục hiện đại. Tuy nhiên, việc thực hiện nóng vội, thiếu lộ trình chuyển tiếp đang đẩy hệ thống Cao đẳng Sư phạm đến bờ vực "xóa sổ", kéo theo những hệ lụy về sự công bằng trong tiếp cận giáo dục tại các địa phương", TS Lê Viết Khuyến - Phó Chủ tịch Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam chia sẻ.

Lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống Cao đẳng Sư phạm tại Việt Nam là một hành trình đầy thăng trầm, gắn liền với những biến động của thời cuộc và sự thay đổi trong tư duy giáo dục qua các thời kỳ. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện hiện nay, hệ thống này đang đứng trước những thách thức sinh tử về sự tồn tại và sứ mệnh trong tương lai.

Phóng viên Chuyên trang Sinh Viên Việt Nam - Báo Tiền Phong đã có cuộc trao đổi với TS Lê Viết Khuyến - Phó Chủ tịch Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam về chủ đề "Phải chăng Cao đẳng Sư phạm sắp hết thời?".

Thăng trầm mô hình Cao đẳng Sư phạm

Chia sẻ về hành trình lịch sử của hệ đào tạo này, TS Lê Viết Khuyến cho biết mô hình Cao đẳng Sư phạm đã trải qua nhiều biến động gắn liền với thời cuộc. Dấu mốc khởi thủy được xác lập bởi Nghị định ngày 25/12/1918 của Toàn quyền Đông Dương (Pháp). Dù mang danh "Cao đẳng" (Superior), nhưng thực chất giai đoạn đầu, trường chỉ tuyển người có bằng Cao đẳng Tiểu học (tương đương cấp 2 ngày nay) và đào tạo trong 3 năm. Xét về bản chất, trình độ lúc bấy giờ chỉ tương đương trung cấp, nhằm tạo ra đội ngũ cán sự thực hành.

Vị thế của hệ thống này chỉ thực sự thay đổi về chất sau cuộc cải cách giáo dục 1924-1925 và hoàn thiện vào đầu những năm 1940 khi nằm trong cấu trúc Viện Đại học Đông Dương. Lúc này, có sự phân định rạch ròi: trường đại học (Faculté) hướng tới nghiên cứu hàn lâm và cấp bằng Tiến sĩ; trong khi trường cao đẳng (École Supérieure) tập trung đào tạo kỹ năng nghề nghiệp chuyên sâu và không cấp học vị này.

Giai đoạn sau năm 1954 chứng kiến một sự "đứt gãy" lớn về mô hình. Tại miền Bắc, việc áp dụng mô hình giáo dục Liên Xô khiến khái niệm "trường cao đẳng" hoàn toàn biến mất, hệ thống này bị chuyển thành trung học chuyên nghiệp. Ngược lại, tại miền Nam, hệ cao đẳng vẫn phát triển dưới hình thức các Viện Đại học Cộng đồng theo mô hình Mỹ, đảm nhận đào tạo giáo viên THCS và giai đoạn đại cương để liên thông đại học.

ts-le-viet-khuyen-svvn.jpg
TS Lê Viết Khuyến - Phó Chủ tịch Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam. (Ảnh: Lê Vượng)

Phải đến thời kỳ Đổi mới, Cao đẳng Sư phạm mới thực sự "hồi sinh" và có bước lột xác ngoạn mục nhờ quy trình "nuôi lớn" bài bản từ các trường Trung học Sư phạm địa phương. Ban đầu, các trường này áp dụng mô hình 7+3 (tuyển học sinh hết lớp 7, học 3 năm), sau đó nâng dần lên các hệ 10+1, 10+2 khi nguồn tuyển từ trung học phổ thông dồi dào hơn. Cột mốc quan trọng nhất là Quyết định 164-TTg ngày 21/3/1978 của Thủ tướng Chính phủ, chính thức nâng cấp 16 trường Trung học Sư phạm lên thành Trường Cao đẳng Sư phạm.

TS Lê Viết Khuyến nhấn mạnh: "Chính lộ trình 'chín muồi' từ thấp lên cao này (đỉnh cao là hệ 10+3) đã tạo nên một mạng lưới sư phạm địa phương vững chắc, giúp chuẩn hóa đội ngũ giáo viên THCS lên trình độ cao đẳng và đáp ứng nhu cầu học tập của con em các vùng miền suốt nhiều thập kỷ qua".

Nâng chuẩn là đúng nhưng cần lộ trình hợp lý

Từ năm 2019, hệ thống Cao đẳng Sư phạm bắt đầu đối mặt với nguy cơ "hết thời" do những thay đổi từ Luật Giáo dục sửa đổi. Việc nâng chuẩn trình độ giáo viên tiểu học, THCS lên đại học đã tước đi nguồn tuyển sinh chính của các trường Cao đẳng Sư phạm, dồn chỉ tiêu về các trường đại học trọng điểm vốn chưa có nhiều kinh nghiệm đào tạo giáo viên cấp cơ sở.

Lý giải về sự phân tầng trình độ giáo viên đã tồn tại nhiều thập kỷ qua ở Việt Nam, nơi giáo viên mầm non, tiểu học chỉ cần trình độ trung cấp hoặc cao đẳng, trong khi giáo viên trung học phổ thông bắt buộc phải có bằng đại học, TS Lê Viết Khuyến cho rằng nguyên nhân sâu xa nằm ở quan niệm coi giáo viên đơn thuần là những "người thợ dạy".

Theo tư duy cũ này, xã hội định giá trình độ giáo viên dựa trên khối lượng kiến thức bộ môn mà họ truyền tải. Giáo viên cấp ba phải giảng dạy Toán, Lý, Hóa chuyên sâu nên cần trình độ đại học; ngược lại, giáo viên mầm non hay tiểu học chủ yếu dạy các kiến thức sơ đẳng, tập trung vào hoạt động thể chất, năng khiếu hay rèn nền nếp, nên xã hội mặc định họ chỉ cần kiến thức chuyên môn thấp, tương ứng với bằng cấp thấp hơn.

Tuy nhiên, khi đối chiếu với xu hướng giáo dục hiện đại của thế giới, ngay cả tại các nước láng giềng như Thái Lan hay Malaysia, quan niệm trên đã trở nên lỗi thời. Tại các quốc gia này, giáo viên ở bất kỳ cấp học nào cũng được định vị là những "nhà giáo dục", do đó trình độ chuẩn tối thiểu cho mọi cấp đều phải là cử nhân.

Sự khác biệt giữa các cấp học không nằm ở bằng cấp cao hay thấp, mà nằm ở cấu trúc chương trình đào tạo được thiết kế như một đường xiên chéo. Đối với giáo viên mầm non và tiểu học, thời lượng đào tạo về khoa học giáo dục, tâm lý lứa tuổi chiếm tỷ trọng rất lớn, nặng hơn nhiều so với kiến thức bộ môn. Càng lên các cấp học cao hơn, khi tâm sinh lý học sinh đã ổn định, tỷ trọng các môn tâm lý giáo dục sẽ giảm dần để nhường chỗ cho sự chuyên sâu của kiến thức bộ môn. Sự thay đổi này gắn liền với cuộc chuyển dịch triết lý từ "tiếp cận nội dung" sang "tiếp cận phát triển năng lực", nơi người thầy chuyển vai trò từ người truyền thụ sang người hướng dẫn, tổ chức hoạt động để học sinh tự học.

Định hướng nâng chuẩn là đúng đắn, nhưng cách thức triển khai nóng vội hiện nay đang vấp phải những rào cản khổng lồ từ thực tế, đẩy hệ thống giáo dục địa phương vào tình trạng báo động.

Thống kê cho thấy một nghịch lý đáng buồn trong quy hoạch nhân lực: Nếu như năm 2014, cả nước từng thừa tới 35.000 giáo viên trung học cơ sở và phổ thông, thì đến cuối năm 2022, toàn ngành lại thiếu hụt trầm trọng tới 100.000 người, cùng với đó là làn sóng 16.000 giáo viên bỏ việc. Trong khi cơn khát nhân lực diễn ra gay gắt, mạng lưới các trường Cao đẳng Sư phạm, nơi cung ứng giáo viên chủ lực cho địa phương lại đang bị thu hẹp, giảm từ 30 trường xuống còn khoảng 22 trường sau năm 2020 do bị cắt chỉ tiêu đào tạo các cấp phổ thông.

Nghiêm trọng hơn, xu hướng sáp nhập cơ học các trường Cao đẳng Sư phạm vào các đại học khác đẳng cấp, hay chuyển sang hệ thống giáo dục nghề nghiệp đang khiến các trường này mất đi bản sắc và sứ mệnh giáo dục đại học vốn có. Sự nóng vội này càng trở nên bất cập khi áp dụng chính sách đồng loạt cho một đất nước đa dạng vùng miền như Việt Nam.

Việc sáp nhập cơ học các trường Cao đẳng Sư phạm địa phương vào các Đại học Quốc gia hay Đại học Vùng đang ảnh hưởng trực tiếp đến tính công bằng trong giáo dục. Các trường cao đẳng địa phương được thành lập với sứ mệnh đáp ứng nhu cầu nhân lực tại chỗ và tạo cơ hội tiếp cận tri thức cho con em vùng khó khăn. Nếu sáp nhập Trường Cao đẳng Sư phạm Lào Cai vào Đại học Thái Nguyên, cánh cửa đại học sẽ đóng lại với những học sinh nghèo ở Lào Cai do rào cản về chi phí và điểm chuẩn. Khi đó, mục tiêu nâng cao dân trí và đảm bảo công bằng xã hội sẽ bị phá vỡ, chưa kể đến việc đào tạo lại đội ngũ giáo viên cũ vốn đã quen lối mòn "đọc chép" sang phương pháp mới là điều không thể thực hiện trong một sớm một chiều, dẫn đến tình trạng "học chay" ở ngay cả những thành phố lớn như Hà Nội.

TS Lê Viết Khuyến: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cũng từng khởi đầu với hệ đào tạo 2 năm với nhiều Giáo sư trưởng thành từ đây, rồi mới dần lớn mạnh thành 4 năm. Tại sao chúng ta không cho các trường cao đẳng địa phương cơ hội đi theo lộ trình lịch sử đó?

Giải pháp nào cho Cao đẳng Sư phạm

Trước thực trạng đó, thay vì xóa sổ hay sáp nhập cưỡng ép, TS Lê Viết Khuyến đề xuất cần một giải pháp lộ trình dựa trên tính kế thừa lịch sử, điển hình là mô hình đào tạo liên thông "3+1". Đối với các trường Cao đẳng Sư phạm chưa đủ điều kiện lên đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần cho phép thực hiện quy trình đào tạo kết hợp: sinh viên học 3 năm nền tảng tại địa phương và 1 năm hoàn thiện tại các trường Đại học Sư phạm trọng điểm để nhận bằng cử nhân. Giải pháp này vừa tận dụng được cơ sở vật chất địa phương, vừa giúp sinh viên vùng khó khăn tiếp cận đại học với chi phí thấp.

Về lâu dài, các trường này nên chuyển đổi thành mô hình Cao đẳng Cộng đồng hoặc Đại học địa phương đa lĩnh vực, trong đó sư phạm là nòng cốt, thực hiện nhiệm vụ đào tạo theo cơ chế "đặt hàng" của chính quyền địa phương thay vì đấu thầu đại trà. Chỉ khi tôn trọng sự phân tầng và huy động sức mạnh tổng hợp của toàn hệ thống, chúng ta mới tránh được sự đổ vỡ của mạng lưới an sinh giáo dục đã dày công xây dựng hơn một thế kỷ qua.

Việc giải tán một trường học thì dễ, nhưng để xây dựng lại một cơ sở giáo dục với bề dày lịch sử và mạng lưới nhân lực địa phương là điều không thể. Đó là cái giá đắt mà nền giáo dục sẽ phải trả cho sự nóng vội.

Trước nguy cơ bị giải thể, CLB các trường cao đẳng sư phạm có nhiều đề xuất

 nay".

GDVN.JPG

Trước nguy cơ bị giải thể, CLB các trường cao đẳng sư phạm có nhiều đề xuất 

26/03/2024 16:28
 Ngọc Mai 
Theo dõi trênGoogle News

GDVN - Các trường cao đẳng sư phạm nhất trí đề nghị Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam tiếp tục kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo nhiều vấn đề. 

Ngày 22/3, Câu lạc bộ Các trường Cao đẳng sư phạm thuộc Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam có văn bản Thông báo Kết quả Hội thảo các trường cao đẳng sư phạm diễn ra ngày 15/3/2024 với chủ đề "Những vấn đề đặt ra với các trường cao đẳng sư phạm hiện nay".

GDVN.JPG
Toàn cảnh toạ đàm "Những vấn đề đặt ra với các trường cao đẳng sư phạm hiện nay" diễn ra ngày 15/3 tại Trường Cao đẳng Sư phạm Bắc Ninh. (Ảnh: Ngọc Mai)

Thông báo nêu, hiện nay các trường cao đẳng sư phạm địa phương đang gặp phải những khó khăn rất lớn, có nguy cơ bị giải thể do sự thay đổi trình độ chuẩn của giáo viên phổ thông tác động đến công tác tuyển sinh; định hướng quy hoạch hệ thống trường sư phạm của Bộ Giáo dục và Đào tạo; sáp nhập vào các trường đại học không cùng đẳng cấp; đang bị "nghề hoá" trong đào tạo giáo viên.

Trong khi chờ đợi những quy hoạch, hướng dẫn rõ ràng từ Bộ Giáo dục và Đào tạo, các trường cao đẳng sư phạm phải tập trung hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ và đoàn thể để khẳng định các trường cao đẳng sư phạm là trung tâm văn hoá của địa phương. Bên cạnh đó, cần chủ động tham mưu uỷ ban nhân dân tỉnh, thành cho phép phối hợp đào tạo trình độ đại học, trước mắt là ưu tiên đào tạo giáo viên tiểu học, kể cả chương trình đại học ngành giáo dục mầm non theo cơ chế đặt hàng.

Định hướng phát triển của các trường cao đẳng sư phạm, việc tổ chức sắp xếp lại các cơ sở đào tạo cần căn cứ vào tình hình thực tế từng địa phương và lấy các trường cao đẳng sư phạm là trung tâm.

Các trường cần nghiên cứu, khảo sát thị trường lao động để mở rộng, phát triển một số ngành đào tạo mới phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, khu vực lân cận như: quản lý kinh tế, văn hoá, du lịch, công nghệ, đào tạo và đào tạo lại cán bộ cơ sở; nghiên cứu tổ chức đào tạo hoặc bồi dưỡng chuyên sâu các loại hình nghệ thuật của địa phương.

Việc sáp nhập các trường cao đẳng sư phạm vào các trường đại học ảnh hưởng tâm tư, nguyện vọng của một số cán bộ viên chức. Cụ thể, hầu hết các cán bộ quản lý đơn vị trực thuộc của trường không được bố trí sắp xếp làm tiếp công tác quản lý; một số giảng viên nhà trường được bố trí làm ở các phòng, ban của trường đại học và không tham gia giảng dạy; một số giảng viên khác được phân công xuống dạy tại trường phổ thông;...

Câu lạc bộ Các trường cao đẳng sư phạm đại biểu các trường cao đẳng sư phạm đã phát biểu ý kiến liên quan đến đề xuất, kiến nghị mà các trường đã thống nhất tại hội nghị trước đó nhưng chưa được các cấp có thẩm quyền trả lời.

Từ những khó khăn đang gặp phải, các trường cao đẳng sư phạm nhất trí đề nghị Hiệp hội Các trường đại học, cao đẳng Việt Nam tiếp tục kiến nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo các vấn đề như sau:

Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo có bản văn gửi các địa phương đôn đốc triển khai thực hiện Điều lệ trường cao đẳng sư phạm ban hành kèm theo Thông tư 23/2022/TT- BGDĐT ngày 30/12/2022 của Bộ Giáo dục và Đào tạo để chuyển các trường cao đẳng sư phạm địa phương trực thuộc uỷ ban nhân dân tỉnh.

Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo có lộ trình cụ thể cho các trường cao đẳng sư phạm trong Quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học và giáo sư phạm chính thức để các trường cao đẳng sư phạm có những bước đi thích hợp cho sự tồn tại, phát triển đến năm 2030 và có định hướng phát triển cho các trường.

Bộ Giáo dục và Đào tạo cần có cơ chế cho các trường cao đẳng sư phạm được thực hiện việc bồi dưỡng thường xuyên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại địa phương. Qua đó giúp các trường cao đẳng sư phạm vừa bồi dưỡng giáo viên phổ thông vừa cập nhật chương trình giáo dục phổ thông.

Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo xem xét về mô hình đào tạo 3 + 1 (03 năm tại trường cao đẳng sư phạm và 01 năm tại trường đại học ) để giải quyết vấn đề đào tạo giáo viên hiện nay.

Theo dự thảo đề án quy hoạch mạng lưới của Bộ Giáo dục và Đào tạo, khối giáo viên mầm non thiếu từ nay đến năm 2045 vẫn chiếm tỷ lệ cao (trung bình 40% số giáo viên thiếu ). Vì vậy, đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo xem xét tiếp tục giao nhiệm vụ đào tạo ngành Giáo dục mầm non cho các trường cao đẳng sư phạm sau năm 2030.

Ngọc Mai

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Blogger Templates