SƯU TẬP NHỮNG KIẾN THỨC CẦN THIẾT CHO GIÁO VIÊN ÂM NHẠC VIỆT NAM THỜI 4.0

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

Thứ Hai, 30 tháng 9, 2019

Khẳng định năng lực, phẩm chất người thầy


Khẳng định năng lực, phẩm chất người thầy
GD&TĐ - Đổi mới và hội nhập giáo dục quốc tế đang đòi hỏi sự chuyển biến mạnh mẽ quá trình giáo dục từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực phẩm chất người học. Để đáp ứng được yêu cầu đó, một trong những vai trò quyết định chính là năng lực của đội ngũ giáo viên.
Thách thức nhìn từ đội ngũ
Phân tích dưới góc độ nghiệp vụ nhà giáo cho thấy, hiện nay số đông giáo viên đã thể hiện được đặc trưng nghề nghiệp của mình, luôn khát khao học hỏi, mong muốn làm giàu tri thức khoa học, tri thức đời sống cho bản thân.
Họ luôn là tấm gương sáng về học suốt đời, luôn chủ động sáng tạo khi tiếp cận mọi đối tượng học sinh. Những phương pháp giáo dục hiện đại giáo viên luôn tiếp cận, chú ý vận dụng trong thực tế. Nhiều thầy cô đã tự đúc rút cho mình những bài học kinh nghiệm, chủ động đổi mới và nâng cao năng lực trình độ bản thân…
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm thì cũng còn những nhược điểm như: Còn không ít giáo viên chưa thể hiện được đặc trưng nghề nghiệp của mình. Thậm chí còn mắc bệnh nghề nghiệp như chạy theo lý thuyết kinh điển, bám vào tri thức có sẵn trong sách giáo khoa, thiếu gắn với thực tiễn đời sống, luôn cho mình là đúng coi thường đóng góp của đồng nghiệp, khó chịu với những thắc mắc của học sinh…
Đặc biệt, mặc dù ngành Giáo dục đào tạo đang trong quá trình đổi mới căn bản toàn diện, hội nhập với thế giới nhưng vẫn còn không ít giáo viên chậm chạp trong thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy, phương pháp giáo dục. Thiếu chủ động, tự giác với vấn đề tập huấn, huấn luyện nghiệp vụ của cơ sở giáo dục hoặc cơ quan quản lý giáo dục…
Trong khi đó, theo ThS. Lê Đình Bình – Trường Cán bộ Quản lí Giáo dục TPHCM, người giáo viên trong nhà trường phổ thông hiện nay đang đòi hỏi không chỉ là người làm nhiệm vụ cung cấp thông tin và truyền thụ kiến thức, mà phải trở thành người tổ chức, hướng dẫn quá trình học tập của người học.
Từ những vị trí vai trò của người học và người dạy trong những hoàn cảnh biến đổi nhanh, phức tạp đòi hỏi người giáo viên phải được trang bị vững vàng kiến thức chuyên môn và năng lực sư phạm, khả năng đáp ứng linh hoạt và hiệu quả trước những yêu cầu đổi mới và hội nhập…
Chìa khóa của đổi mới, hội nhập
Phát triển năng lực nghề nghiệp cho giáo viên trước yêu cầu đổi mới và hội nhập là điều kiện tiên quyết để thành công. ThS. Lê Đình Bình, cho rằng: Do thay đổi về cơ chế phát triển giáo dục gắn liền với trình độ phát triển cao của nền kinh tế - xã hội và của các lĩnh vực khác, giáo dục trên thế giới đang diễn ra những xu hướng mới cần được nhận thức đầy đủ và sâu sắc trong nhận thức và tận dụng thực tiễn…
Yêu cầu đối với người giáo viên trường trung học phổ thông luôn phải nâng cao trí tuệ, năng lực và kĩ năng tổ chức thực hiện các hoạt động dạy – học phù hợp với nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập quốc tế.
Trong nhà trường người giáo viên cần phải biết tổ chức các hoạt động giáo dục, theo hướng coi trọng giáo dục đạo đức, truyền thống dân tộc cho học sinh. Do vậy, những yêu cầu cần có đối với giáo viên phải gắn liền với các tiêu chí nhất định về phẩm chất và năng lực.
Đứng trước yêu cầu đổi mới và hội nhập của giáo dục vấn đề phát triển năng lực nghề nghiệp cho giáo viên cần chú trọng trên hai mặt là năng lực chuyên môn và năng lực nghiên cứu khoa học.
Khi năng lực chuyên môn được phát triển sẽ giúp giáo viên có kiến thức phù hợp với yêu cầu, trong những lĩnh vực mà người giáo viên đó đảm nhận để tổ chức hoạt động dạy học hiệu quả…Mặt khác, vai trò của chuyên môn là để hỗ trợ giáo viên trong việc xây dựng lí thuyết và kĩ năng thực hành sư phạm, giúp học sinh phát triển năng lực nghề nghiệp của mình trong lĩnh vực dạy học.
Phát triển năng lực chuyên môn của người giáo viên cũng đồng nghĩa với phát triển các năng lực cơ bản như: Năng lực sư phạm; Năng lực sử dụng phương pháp giảng dạy; Năng lực tương tác với người học; Năng lực chia sẻ thông tin với đồng nghiệp.
Nếu giáo viên được hình thành các năng lực sư phạm nhất định trong đào tạo sẽ giúp họ được tiếp thu kiến thức về phương pháp giảng dạy tích cực thông qua nghiên cứu bồi dưỡng cũng như kinh nghiệm trong thực tiễn. Và trên cơ sở đó kiến thức được trải nghiệm trong thực tiễn dạy – học, năng lực của giáo viên ngày càng phát triển.
Với năng lực sử dụng phương pháp giảng dạy giúp giáo viên có được những kĩ năng cơ bản như: kĩ năng tự học, tự nghiên cứu; Kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin; Kĩ năng hợp tác trong dạy học; Kĩ năng giải quyết vấn đề…
Năng lực tương tác với người học buộc giáo viên phải nắm vững phương thức dạy học tương tác, lấy người học làm trung tâm, tổ chức dạy học tương tác phù hợp với môi trường… Người dạy học tương tác đóng vai trò tổ chức, hỗ trợ tư vấn cho người học. Thông qua hoạt động tương tác với đối tượng nhận thức, người học tự kiến tạo tri thức và cấu trúc nhận thức bên trong của mình…
Phát triển năng lực nghiên cứu khoa học – công nghệ cũng vô cùng cần thiết. Hoạt động nghiên cứu KHCN góp phần quan trọng vào việc nâng cao trình độ, năng lực cho giáo viên qua đó nâng cao được chất lượng dạy học, công việc giảng dạy phải gắn liền với nghiên cứu khoa học.
Nghiên cứu để khám phá, nghiên cứu để phát huy năng lực, trí tuệ, nghiên cứu để đào tạo lại chính bản thân giáo viên. Đây là con đường ngắn nhất để không ngừng tích lũy kiến thức, gọt sắc tư duy góp phần tìm ra những hình thức, biện pháp thích hợp truyền đạt tri thức tới người học.
Phát triển năng lực nghề nghiệp thành công cho giáo viên có tác động tích cực đến chất lượng hiệu quả học tập của học sinh. Vì vậy phát triển năng lực nghề nghiệp cho giáo viên là yếu tố quan trọng là điều kiện tiên quyết làm nên công cuộc đổi mới giáo dục và quyết định sự thành bại trong đổi mới giáo dục, là chìa khóa để hội nhập và có tác động lớn đến các nỗ lực, để xác định vị trí khu vực của Việt Nam trong nền kinh tế tri thức toàn cầu, thúc đẩy hội nhập khu vực và quốc tế. 
Trí Đức

Đổi mới Giáo dục: Năng lực giáo viên quyết định thành công


Sinh viên Trường ĐH Sư phạm Hà Nội học tập tại trung tâm thư viện. Ảnh: Hữu CườngSinh viên Trường ĐH Sư phạm Hà Nội học tập tại trung tâm thư viện. Ảnh: Hữu Cường
GD&TĐ - Trước yêu cầu đổi mới GDPT, các trường sư phạm cần đào tạo ra những giáo viên có các năng lực như: Dạy học tích hợp, dạy học phân hóa, tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo... Vì thế, chìa khóa quan trọng trước hết là tập trung phát triển năng lực của giáo viên đáp ứng yêu cầu đổi mới GD.
Bồi dưỡng, tập huấn giáo viên được ưu tiên hàng đầu
PGS.TS Nguyễn Vũ Bích Hiền, Trưởng khoa Quản lý Giáo dục, Trường ĐHSP Hà Nội cho biết: Trước đòi hỏi cấp bách trong việc bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý GD, các trường sư phạm trong đó có Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã và đang tích cực tham gia vào việc thiết kế chương trình, triển khai tổ chức bồi dưỡng tập huấn cho giáo viên phổ thông.
Điều này không phải bây giờ mới thực hiện, mà đã được triển khai ngay từ khi chương trình GDPT mới được dự thảo và liên tục bồi dưỡng theo tiến độ cập nhật của chương trình. Khi chương trình GDPT tổng thể được ban hành, các nội dung bồi dưỡng càng ngày càng cụ thể hơn, tiến gần hơn tới chương trình chi tiết và kế hoạch thực hiện.
Theo PGS.TS Nguyễn Vũ Bích Hiền, một điều rất thuận lợi cho các trường sư phạm trong việc xây dựng chương trình bồi dưỡng giáo viên là giảng viên của các trường sư phạm, cũng là lực lượng chính tham gia biên soạn Chương trình GDPT mới. Họ là người hiểu rất rõ về chương trình môn học và biết phải làm thế nào để thực hiện chương trình hiệu quả.
 SV sư phạm trên giảng đường. Ảnh: Internet
Xây dựng chương trình bồi dưỡng linh hoạt
Theo PGS.TS Nguyễn Vũ Bích Hiền, Chương trình mới cho phép giáo viên được tham gia nhiều hơn trong khâu thiết kế và lập kế hoạch thực hiện. Như vậy, năng lực của giáo viên phổ thông không chỉ dừng ở giảng dạy, mà còn là phát triển chương trình. Năng lực giáo viên quyết định rất lớn tới chất lượng cũng như hiệu quả của việc thực hiện chương trình trên thực tiễn.
 Để nâng cao năng lực của giáo viên phục vụ chương trình GDPT mới, bản thân các giảng viên sư phạm phải cập nhật và bám sát diễn biến thay đổi của chương trình. Nếu giảng viên sư phạm theo sau sự đổi mới và không tham gia vào tiến trình đổi mới chương trình GDPT thì khó có thể thực hiện tốt công tác bồi dưỡng giáo viên.
 
PGS.TS Nguyễn Vũ Bích Hiền chia sẻ.
Tuy nhiên, để nâng cao năng lực của giáo viên phục vụ chương trình GDPT mới, bản thân các giảng viên sư phạm phải cập nhật và bám sát diễn biến thay đổi của chương trình. Nếu giảng viên sư phạm theo sau sự đổi mới và không tham gia vào tiến trình đổi mới chương trình GDPT thì khó có thể thực hiện tốt công tác bồi dưỡng giáo viên.
Tiến độ xây dựng chương trình bồi dưỡng giáo viên cũng phải thuộc vào tiến độ hoàn thiện chương trình, SGK. Vì thế trường sư phạm đôi khi không thể chủ động đi trước những thay đổi về chương trình, SGK.
Chất lượng giáo viên đa dạng, thời gian giáo viên phổ thông có thể dành cho việc bồi dưỡng không nhiều, trong khi đó nội dung bồi dưỡng hoặc đào tạo lại có thể rất cần sự hệ thống và bài bản. Chính vì thế, một thách thức cho trường sư phạm là xây dựng được các chương trình bồi dưỡng bảo đảm yêu cầu chất lượng đầu ra nhưng với thời lượng và cách thực hiện linh hoạt để phù hợp với từng đối tượng và điều kiện thời gian hạn hẹp của người học.
Vai trò quyết định là năng lực người thầy
Trong đổi mới phương pháp giảng dạy của giáo viên, nhiều năm qua các dự án giáo dục của nước ngoài đã đầu tư vào Việt Nam, các chuyên gia giáo dục của nước ngoài đã đến Việt Nam và giúp giáo viên Việt Nam hiểu và thực hiện được đổi mới dạy học. Việc đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong nghiên cứu GD, bồi dưỡng giáo viên, nhất là trong bối cảnh đổi mới chương trình GDPT là rất cần thiết.
PGS.TS Nguyễn Vũ Bích Hiền cho biết, Chương trình GDPT mới có nhiều tiếp cận tiên tiến và học hỏi của nhiều nước có nền GD phát triển. Chính vì thế, những kinh nghiệm thành công của các quốc gia khác sẽ cho chúng ta bức tranh rõ ràng hơn về cách thức thực hiện đổi mới chương trình.
Vai trò quyết định nhất đối với GD vẫn thuộc về năng lực của người thầy. Kiến thức và năng lực của người thầy, phẩm chất và nhiệt huyết của người thầy sẽ luôn là yếu tố quyết định. Không có thầy giỏi cả về năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức thì khó có thể có một nền GD phát triển. Việc nâng cao phẩm chất và năng lực của đội ngũ giáo viên phổ thông là một trong những giải pháp thiết yếu, cơ bản để công cuộc đổi mới GD hiện nay thành công.
Lê Đăng

Giáo án theo yêu cầu phát triển năng lực


   Chương trình phổ thông mới học sinh cần đạt: 5 phẩm chất và 10 năng lực của học sinh cần đạt được

Chúng ta đang chuyển từ dạy học cung cấp kiến thức sang dạy học theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh. Xin chia sẻ bài viết của PGS. TS. Đỗ Ngọc Thống, Chủ biên Chương trình môn Ngữ văn mới vừa gửi từ Frankfurt (CHLB Đức) liên quan tới "kịch bản" lên lớp.


Giáo án nội dung và giáo án năng lực


Giáo án là sự hình dung kịch bản lên lớp của mỗi giáo viên (GV) với một đối tượng học sinh (HS) cụ thể và một nội dung cụ thể trong một không gian và thời gian cụ thể… Vì thế nó là sản phẩm cá nhân. Không có và không nên yêu cầu có một giáo án mẫu, chung cho tất cả mọi GV; chỉ cần thống nhất một số yêu cầu cốt lõi cần có, còn trình bày giáo án như thế nào tùy mỗi người.

Giáo án dạy học Ngữ văn theo yêu cầu phát triển năng lực (gọi tắt là giáo án năng lực) đương nhiên cần khác với giáo án dạy học chạy theo nội dung (gọi tắt là: giáo án nội dung).

Giáo án nội dung là giáo án nêu lên các nội dung bài dạy mà GV cần truyền thụ cho HS. Tức là trả lời câu hỏi: bài học gồm những nội dung gì? (dạy cái gì?).

Giáo án năng lực là giáo án nêu lên các hoạt động (công việc) mà GV tổ chức cho HS thực hiện để tìm ra nội dung cần học, qua đó mà biết cách học. Tức trả lời câu hỏi: bài học cần dạy bằng cách nào, thông các hoạt động nào?

Giáo án nội dung tập trung vào mục tiêu trang bị những kiến thức, hiểu biết của GV về một vấn đề nào đó cho HS; HS tiếp thu những kiến thức mà GV cung cấp một chiều và mang tính áp đặt (cũng có phát vấn và yêu cầu HS trao đổi…nhưng cuối cùng vẫn là ý kiến của GV), do đó hạn chế về cách học và tự học.

Giáo án năng lực tập trung vào mục tiêu hình thành và phát triển năng lực, HS thực hiện các hoạt động để tự tìm ra kiến thức, hiểu biết phù hợp với mình và qua đó biết cách học và biết tự học.

Giáo án nội dung giúp HS biết nhiều nhưng vận dụng được ít, làm và thực hiện rất lúng túng trong tình huống tương tự, nhất là ngữ cảnh và vật liệu mới.

Giáo án năng lực giúp HS biết có thể không nhiều nhưng vận dụng được, làm và thực hiện được trong tình huống tương tự, nhất là ngữ cảnh và vật liệu mới.

Các yêu cầu thiết yếu của một giáo án năng lực

Không có giáo án chung nhưng khi soạn bài cần phải đáp ứng một số yêu cầu cứng (bắt buộc). Giáo viên cần có quan niệm về giáo án năng lực một cách linh hoạt, vừa chú ý những yêu cầu cứng (bắt buộc) vừa dành khoảng trống cho sự sáng tạo, khác biệt của mỗi GV.

Yêu cầu cứng (cần có) của giáo án năng lực gồm những điểm sau đây:

a) Mục tiêu bài học cần hướng tới việc hình thành và phát triển năng lực, nhất là năng lực đặc thù của môn học. Cụ thể là mỗi bài học cần xác định mục tiêu phát triển năng lực cụ thể như thế nào? Với môn Ngữ văn là năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học cụ thể được phát triển qua bài học này như thế nào? Vì thế cần chú ý yêu cầu cần đạt về các năng lực này đã nêu trong chương trình mỗi lớp. Các năng lực lớn phải qua nhiều bài học mới hình thành được, nhưng mỗi bài học phải hướng tới các biểu hiện cụ thể của năng lực ấy và gắn với nội dung bài học cụ thể của giờ học ấy. Chú ý xác định mục tiêu phù hợp với đối tượng, tránh ôm đồm (nhiều) nội dung và yêu cầu quá sức (độ khó).

b) Tiến trình giờ học phải thông qua các hoạt động và bằng các hoạt động học tập là chính; trong đó HS phải tham gia hoạt động: tìm kiếm, phát hiện, nêu vấn đề, trao đổi, phản bác, chứng minh, phân tích…. rút ra nhận xét, kết luận của mình; GV là người nêu (giao) nhiệm vụ, hướng dẫn cách thức hoạt động và gợi mở, nêu ý kiến của mình khi cần thiết (đúng lúc, đúng chỗ). GV không làm thay, học thay cho HS; hạn chế diễn giảng, tránh áp đặt ý kiến của mình, tôn trọng ý kiến của HS, nhất là trong tiếp nhận văn bản…

Các hoạt động học tập phải bám sát và tập trung thực hiện mục tiêu đã đề ra, tránh tình trạng mục tiêu chỉ nêu cho có, không thấy hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu đã nêu. Mỗi mục tiêu có thể tổ chức một hoặc nhiều hoạt động. Nhưng nhìn chung không nên tổ chức quá nhiều hoạt động trong một giờ học. Muốn thế cần xác định mỗi bài học theo nguyên tắc vừa có diện (bề rộng), vừa có điểm (trọng tâm). Những nội dung diện dành ít thời gian, tập trung vào hoạt động trọng tâm. Ví dụ với bài đọc hiểu một tác phẩm văn học, diện chính là giúp HS nắm được bao quát chung để thấy tính chỉnh thể của tác phẩm, còn trọng tâm chính là một vài vấn đề sâu sắc và lý thú của tác phẩm. Không nên yêu cầu HS khai thác tràn lan tất cả mọi chi tiết, mọi vấn đề, mọi yếu tố hình thức thể loại của tác phẩm. Việc xác định trọng tâm ấy phụ thuộc vào trình độ của GV dựa trên mục tiêu, yêu cầu của bài học và đối tượng HS. Một văn bản- tác phẩm, nhất là các tác phẩm lớn có rất nhiều vấn đề cần khai thác, nhưng với từng đối tượng người học GV chỉ nên xác định một vài vấn đề thật thiết yếu và phù hợp; còn lại có thể gợi mở để HS tự tìm hiểu thêm. Vấn đề trọng tâm của mỗi bài học cần bám sát yêu cầu đọc hiểu của chương trình và nên trao đổi trong tổ nhóm để thống nhất chung. Ví dụ ít nhất giờ đọc hiểu phải chú đến các hoạt động trọng tâm như: i) Hướng dẫn HS tìm hiểu nội dung, ý nghĩa văn bản thông qua các hình thức nghệ thuật; ii) Hướng dẫn HS liên hệ, kết nối, so sánh với bối cảnh văn hóa xã hội và với những trải nghiệm của bản thân để gắn kết vấn đề đặt ra trong VB với người học… Hoạt động thứ nhất hướng tới yêu cầu hiểu khách thể (văn bản), hoạt động thứ hai hướng tới yêu cầu hiểu chủ thể (người đọc). Đọc hiểu không chỉ là hiểu văn bản mà còn hiểu chính mình.

c) Chú ý yêu cầu tích hợp và phân hóa, trước hết là tích hợp dạy học tiếng Việt trong cả nội dung đọc hiểu, viết và nghe, nói. Dạy tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp và nhằm phát triển năng lực đòi hỏi phải gắn các đơn vị kiến thức tiếng Việt vào ngữ cảnh và tình huống giao tiếp. Các kiến thức tiếng Việt phải phục vụ trực tiếp cho yêu cầu hiểu, cảm thụ, thưởng thức tác phẩm cũng như giúp cho kĩ năng viết và nghe nói đúng hơn, hay hơn và thuần thục hơn. Hạn chế tối đa việc dạy tiếng Việt chỉ để biết tiếng Việt, chỉ để nhận diện và miêu tả các đơn vị ngôn ngữ, để nhằm trở thành nhà ngôn ngữ học… Vì thế mỗi bài cần tìm hiểu kĩ ngữ liệu văn bản để xác định được các tình huống, ngữ cảnh xuất hiện các đơn vị tiếng Việt cần dạy, từ đó yêu cầu HS nhận diện, phân tích vai trò tác dụng và ý nghĩa của đơn vị tiếng Việt ấy gắn với văn cảnh cụ thể. Hoạt động đó vừa là dạy tiếng Việt theo hướng hành dụng, thiết thực, vừa đúng nguyên tắc tiếp nhận văn bản ngôn từ. Việc tích hợp với dạy học Ngữ văn còn cần tích hợp các vấn đề liên môn và xuyên môn. Tuy nhiên văn học chính là cuộc sống, nó hàm chứa trong đó tất cả các vấn đề xã hội và nhân sinh vì thế GV cứ dạy thật tốt giờ Ngữ văn cũng là đã thực hiện tích hợp các nội dung liên môn và xuyên môn rồi.

Yêu cầu phân hóa đòi hỏi giờ học cần có các nhiệm vụ, nội dung, cách thức tổ chức học tập phù hợp cho đối tượng HS: yếu kém, trung bình và khá giỏi. Muốn thế cần chú ý đến tâm lí lứa tuổi, trình độ nhận thức, hoàn cảnh cá nhân, khai thác vốn hiểu biết và sự trải nghiệm (tri thức nền) của người học.

Trên đây là những yêu cầu cốt lõi cần có với giáo án dạy học theo hướng phát triển năng lực nói chung, với môn Ngữ văn nói riêng. Tất cả các yêu cầu khác như các bước lên lớp, mở đầu và kết thúc, sử dụng thiết bị dạy học, hình thức dạy học, phương pháp và kĩ thuật dạy học… đều khuyến khích GV tự chủ, sáng tạo và không cần phải bắt buộc như nhau. Từ các điểm trên GV vận dụng vào các bài học một cách linh hoạt phù hợp với đặc trưng môn học.

Frankfurt 05-07-2019

Ổ cứng SSD sắp rẻ như cho nhờ công nghệ này của Intel và Toshiba


Công nghệ PLC mà Intel và Toshiba đang nghiên cứu có thể tăng khả năng lưu trữ và giảm giá thành ổ cứng SSD hiện nay.

PLC cho phép lưu trữ 5 bít trên mỗi tế bào NAND riêng. Công nghệ này chưa được thương mại hóa nên tất nhiên người dùng chưa thể mua ổ cứng PLC SSD.
Ổ cứng SSD sắp rẻ như cho nhờ công nghệ này của Intel và Toshiba
Ổ cứng sẽ rẻ hơn nhiều nhờ công nghệ mới
Tuy nhiên, PLC SSD cũng gặp phải vấn đề đáng lưu ý, đó là dù dung lượng lớn hơn và giá thành rẻ hơn, tốc độ đọc/ghi dữ liệu lại chậm hơn.
Intel và Toshiba chưa tiết lộ tốc độ của ổ cứng PLC SSD nhưng chắc chắn không nhanh hơn công nghệ hiện tại.
Ưu điểm của ổ cứng này chỉ là dung lượng và giá thành, được xem là giải pháp thay thế cho ổ cứng lưu trữ NAS và trung tâm dữ liệu, chứ không thể thay cho ổ SSD trên laptop và desktop vốn hướng tới tốc độ và hiệu suất cao hơn.
Hiện chưa rõ liên doanh Intel và Toshia bao giờ mới công bố công nghệ ổ cứng SSD mới, cũng như dung lượng/giá thành tăng/giảm bao nhiêu so với ổ cứng SSD hiện tại.

"Điều chỉnh thông tư dễ hơn sửa sách Công nghệ Giáo dục"


30/09/2019 16:09 GMT+7

Ngày 25/9, 5 ngày trước khi kết thúc thời hạn thẩm định các bộ sách giáo khoa (30/9), Bộ GD-ĐT có công văn trả lời ý kiến của PGS.TSKH Nguyễn Kế Hào về kết quả thẩm định sách giáo khoa do GS Hồ Ngọc Đại chủ biên. Sáng 30/9, VietNamNet đã có cuộc trao đổi với PGS.TSKH Nguyễn Kế Hào, cán bộ đại diện Trung tâm Công nghệ giáo dục sau khi ông nhận được phản hồi của Bộ GD-ĐT về kiến nghị của mình.

Ông có ý kiến gì trước phản hồi của Bộ GD-ĐT về kiến nghị việc bộ sách Công nghệ giáo dục của GS Hồ Ngọc Đại bị loại?

Tôi đã đọc kỹ câu trả lời của Bộ GD-ĐT và cảm thấy vẫn chưa thỏa đáng. Câu trả lời ấy mới chỉ nhắc lại các thông tư, nghị quyết mà chưa chạm đến 4 vấn đề chúng tôi đã nêu. Do vậy, chúng tôi sẽ tiếp tục kiến nghị lên Chính phủ về vấn đề này.

Tôi thấy buồn bởi như thế thì không thỏa đáng và không còn hy vọng. Trong khi đây là tâm huyết của các thế hệ Trung tâm Công nghệ giáo dục và cả các địa phương, giáo viên.

Nhưng đây là vì giáo dục. Đừng tưởng lớp 1 là đơn giản mà thực tế lại khó nhất trong dạy học, thậm chí khó hơn cả đào tạo tiến sĩ.

Tôi nghĩ trong trường hợp điều chỉnh Thông tư dễ hơn là sửa sách. Bởi sách phải qua 40 năm, gần cả cuộc đời, giờ nói sửa theo ý của người khác đâu có dễ.

Nếu theo quan điểm của Hội đồng thẩm định thì gọi là nhiều bộ sách nhưng thực chất chỉ là một, bởi tất cả vẫn theo một cái khung đó.

PGS.TSKH Nguyễn Kế Hào, cán bộ đại diện Trung tâm Công nghệ giáo dục, nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục Tiểu học (Bộ GD-ĐT). Ảnh: Anh Minh.

Ví dụ, sách Tiếng Việt, Hội đồng thẩm định đánh giá một số bài đọc dài. Nhưng có thể với học sinh này thấy dài thì chỉ đọc nửa bài nhưng học sinh khác đọc hết bài vẫn còn thừa thời gian. Như vậy có sự phân hóa, đáp ứng khả năng và điều kiện của mỗi học sinh để phát triển.

Hay trước đây người ta cứ bắt bẻ tại sao sách dùng là “bể” mà không phải là “biển”. Trong khi “bể” hay “biển” thì trong từ điển đều có cả chứ có sao đâu.

Hay là người ta bảo là học sinh chưa hiểu cao nhưng có phải cái gì cũng có thể và cần hiểu hết nghĩa ngay đâu. Bây giờ có nhiều thuật ngữ y học hay 4.0 chúng ta có biết đâu, nhưng phải chấp nhận tìm hiểu dần dần và hiểu biết hơn.

Việc sách khó hay dễ ra sao phải hỏi trẻ chứ? Bây giờ thời đại 4.0 hay 3G, 4G tôi chịu mặc dù là tiến sĩ khoa học. Nhưng trẻ con thì học được, nhập cuộc ngay được.

Tôi đi hết những vùng khó khăn Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ,… thấy học sinh dân tộc đều học sách này được cả. Và rồi đều đọc thông viết thạo, không tái mù chữ.

Bộ ít nhất phải có những đối thoại, tìm hiểu và coi trọng thực tiễn hơn các thông tư. Nhưng dường như Bộ đang “vô cảm” trước thực tiễn.

Chúng tôi thường xuyên đi khảo sát các trường học và nhận thấy, hơn 930.000 học sinh đang theo học Công nghệ giáo dục đều hạnh phúc vì chúng học đến đâu chắc đến đó, không tái mù chữ, đầu ra hơn quy định của Bộ; còn phụ huynh đều yên tâm vì “học sinh là trung tâm”, “đi học là hạnh phúc”.

Không đồng tình với những đánh giá của Hội đồng thẩm định, vậy ông nghĩ bộ SGK này cần phải được thẩm định theo những tiêu chí khác?

Đúng vậy! Nhưng tôi nói thì sẽ không khách quan nữa. Nhà Ngôn ngữ học là GS.TSKH Trần Ngọc Thêm đã từng nói: “Sách của GS Đại nên được thẩm định theo cách khác”. Có nghĩa là, không nên đòi hỏi tất cả bộ sách giáo khoa đều phải được biên soạn giống nhau đến từng nội dung, chi tiết. Nếu thẩm định theo cách như vậy, những bộ sách được thông qua của một môn học sẽ trở thành những biến thể của một bộ sách.



Đánh giá một cách khách quan, ông cho rằng bộ sách này còn những điểm hạn chế gì, và nếu có cần phải chỉnh sửa, hoàn thiện như thế nào?

Bộ sách này trước đó đã được nhiều hội đồng đánh giá. Năm 1990, Hội đồng quốc gia đã nghiệm thu đánh giá và đề nghị Bộ GD-ĐT cho triển khai ở những nơi có điều kiện. Đến năm 1994, Đề án Chuyển giao công nghệ giáo dục cũng đã được đánh giá và hoàn thiện đến lớp 3. Năm 2017, 2018 Bộ đã thành lập Hội đồng quốc gia để thẩm định khi dư luận dấy lên những luồng ý kiến trái chiều, sau đó Bộ cũng đã công nhận cho triển khai.

Những hội đồng trước đều đồng ý cho triển khai, nhưng đến hội đồng lần này lại 100% bỏ phiếu “Không đạt”. Tôi không hiểu được điều đó.




Về mặt thực tiến mọi người đều đón nhận. Điều đó đủ để thấy sức sống của bộ sách này như thế nào.

Theo tôi không có gì tròn trĩnh 100%, nhưng về mặt khoa học bộ sách này đã đánh giá nhiều lần, cũng đã kiểm chứng trong thực tiễn và được nghiệm thu.

Bộ sách đã ra đời khá lâu, nếu không sửa đổi để phù hợp theo chương trình mới, liệu có bị “cũ” khi áp dụng cho những năm tới?

Bộ sách này chưa bao giờ là cũ cả. Bây giờ người ta vẫn nói theo GS Hồ Ngọc Đại là “học sinh là trung tâm” –điều mà trước đây vào những năm 80 từng bị phản đối dữ dội. Hay câu nói “đi học là hạnh phúc”, “mỗi ngày đến trường náo nức một ngày vui” giờ cũng đã thành khẩu hiệu trong các trường.

Rồi đến việc học 2 buổi/ngày, giáo dục toàn diện, đưa ngoại ngữ vào từ tiểu học,… Tất cả đều đi từ Trường Thực nghiệm.

Theo tôi quan trọng nhất vẫn là triết lý, quan điểm giáo dục, mục tiêu giáo dục. Như vậy bộ sách này là phù hợp, không hề cũ.

Tôi còn nhớ, thời tôi là Vụ trưởng, từ một chương trình một bộ SGK cuối cùng đi tới 4 bộ SGK, nhưng đều thống nhất được mục tiêu và đầu ra do lúc đó có thi tốt nghiệp tiểu học.

Nếu là tác giả của bộ sách, ông có muốn sửa để hoàn thiện sách hơn không?

Sửa chữa không phải là chuyện đơn giản. Sửa một chi tiết cũng có thể đụng chạm đến cả một hệ thống. Đó là chưa kể, bộ sách đã được rồi tại sao phải đập đi xây lại?

Tôi lấy ví dụ, người ta kêu nhiều bài trong sách Công nghệ giáo dục “dài quá, khó quá”, nhưng họ không biết được nhiều học sinh vẫn đọc được dễ dàng. Có khi đọc hết rồi chúng vẫn còn “thòm thèm”. Trong cùng thời gian ấy, có học sinh chỉ đọc được một nửa bài. Điều đó cũng không sao cả.

Cũng như trong việc ăn có người ăn nhanh, ăn chậm thì việc đọc cũng có sự phân hóa như thế. Nhưng chương trình cũng không bắt buộc học sinh phải đọc hết toàn bộ cả một bài dài.



Có ý kiến cho rằng một trong những hạn chế của bộ sách Công nghệ giáo dục là phụ huynh không thể học cùng và theo diễn tiến việc học của con do không cùng chương trình học?

Phụ huynh ai cũng dạy được con mình thì cần gì sinh ra nhà trường và đội ngũ giáo viên làm gì. Còn nếu nói về việc buổi tối về học cùng con thì khác, bởi tới đây khi học 2 buổi/ngày rồi thì về nhà học sinh sẽ không cần học nữa.

Quan điểm khác nhau mà thôi, những triết lý và đường lối của GS Hồ Ngọc Đại phù hợp với quan điểm đổi mới toàn diện giáo dục.

Bộ sách không vi phạm gì về đường lối quan điểm chính trị và khoa học giáo dục, do đó theo tôi không nên áp những tiêu chí cứng nhắc mà nên để cho thị trường quyết định, nếu nó kém hoặc không phù hợp thì cuộc sống sẽ tự đào thải.

Trường hợp vẫn không được chấp nhận, ông cũng như các cán bộ trung tâm đã nghĩ tới số phận của bộ sách sẽ ra sao?

Có thể đời Bộ trưởng này không dùng nhưng Bộ trưởng sau sẽ dùng đến nó. Bởi đây là thành tựu của giáo dục Việt Nam và những người đã từng được tiếp cận, sử dụng nó nhìn nhận.




Anh Minh – Thúy Nga

Hiện thực giấc mơ những 'kỳ lân tỷ USD' Việt Nam


30/09/2019 16:00 GMT+7

Chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 sẽ giúp Việt Nam không lỡ chuyến tàu. Đây là cơ hội để Việt Nam bứt phá vươn lên, là một trong những con đường đưa đất nước thoát khỏi nỗi lo tụt hậu.

Đã có Nghị quyết đầu tiên của Bộ Chính trị về cách mạng 4.0

Bình luận về việc ra đời Nghị quyết này, TS Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương cho rằng: Việc ban hành Nghị quyết là quan trọng, nhưng quan trọng hơn là việc triển khai Nghị quyết và đưa nghị quyết đó vào cuộc sống, để chúng ta tận dụng được những cơ hội của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tạo ra những động lực mới và tạo tiềm năng cho việc thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.

Để làm được điều đó, theo TS Nguyễn Đình Cung, điểm đầu tiên cần phải làm vẫn là thể chế.

“Thể chế đầu tiên đương nhiên là pháp luật, và pháp luật ở đây theo tôi là pháp luật về dữ liệu, đây là điều rất quan trọng. Coi dữ liệu là một loại tài sản, và ở đó phải bảo vệ được quyền riêng tư của người dân, đảm bảo cho dữ liệu được thu thập, được truyền tải, được sử dụng, được quản lý phục vụ cho sự phát triển. Có lẽ trong Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 này không thể thiếu dữ liệu cho nên thể chế về dữ liệu là điều đầu tiên chúng ta phải thiết lập”, ông Nguyễn Đình Cung nhận xét.

Ngoài ra, thể chế đó phải rất linh hoạt để thúc đẩy đổi mới sáng tạo và thúc đẩy loại hình kinh doanh mới, mô hình kinh doanh mới, ngành nghề kinh doanh mới, sản phẩm mới xuất hiện.

“Đây là điểm thứ 2 tôi cho rằng rất quan trọng, khi mà những mô hình kinh doanh đó chúng ta chưa lường hết được thì chúng ta không nên có rào cản để ngăn chặn xuất hiện cái mới”, TS Nguyễn Đình Cung chia sẻ, “Khi chúng ta chưa thực sự an tâm về sự xuất hiện cái mới thì có thể áp dụng mô hình thí điểm trong việc quản lý nhà nước. Từ đó tạo cho những mô hình kinh doanh mới, cách thức quản lý mới và sản phẩm mới được xuất hiện”.

Chuyển đổi số để bứt phá

Trong những cuộc trò chuyện với PV.VietNamNet, ông Nguyễn Minh Quý, CEO của môt tập đoàn internet nhận xét: Trong 3 năm gần đây, chúng ta chưa bao giờ nghe nhiều đến vậy về chuyển đổi số, cách mạng công nghiệp 4.0. Làm trong ngành này, chúng tôi cảm nhận rất rõ sự rung chuyển ấy. Ví dụ Google, Facebook, trong năm nay tổng số các update cải tiến về sản phẩm mới của họ bằng cả 3 năm trước đây. Bởi vì họ đã qua giai đoạn phát triển theo chiều rộng về mặt “user” (người sử dụng) rồi, họ không thể tăng trưởng bằng việc tăng thêm user được mà buộc phải tăng trưởng thêm về chất, về sản phẩm, trí tuệ nhân tạo...

Kết quả là, tính riêng trong lĩnh vực công nghệ, Việt Nam bắt đầu xuất hiện những công ty công nghệ làm ra sản phẩm và bán được sản phẩm. Việt Nam đã có công ty với 2.000 người, tập trung làm sản phẩm công nghệ thực sự và mang lại doanh thu mỗi năm là 2 tỷ USD.

Điều đó có nghĩa cách mạng công nghiệp 4.0 mang đến cho những DN cơ hội trở thành những unicorn, tức “start up Kỳ Lân tỷ USD”. Nếu đi theo con đường truyền thống, thì có khi phải mất hàng chục năm trời, thậm chí cả trăm năm mới có được doanh nghiệp tỷ đô. Nhưng với cách mạng công nghiệp 4.0, cơ hội bứt phá là rất rõ.

Tại nghị quyết này, Bộ Chính trị nêu rõ 1 trong 8 chủ trương, chính sách tham gia cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 là thúc đẩy chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, mặt trận tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, tiên phong thực hiện, đảm bảo thống nhất, kết nối liên thông và đồng bộ.

Đây cũng là điểm được TS Nguyễn Đình Cung đánh giá cần phải chú ý. Trong đó, số hóa doanh nghiệp là điều chúng ta cần tập trung nhiều hơn. Đó là lĩnh vực nhà nước có thể hỗ trợ để chuyển đổi số ở các doanh nghiệp, chuyển đổi số các lĩnh vực sản xuất hiện hành, đồng thời tạo ra cơ hội mới để thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tạo ra ngành nghề mới, những sản phẩm mới…

Ông Nguyễn Minh Quý đánh giá: Việt Nam là một trong những nước áp dụng nhanh việc chuyển đổi số. Trong chuyển đổi số, góc năng động nhất là chuyển đổi số ngành marketting. Doanh thu marketting trên internet đã đạt khoảng 1 tỷ USD, gần xấp xỉ bằng quảng cáo truyền thống. Việt Nam là nước thuộc loại nhanh trong Đông Nam Á về digital marketting và là lĩnh vực Việt Nam hoàn toàn cạnh tranh được. Đó là thí dụ điển hình của việc ứng dụng chuyển đổi số trong doanh nghiệp.

TS Nguyễn Đình Cung cho biết: Những nghiên cứu, đánh giá gần đây của chúng tôi cho thấy nếu vừa áp dụng cách mạng công nghiệp lần thứ 4, vừa thúc đẩy chuyển đổi một số ngành hiện hành (đặc biệt trong những ngành hiện nay đang chiếm tỷ trọng lớn trong GDP như chế biến, chế tạo), đồng thời thúc đẩy đổi mới sáng tạo thì có thể làm tăng GDP từ 6%-16% vào năm 2020 và tạo ra khoảng 3,1 triệu công ăn việc làm mới.

Được biết, từ ngày 2-3/10, Ban Kinh tế Trung ương sẽ chủ trì Diễn đàn Cấp cao và Triển lãm Quốc tế về Công nghiệp 4.0 năm 2019 (Industry 4.0 Summit 2019) nhằm đánh giá tình hình tham gia cuộc CMCN lần thứ 4 của nước ta trong thời gian qua, đồng thời phổ biến, quán triệt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về chủ động tham gia CMCN lần thứ 4 trong thời gian tới.

Sự kiện quốc tế này được tổ chức nhằm công bố các chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước về tham gia cuộc CMCN 4.0; tạo cơ hội cho trao đổi, tiếp nhận các ý kiến của chuyên gia trong nước và quốc tế về các chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho triển khai có hiệu quả cuộc CMCN 4.0 tại Việt Nam.

Hà Duy

Tăng ứng dụng công nghệ vào giáo dục phổ thông



Thứ năm, 26/9/2019, 09:00 (GMT+7)

Trong ngày xét duyệt khối THPT của giải thưởng Nhà giáo Hà Nội tâm huyết, sáng tạo, 40 giáo viên đã trình bày phương pháp học tập ứng dụng CNTT.

Với tinh thần "Giảm áp lực, tăng hứng thú", biến học tập thành niềm vui và nhu cầu tự thân, cô Lưu Thị Thu Hà, trường THPT Việt Đức, đã áp dụng linh hoạt nhiều hình thức và phương pháp dạy học tích cực nhằm khơi gợi niềm say mê hứng thú, khám phá tiềm năng của học sinh.

Trong giờ học, cô thường lồng ghép các buổi talkshow "Tại sao không?", trong đó, học sinh đóng vai MC, giáo sư Sử học... cùng thảo thuận về bài học. Cô cũng hướng dẫn học sinh khai thác tư liệu từ thư viện Hà Nội để tự tay làm ra những cuốn sách, cuốn tạp chí văn học, nghệ thuật. Học sinh nhờ thế đã phát huy được những cá tính và tài năng nghệ thuật.



Cô Lưu Thị Thu Hà, trường THPT Việt Đức

Trong khi đó, cô Vũ Thị Hiền, trường THPT Quốc Oai, lại khuyến khích học sinh sáng tác thơ Haiku của Nhật và thơ lục bát của Việt Nam, nhằm khơi dậy niềm cảm hứng sáng tạo, đưa giờ văn trở thành một sân chơi trí tuệ, giàu cảm xúc và hào hứng.

Các giáo viên cũng có những cố gắng để chuẩn bị tâm thế cho học sinh trở thành những công dân toàn cầu trong tương lai. Tiêu biểu là cô giáo Nguyễn Thị Thanh Nhàn, trường THPT Nguyễn Siêu khi tổ chức chương trình giao lưu hai chiều giữ học sinh của trường với trường Galile (Italy) hay sự kiện "Ngày hội văn hóa Việt Nam – Đan Mạch". Cô Nhàn cho biết đích đến của học sinh Nguyễn Siêu không chỉ là đỗ đại học mà còn phải nổi trội về khả năng sử dụng tiếng Anh như một ngôn ngữ thứ hai.



Cô giáo Nguyễn Thị Thanh Nhàn, trường THPT Nguyễn Siêu.




Để lôi cuốn học sinh trong giờ Lịch sử, cô Nguyễn Thị Phượng, trường THPT Trần Hưng Đạo, Hà Đông, hướng dẫn các em tìm hiểu, thu thập, thông tin, nghiên cứu tài liệu, những câu nói nổi tiếng để lập nên những trang cá nhân cho các nhân vật lịch sử nổi tiếng. Ví dụ như facebook của Trần Hưng Đạo, Instagram của Lê Lợi... Các em đã rất hào hứng tham gia và lồng vào nội dung lịch sử khô khan những câu nói hồn nhiên đúng lứa tuổi.

Ông Nguyễn Ngọc Ân, Phó chủ tịch Công đoàn Hà Nội, thành viên Hội đồng xét duyệt ấn tượng với sáng kiến đưa mạng xã hội vào để tạo môi trường học tập phù hợp với học sinh hiện nay. Theo ông, trong khi nhiều trường học cấm học sinh sử dụng mạng xã hội thì các thầy cô giáo lại tận dụng được lợi thế của mạng xã hội vào công tác giảng dạy, lôi cuốn học sinh tham gia vào giờ học một cách tự giác và sôi nổi.

Trong khi đó, cô Chu Thị Thu Hương, trường THPT Tân Lập luôn tìm kiếm giải pháp công nghệ để hỗ trợ học sinh tự học hóa học. Cô đã tạo nên và nhân rộng mô hình website hoahocthatladongian.com, gồm những video bài giảng kèm bài tập và đáp án cung cấp toàn bộ nền tảng hóa học phổ thông cho học sinh.



Cô Chu Thị Thu Hương, trường THPT Tân Lập.

Ông Đặng Bảo Linh, Chuyên gia Công nghệ Giáo dục thuộc Hệ thống Giáo dục Học Mãi, thành viên ban giám khảo đánh giá cao sáng kiến của cô Hương và mong muốn sẽ cung cấp cho cô những công cụ, kiến thức, nền tảng để xây dựng một sản phẩm chuyên nghiệp hơn. Đáp lại, cô Hương cũng có mong muốn sẽ nhận được sự trợ giúp để mở rộng mô hình sáng tạo của mình, sao cho tiếp cận với học sinh nhiều, tạo nên những thay đổi thiết thực hơn nữa.

Trong ngày xét duyệt khối THPT, các nhà giáo trẻ cũng được truyền cảm hứng về lòng tận tâm theo đuổi con đường dạy học từ thầy giáo Vũ Tất Tạo, trường THPT Lê Ngọc Hân. Thầy Tạo đã ngoài 80 tuổi vẫn miệt mài với sự nghiệp giáo dục, bền bỉ và tin tưởng sẽ tạo nên một trường học hạnh phúc, ở đó học sinh biết tự phấn đấu và phát huy được năng lực tiềm ẩn của mình.



Thầy giáo Vũ Tất Tạo, trường THPT Lê Ngọc Hân.

Kết thúc 5 ngày xét duyệt giải thưởng Nhà giáo Hà Nội tâm huyết, sáng tạo, ông Nguyễn Tùng Lâm, chủ tịch Hội tâm lý giáo dục Hà Nội, thành viên hội đồng xét duyệt chúc mừng những nỗ lực thay đổi của các nhà giáo. Ông hy vọng các thầy cô luôn giữ vững tinh thần nhiệt huyết và sáng tạo để bồi dưỡng niềm đam mê cho học sinh qua từng tiết học và truyền cho các em động lực học tập và nuôi dưỡng những khát vọng khám phá và chinh phục cuộc sống trong trái tim các em.

Thế Đan

Chủ Nhật, 29 tháng 9, 2019

Màn hình tương tác thông minh giải pháp giảng dạy, đào tạo hiệu quả


GD&TĐ - Màn hình tương tác thông minh là một giải pháp tích hợp tất cả trong một (All in one) với rất nhiều ưu điểm vượt trội như: Độ phân giải thực đạt 4K UHD (3840 x 2160 pixels), Công nghệ chăm sóc sức khỏe người sử dụng (Anti-Glare, Low-Blue-Light, Flicker-Free, Germ-Resistant Screen, Cảm biến chất lượng không khí CO2,...), tích hợp máy vi tính, cảm ứng sử dụng tay hoặc bút đa điểm 20 điểm chạm đồng thời, kết nối tương tác không dây, quản lý tài khoản người dùng,...

Các hãng sản xuất màn hình tương tác nổi tiếng như BenQ, SharpEyes có chất lượng và các tính năng vượt trội cùng giá thành phải chăng đã nhanh chóng chiếm được sự tin tưởng của người sử dụng tại Việt Nam.

Màn hình tương tác đã dần thay thế các công cụ dạy học truyền thống như: Bảng trắng dùng phấn, bảng tương tác, máy chiếu, máy vi tính, loa, ... và nhanh chóng trở thành một công cụ không thể thiếu trong trong giảng dạy tại các trường học và các buổi đào tạo của các doanh nghiệp.

Vậy chi tiết các tính năng vượt trội của màn hình tương tác là gì? Chúng ta hãy cùng tìm hiểu nhé!

Tích hợp tất cả trong một

Màn hình tương tác thông minh là một giải pháp tích hợp tất cả trong một bao gồm: Màn hình cảm ứng độ phân giải cao 4K UHD (3840 x 2160 pixels), máy vi tính cấu hình cao, loa công suất lớn, NFC Tag, khay bút và đầy đủ các kết nối có dây như HDMI, VGA và kết nối không dây đến các thiết bị ngoại vi.

Giờ đây chỉ cần trang bị một màn hình tương tác thông minh trong lớp học, bạn sẽ loại bỏ được rất nhiều các thiết bị như: máy chiếu, máy vi tính, bảng trắng, bảng tương tác, loa,...

Màn hình tương tác cũng rất đa dạng về kích thước cho bạn lựa chọn để phù hợp.

Một vài tính năng vượt trội khác

Màn hình tương tác thông minh - Giải pháp hoàn hảo cho các lớp học

Hệ thống quản lý tài khoản (AMS): Màn hình tương tác thông minh hỗ trợ quản lý đa tài khoản thông qua công nghệ NFC, cho phép người dùng truy cập trực tiếp vào cài đặt hệ thống và thư mục cá nhân của họ bằng cách quét thẻ ID bằng cảm biến tích hợp, cũng như dễ dàng khóa màn hình khi không sử dụng. AMS cũng cung cấp quyền truy cập tức thì vào các dịch vụ lưu trữ đám mây lớn mà không cần phải nhập mật khẩu.

Bút NFC: Chỉ cần chạm đầu bút NFCPen, có thể truy cập ngay ứng dụng EZWrite và thao tác chú thích, viết, vẽ trên bảng trắng ảo.

Hệ thống quản lý màn hình (Display Management) - Cài đặt ứng dụng Android cho màn hình tương tác, quản lý tắt/mở nguồn từ xa bằng DMS tiện lợi cho IT manager không cần cài ứng dụng lên máy tính hoặc server.

Chú thích và cộng tác ở mọi nơi với đám mây (Cloud) - Với các tính năng của đám mây, EZWrite hợp lý hóa các cuộc thảo luận trong lớp bằng cách giúp giáo viên và học sinh chia sẻ ý tưởng, ghi chú và ý kiến một cách trơn tru hơn như thể họ đang chú thích trên cùng một bảng trắng bất kể họ ở đâu.

Chức năng InstaQshare giúp dễ dàng kết nối không dây với các thiết bị như: Laptop, máy tính bảng, điện thoại thông minh,... để tạo thành một giải pháp tương tác thông minh toàn diện và hiện đại.

Không giống như máy chiếu có tuổi thọ bóng đèn thấp chỉ vào khoảng 3,000 giờ là phải thay bóng tốn kém chi phí thì ở màn hình tương tác bạn sẽ không phải nghĩ đến việc này vì tuổi thọ đèn nền LED của màn hình tương tác có tuổi thọ lên đến 50,000 giờ. Ví dụ mỗi ngày bạn sử dụng 10 tiếng và sử dụng 365 ngày/1 năm thì đèn nền LED của màn hình tương tác cũng phải xài được khoảng 13.6 năm. Ngoài ra với đèn nền LED mức tiêu thụ điện rất thấp, tiết kiệm năng lượng.

Đối với riêng ngành giáo dục, việc ứng dụng màn hình tương tác thông minh để thay thế cho các thiết bị truyền thống như: máy chiếu, bảng tương tác, bảng trắng, máy vi tính, loa,... là điều thực sự cần thiết và đang được các trường học, các trung tâm giáo dục tập trung kinh phí đầu tư. Màn hình tương tác thông minh đem lại sự sinh động trong giờ học, khơi gợi sự đam mê thích thú của học sinh, sự tiện lợi sáng tạo trong các bài giảng của giáo viên. Nền giáo dục của Việt Nam sẽ được nâng lên một tầm cao mới nếu được trang bị màn hình tương tác thông minh và tạo tiền đề cho các thế hệ học sinh phát triển một cách toàn diện.

Hạn chế trong dạy học âm nhạc ở phổ thông


GD&TĐ - Thực trạng về sử dụng phương pháp dạy học âm nhạc của giáo viên phổ thông được PGS.TS Nguyễn Thị Tố Mai (Trường ĐHSP Nghệ thuật Trung ương) chia sẻ trong tham luận tại hội nghị về giáo dục nghệ thuật tổ chức tại Hà Nội mới đây.
Hiệu quả chưa cao trong hình thành năng lực âm nhạc cốt lõi
Là giảng viên giảng dạy âm nhạc lâu năm tại Trường ĐHSP Nghệ thuật Trung ương, từng đưa sinh viên đi thực tập, dự và chấm thi nhiều giờ dạy ở các trường phổ thông, là thành viên tham gia nghiên cứu nhiều đề án, chương trình tập huấn, bồi dưỡng cho giáo viên phổ thông..., PGS.TS Nguyễn Thị Tố Mai nhận thấy, nhìn chung, hiện nay đội ngũ giáo viên âm nhạc ở phổ thông cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu giảng dạy.
Môn Âm nhạc thực sự trở thành một môn học được khá nhiều học sinh yêu thích không chỉ bởi được giải trí, sảng khoái tinh thần sau những giờ học căng thẳng mà còn làm học sinh năng động hơn, tự tin hơn.
Nhiều học sinh có khí chất nhút nhát qua rèn luyện kỹ năng âm nhạc đã dám đứng trước đám đông để trình diễn hát một mình mà không cảm thấy ngại ngùng.
Âm nhạc như một sợi dây kết nối các em khi được tham gia trò chơi, được hát múa tập thể. Qua việc học hát, học sinh biết hát đều hơn, hay hơn, thể hiện sắc thái, tình cảm tốt hơn. Được học các bài dân ca, các em biết trân trọng những giá trị truyền thống của âm nhạc dân tộc...
Đạt những thành tựu đó, có công sức của đội ngũ giáo viên âm nhạc. Họ không chỉ chú ý đến việc truyền đạt kiến thức sao cho đúng mà luôn nghĩ ra các phương pháp dạy học để làm sao cuốn hút học sinh, đưa các em vào thế giới của cái đẹp, của những giá trị nhân bản, để từ đó, giáo dục các em trở thành những người biết sống và làm theo cái đẹp.
Bên cạnh những thành tựu đạt được, trong tham luận của mình, PGS.TS Nguyễn Thị Tố Mai cho biết, giáo viên âm nhạc cũng còn bộc lộ một số hạn chế.
Điểm hạn chế nhìn thấy rõ nhất chính việc hình thành năng lực âm nhạc cốt lõi cho học sinh chưa đạt hiệu quả cao.
Ở một số trường, nhất là những vùng sâu, vùng xa, có không ít giáo viên dạy âm nhạc là những người không được đào tạo chính quy về sư phạm âm nhạc hoặc thậm chí là những giáo viên dạy môn học khác được điều chuyển sang. Do không được đào tạo bài bản, nên không chỉ yếu về chuyên môn mà còn yếu cả về phương pháp dạy học.
Sở dĩ có chuyện dạy không đúng với chuyên môn được đào tạo như vậy chính bởi quan niệm của không ít người, trong đó có lãnh đạo của trường sử dụng giáo viên, của Sở GD&ĐT tại địa phương đó đã quan niệm học âm nhạc để học sinh vui vẻ, để giải trí và hát là chính, các kiến thức khác không quan trọng, như thế vô hình trung đã không chú trọng đến hình thành năng lực âm nhạc cho các em.
Dạy học tiếp cận nội dung vẫn được sử dụng chủ yếu
Thông qua những buổi tập huấn cho giáo viên, dự giờ; qua trao đổi với giáo viên dạy học âm nhạc ở một số tỉnh, thành phố, địa phương..., PGS.TS Nguyễn Thị Tố Mai nhận thấy: Mặc dù đã có 9 năm học từ Tiểu học đến THCS song có không ít học sinh không nhận biết được hoặc nhận biết rất chậm nốt trên bản nhạc của bài Tập đọc nhạc (chưa nói đến nốt trên bản nhạc của bài hát).
Thực trạng đó là do nhiều học sinh thường phiên tên nốt ra chữ viết tắt của tiếng Việt phía dưới nốt nhạc rồi nhìn vào đó đọc nhạc mà không nhìn vào bản nhạc.
Hầu như học sinh chỉ thích học hát, nhiều nơi vì điều kiện cơ sở vật chất không tốt, trình độ giáo viên không tốt cũng chỉ dạy Hát là chính, các nội dung Tập đọc nhạc, Nhạc lý, Âm nhạc thường thức bị coi nhẹ, thậm chí có nơi bỏ qua.
Vì thế, việc hình thành năng lực đọc nhạc, kiến thức âm nhạc cho học sinh có thể nói là chưa tốt nếu như không nói là ở một số nơi còn kém hiệu quả.
Nguyên nhân của bất cập, tồn tại trên thì có thể nêu ra rất nhiều, song có một nguyên nhân khá quan trọng thuộc về phía giáo viên âm nhạc. Đó là do sử dụng các phương pháp dạy học tiếp cận nội dung vẫn là chủ yếu mà ít chú ý tới tiếp cận năng lực của học sinh.
Nhìn vào thực tiễn sử dụng phương pháp dạy học âm nhạc của giáo viên phổ thông thì không thể nói là họ chỉ sử dụng một loại mô hình truyền đạt kiến thức hay chỉ áp dụng theo thuyết hành vi. Yếu tố gợi mở sự sáng tạo, sự chủ động cho học sinh vẫn được áp dụng. Song, vấn đề là ở chỗ học sinh vẫn còn thụ động nhiều và đặc biệt, nếu không có giáo viên, ngoài bài hát mà học sinh đã thuộc có thể hát lại được thì ngay cả với học sinh có năng khiếu cũng không thể có năng lực tự học Tập đọc nhạc hay gõ đệm (dù là ở mức độ hết sức đơn giản).
PGS Nguyễn Thị Tố Mai cũng nói rõ, không có ý phủ nhận dạy học theo hướng tiếp cận nội dung thì không hình thành được năng lực. Mỗi một mô hình dạy học, hệ thống phương pháp dạy học có những ưu điểm và cả những nhược điểm nhất định. Nhiều nước trên thế giới và nước ta, trước đây vẫn chủ yếu áp dụng mô hình dạy học tiếp cận nội dung và vẫn đạt được những kết quả nhất định.
Hải Bình (ghi)






 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Blogger Templates