SƯU TẬP NHỮNG KIẾN THỨC CẦN THIẾT CHO GIÁO VIÊN ÂM NHẠC VIỆT NAM THỜI 4.0

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

Thứ Bảy, 5 tháng 11, 2022

Quá tải giáo dục ở đô thị: Nhìn từ quy hoạch đô thị

 


Một trong những nguyên nhân khiến hạ tầng giáo dục ở Hà Nội và TP.HCM trong suốt mười lăm năm qua luôn ở trong tình tạng quá tải là do quy hoạch thiếu đồng bộ trong quá trình phát triển đô thị. 

Các lớp tiểu học ở trường Chu Văn An, quận Hoàng Mai có sĩ số khoảng 50 em/ lớp. Nguồn: Vietnamnet

Thực trạng quá tải của ngành giáo dục

Trong hội trường chật kín ghế của 176 cha mẹ học sinh và cả một số em đi theo cha mẹ, tất cả mọi người chăm chú nhìn lên chiếc bàn đặt hộp bốc thăm chọn lựa trẻ vào trường mẫu giáo và dõi theo từng lần bốc thăm. Hồi hộp trả lời báo chí tại buổi bốc thăm có tỉ lệ “chọi” cao như thi đại học, chị Trang cho biết rất băn khoăn vì “mình cứ nghĩ có hộ khẩu ở đây là con sẽ có một suất vào trường công”.

Khi chị Trang và những phụ huynh khác bốc thăm may mắn có con trúng tuyển, cả hội trường vỗ tay. Nhưng số người may mắn chỉ chiếm hơn 1/3 những người có mặt trong hội trường hôm ấy vì trong số 180 trẻ đăng ký vào trường mầm non Hoàng Liệt, cơ sở Tứ Kỳ, chỉ có 80 trẻ có suất học trường công lập này.

Hoàng Liệt, thuộc quận Hoàng Mai, là một trong những “siêu phường” ở Hà Nội từ nhiều năm nay, được báo chí phản ánh là có tới 80.000 dân, cứ mỗi năm có khoảng 1.500 – 1.800 trẻ được sinh ra. Nhưng phường này chỉ có 1 trường mầm non, 3 trường tiểu học, 2 trường THCS nên các trường luôn rơi vào tình trạng quá tải. Nhiều lớp học ở Hoàng Liệt đã phải chấp nhận những phòng học ngột ngạt quá tải với tỉ lệ học sinh lên tới 60 học sinh/lớp học. Tỉ lệ một giáo viên phải đứng lớp 50 – 60 học sinh là quá cao so với các mô hình giáo dục trên thế giới, các nghiên cứu trên thế giới cho thấy tỉ lệ học sinh trên giáo viên lý tưởng là không vượt quá 18/1, nếu vượt ngưỡng 40 học sinh/1 giáo viên thì hiệu quả học tập suy giảm đáng kể1.

Ở TP.HCM, những quận có mức tăng dân số cơ học cao như TP Thủ Đức, quận 12, quận Bình Tân, huyện Bình Chánh, huyện Hóc Môn… cũng “chung cảnh ngộ” của Hoàng Liệt. Trung bình mỗi năm quận Bình Tân tăng thêm từ 4.000 – 5.000 học sinh các cấp (chỉ tính hệ công lập). Tính ra, mỗi năm quận phải xây dựng thêm ít nhất 3 trường mới với quy mô 30 phòng học/trường mới đáp ứng được chỗ học như mong muốn. TP.HCM tăng khoảng 40.000 học sinh/ năm và tập trung nhiều ở bậc tiểu học. 

Suốt hơn một thập niên đô thị hóa chóng mặt nhưng không đồng bộ đã khiến cho ngành giáo dục phải loay hoay chống đỡ một cách vá víu.

Những điển hình nổi cộm trên báo chí như quận Hoàng Mai hay Bình Tân không phải là những điểm nóng duy nhất. Ngành giáo dục ở cả Hà Nội và TP. HCM đều loay hoay không biết phải tìm đâu thêm trường công cho trẻ học. Hệ thống giáo dục công lập với nhiều ưu điểm là cơ sở vật chất được ngân sách đầu tư, gần như miễn hoàn toàn học phí hoặc phải đóng góp rất thấp, là cơ sở đào tạo nguồn nhân lực chính yếu trong cả nước, đặc biệt là dành cho phần lớn các gia đình hiện nay không có khả năng chi trả học phí ở trường tư, nhưng nay, sau nhiều năm căng mình gồng gánh, đã tới lúc quá sức tải. Trả lời báo Tuổi trẻ, một cán bộ Phòng GD&ĐT quận Bình Tân, TP.HCM phải thốt lên “Cứ theo đà tăng học sinh như hiện nay, e rằng chỉ vài năm nữa sẽ không có đủ chỗ học cho tất cả học sinh”.

Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào những điểm nóng như Hoàng Mai hay Bình Tân thì có dễ thiên kiến và khuếch đại tình trạng quá tải của giáo dục ở các thành phố này? 

Công bằng mà nói, trên nỗ lực chung của cả nước, ngành giáo dục đã xây dựng cơ sở vật chất, giúp tăng trưởng hệ thống giáo dục, đặc biệt là giáo dục mầm non tương đối đáng kể. Điều đó thể hiện qua số trường mầm non trên một vạn dân trung bình trong cả nước vào năm 2019 là 83,91 trường (tăng hơn 2,5 so với mức 31.76 trường ở thời điểm 2005). Nhưng nhìn kỹ vào các thành phố lớn thì mới thấy con số này không tăng bao nhiêu sau một thập niên rưỡi, “Số trường mầm non của hai thành phố này trong năm 2019 chỉ đạt khoảng 47 trường/10.000 dân, tức là chỉ bằng khoảng một nửa so với mức trung bình gần 84 trường/10.000 dân trong cả nước”, TS. Trần Quang Tuyến, Đại học Quốc tế, Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết. “Vấn đề quá tải càng trầm trọng hơn khi gia tăng và tập trung dân cư lớn ở một số khu vực (ví dụ: trung tâm thành phố hoặc một số khu vực đông dân khác như quận Hoàng Mai, Thanh Xuân) khiến cho tỷ lệ số trường mầm non trên 10.000 dân giảm xuống còn dưới 20 trường”.

Không chỉ thiếu trường lớp, tình trạng một giáo viên phải đứng lớp quá đông khiến cho chất lượng giảng dạy và tập trung học tập chắc chắn bị ảnh hưởng. Mặc dù đã có nỗ lực cải thiện tỉ lệ học sinh / giáo viên nhưng xuyên suốt giai đoạn từ 2008 đến 2019, tỷ lệ này ở Việt Nam vẫn cao gấp nhiều lần so với mô hình chuẩn trên thế giới. Cụ thể, thống kê của TS. Trần Quang Tuyến và Ths. Lê Văn Đạo cho thấy tỷ lệ học sinh/giáo viên trung bình cả nước tính đến năm 2019 vẫn ở mức trên 62/1 mặc dù đã nỗ lực giảm so với mức 94/1 năm 2004; Đối với Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh thì tỷ lệ này duy trì ở mức 50/1 (so sánh với tỉ lệ mô hình chuẩn của thế giới chỉ là 18/1).

Khu Linh Đàm, Q. Hoàng Mai liên tục phá kỷ lục về mật độ dân cư và mật độ cao ốc dày đặc. Ảnh: Vietnamnet

Chưa cần so sánh với quốc tế, nhìn vào những con số này ở Hà Nội và TP. HCM thấy rõ ràng là cơ sở vật chất và nguồn nhân lực cho giáo dục ở hai đầu tàu này đang kém so với các tỉnh/thành phố đang trên đà tăng trưởng kinh tế-xã hội tương đối nhanh chóng (ví dụ tiêu biểu như Hải Phòng, Bắc Ninh, Quảng Ninh). Các thành phố này đã đầu tư mở rộng nhanh chóng cả về số lượng các trường học, giáo viên và lớp học. Cụ thể, dù chưa bằng con số chung của cả nước nhưng số lượng trường mầm non/10.000 dân và số lớp học/10.000 của một số tỉnh thành như Bắc Ninh và Quảng Ninh đã lên được 62,6 trường/10.000 dân và 2.188 lớp/10.000 dân.

Thậm chí, các con số thống kê này của TS. Trần Quang Tuyến và Ths. Lê Quang Đạo vẫn chưa phản ánh hết tình trạng quá tải và thiếu thốn riêng ở các trường công hiện nay ở hai đầu tàu kinh tế của đất nước. “Chúng tôi không có số liệu của riêng các trường công mà chỉ tính được số liệu chung của ngành giáo dục”, TS. Trần Quang Tuyến cho biết. Nhưng rõ ràng là nỗi lo của người cán bộ quản lý giáo dục ở Bình Tân về việc “cứ đà này sẽ không còn đủ chỗ học cho tất cả học sinh” là có cơ sở. Bởi vì chúng ta có tiền lệ: nhìn lại hơn chục năm qua, giai đoạn phát triển kinh tế xã hội nóng không đi cùng với khả năng đáp ứng về tỉ lệ trường học trên 10.000 dân. Khi mà “số trường Tiểu học, Trung học cơ sở (THCS) và Trung học phổ thông (THPT)/10.000 dân trong xuyên suốt giai đoạn từ 2008-2019 không gia tăng”, theo phân tích số liệu thống kê của Ths. Trần Quang Tuyến và TS. Lê Quang Đạo.

Giữa những lựa chọn

Thực ra, việc đặt học sinh mầm non vào lựa chọn may rủi để có một suất vào trường công là “cực chẳng đã” vì một ngôi trường công không thể gánh áp lực mỗi năm một phường tăng cả nghìn trẻ, ngay cả toàn ngành giáo dục cũng chỉ chèo chống được một phần. Vấn đề ở trong bài toán lớn hơn: quy hoạch hạ tầng dịch vụ công ở đô thị. Cả Hà Nội và TP. HCM đều đang vươn mình trở thành siêu đô thị khi mỗi năm dân số Hà Nội tăng khoảng 200 nghìn dân, TP. HCM cũng tăng khoảng 250 nghìn dân, chủ yếu là tăng dân số cơ học do người nhập cư – trong đó đa số là nhóm dân số trẻ, gia đình trẻ – tới hai thành phố, nhưng cơ sở hạ tầng giáo dục tăng không thấm vào đâu.

“Bắt đầu từ 2010, rõ rệt nhất là từ 2015 đến nay tốc độ di cư tới các thành phố lớn quá nhanh, khiến Việt Nam trở thành một quốc gia có tốc độ đô thị hóa nhanh nhất thế giới”, TS. Phùng Đức Tùng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển Mekong (MDRD) nói. Ông cho biết, vào năm 2016, khi MDRI tiến hành nghiên cứu về hộ khẩu trong cả nước cho thấy 36% dân TP. HCM là di cư, Bình Dương có 75% dân là di cư, còn Hà Nội có khoảng 18%, nên sức ép lên các khu đô thị, công nghiệp rất lớn.

Nhìn vào bối cảnh ấy có thể “biện hộ” là các thành phố khá “bị động” và khó dự báo khi luồng dân cư đổ về quá nhanh, sau mỗi lần tổng điều tra thì bức tranh dân cư lại thay đổi chóng mặt. “Nếu nhìn vào số liệu trong quá khứ để dự báo biến động dân số trong tương lai thì nhiều khi không được cập nhật vì tổng điều tra dân số chỉ thực hiện 10 năm/ lần. Đặc biệt là biến động dân số hiện nay khó dự đoán vì không đồng đều, không ổn định”, TS. Phùng Đức Tùng nói. Đơn cử chỉ một khu công nghiệp như Samsung mọc lên sẽ thu hút 200.000 lao động, kéo theo là cả gia đình, con cái họ; hoặc 10 năm trước không ai tưởng tượng được khu Hà Đông, Hà Nội có thể đông nghẹt như bây giờ. Thậm chí, Quy hoạch Thủ đô Hà Nội ban hành vào năm 2011 dự báo đến năm 2050, dân số Hà Nội tối đa khoảng 10,8 triệu người thì tới năm 2020 đã đạt con số này.

Tuy thế, trái ngược với mức tăng cơ sở hạ tầng giáo dục công một cách quá chậm chạp thì hệ số sử dụng đất ở, các khu đô thị mới được xây dựng nhanh chóng đáp ứng việc dân số cán mốc trước dự báo tới 30 năm. “Quy hoạch được điều chỉnh, nâng mật độ dân số lên cao nhưng không đi đồng đều với cơ sở hạ tầng dịch vụ công. Đáng lẽ cần có sự phối hợp giữa các sở ban ngành một cách bài bản để điều chỉnh các quy hoạch khác như giáo dục hay các hạ tầng xã hội khác đi theo”, nhưng “tôi không nghĩ là các nhà quản lý ở hai thành phố lớn đang làm được việc đó”, TS. Phùng Đức Tùng nói. Điều đó khiến cho “ở các khu vực này lĩnh vực giáo dục cũng hỗn loạn không khác gì giao thông”. Không chỉ các khu đô thị mới có mật độ dân cư đông đúc nhất hiện nay vắng bóng hạ tầng giáo dục công, các cam kết phải có trường học bị lờ đi mà các khu công nghiệp cũng chung cảnh ngộ. TS. Phùng Đức Tùng cho biết, nghiên cứu do Viện Nghiên cứu phát triển Mekong đang tiến hành khảo sát đánh giá cơ sở vật chất của các trường mầm non, tiểu học ở các khu công nghiệp cho thấy các tiêu chuẩn như sĩ số tối đa, cơ sở vật chất như sân chơi, phòng cho trẻ bán trú đều không đáp ứng được.

Suốt hơn một thập niên, đô thị hóa chóng mặt nhưng không đồng bộ đã khiến cho ngành giáo dục phải loay hoay chống đỡ một cách vá víu. Việt Nam cũng không thể nhìn vào lộ trình phát triển của các nước để rút bài học kinh nghiệm cho mình, vì không có kinh nghiệm gì có thể giúp ích cho tình trạng quá tải tới mức hỗn loạn này, TS. Phùng Đức Tùng nhấn mạnh nhiều lần. Nhưng chúng ta không thể nào quay ngược chiều kim đồng hồ về thời điểm chưa xảy ra quá tải để sửa chữa được nữa. Theo TS. Phùng Đức Tùng, trước tiên hai thành phố lớn không thể bố trí thêm chung cư cao tầng nữa, đồng thời phải tận dụng mặt bằng các nhà máy cũ chuyển đi để xây dựng trường học. Vấn đề ở đây là thành phố sẽ quyết tâm lựa chọn nào?

Nếu tiếp tục nhồi nhét cao ốc và thiếu đi cơ sở hạ tầng giáo dục (cũng như mọi cơ sở hạ tầng công khác về giao thông, y tế) thì theo thời gian, sẽ không còn cơ hội cứu vãn.

Theo TS.Phùng Đức Tùng, về lâu dài, việc rút kinh nghiệm chỉ có thể hữu ích khi giảm tải cho hai siêu đô thị, phát triển các đô thị vệ tinh để các khu vệ tinh tránh đi vào vết xe hiện nay. Đồng thời, quan điểm phát triển tập trung quá nhiều ở hai trung tâm lớn là hai siêu đô thị Hà Nội, TP. HCM là không phù hợp. Dịch bệnh COVID vừa qua và tình trạng quá tải cơ sở hạ tầng công cộng ở hai đô thị mang lại bài học lớn là không thể tập trung phát triển kinh tế và không thể thu hút dân số vào tập trung ở một vài nơi, nên chúng ta phải nghiên cứu tới việc phi tập trung sản xuất, khuyến khích các doanh nghiệp đem nhà máy, xí nghiệp đến các nơi có lao động dư thừa chứ không phải là thu hút lao động dư thừa đến các trung tâm.□

——

1 Public School Review [PSR]. (2022). How Important is the Student-Teacher Ratio for Students?  Retrieved 17th September, 2022 https://www.publicschoolreview.com/blog/how-important-is-the-student-teacher-ratio-for-students

Cần chuẩn hóa dịch vụ hỗ trợ tâm lý học đường

 

“Nhiều quốc gia trên thế giới đã nhận thức được tầm quan trọng của dịch vụ hỗ trợ tâm lý học đường nhưng ở Việt Nam, công tác này vẫn bị xem nhẹ do chưa được nhìn nhận thấu đáo”, PGS.TS Đặng Hoàng Minh, Ths Hồ Thu Hà (Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội) trao đổi với Tia Sáng.

Tư vấn tâm lý học đường tại một trường
THPT ở TP HCM. Nguồn: nld.com.vn

Tia Sáng: Xin các chị cho biết vai trò cũng như công việc cụ thể của cán bộ làm công tác hỗ trợ tâm lý học đường?

PGS.TS Đặng Hoàng Minh: Chúng ta đều biết, trẻ nhỏ và thanh thiếu niên có thể gặp phải nhiều vấn đề liên quan đến việc học tập, các mối quan hệ xã hội, quản lý cảm xúc, stress hay nặng hơn là các rối loạn tâm lý như trầm cảm, lo âu, rối loạn hành vi, v.v. Cán bộ tâm lý học đường có thể giúp các em cũng như gia đình, giáo viên và những người có liên quan hiểu và giải quyết những vấn đề này, đặc biệt, giúp các em vượt qua các trạng thái tâm lý bất ổn trong thời gian ngắn và tránh tái diễn. Đồng thời, họ phối hợp cùng gia đình, nhà trường và các cán bộ chuyên môn khác nhằm tạo ra một môi trường học tập an toàn và lành mạnh, hỗ trợ học sinh phát triển toàn diện. Nếu cần một định nghĩa chuẩn thì có thể sử dụng định nghĩa đáng tin cậy nhất do Hiệp hội Tâm lý học đường Mỹ đưa ra: Cán bộ tâm lý học đường áp dụng các kiến thức chuyên môn trong các lĩnh vực sức khỏe tâm thần, sự học và hành vi để giúp học sinh thành công trên các phương diện học đường, xã hội, hành vi và cảm xúc.

Ths. Hồ Thu Hà: Cụ thể hơn, cán bộ tâm lý học đường có ba vai trò. Thứ nhất, hỗ trợ trực tiếp và tư vấn can thiệp với học sinh; thứ hai, tư vấn cho giáo viên, gia đình và các cán bộ khác trong nhà trường về các chiến lược – kế hoạch nhằm hỗ trợ học sinh phát triển một cách toàn diện. Thứ ba, họ cũng làm việc với ban lãnh đạo nhà trường để cải thiện các chính sách giáo dục trong phạm vi nhà trường, cộng tác với các tổ chức trong cộng đồng để cung cấp các dịch vụ giáo dục, tâm lý mang tính chất phòng ngừa và có lợi cho học sinh. Thông qua các hoạt động đó, cán bộ tâm lý học đường và các bên liên quan cần hợp tác sao cho dịch vụ hỗ trợ tâm lý học đường đạt được các mục tiêu chính là: nâng cao thành tích học tập của học sinh; đảm bảo sức khỏe tâm thần và hành vi tích cực ở học sinh; nhận diện và hỗ trợ nhu cầu của các nhóm học sinh đa dạng; tạo ra một môi trường học đường an toàn và tích cực.

Ngoài ra, cán bộ tâm lý học đường không chỉ hoạt động ở trường học (từ mẫu giáo tới bậc đại học) mà còn làm việc tại các trung tâm chăm sóc sức khỏe tâm thần liên quan đến trường học, cơ sở chăm sóc cộng đồng, chương trình giáo dưỡng, phòng khám tư hoặc các viện nghiên cứu và trường đại học.

Ngoài việc tiến hành sàng lọc và các trị liệu bước đầu, đối với các em học sinh bị khủng hoảng tâm lý nghiêm trọng, liệu cán bộ tâm lý học đường có thể đảm đương việc trị liệu mang tính chuyên sâu?

PGS.TS Đặng Hoàng Minh: Thông thường, cán bộ tâm lý học đường sẽ là người can thiệp ban đầu, thực hiện các bước mang tính cơ bản. Trong trường hợp  các em bị khủng hoảng tâm lý nghiêm trọng, vượt quá khả năng hỗ trợ của cán bộ tâm lý học đường thì cần có sự can thiệp của cán bộ tâm lý lâm sàng. Cán bộ tâm lý lâm sàng được đào tạo chuyên nghiệp và có các kĩ năng lâm sàng để giúp khách hàng đương đầu một cách hiệu quả hơn với các vấn đề trong cuộc sống và các vấn đề về sức khỏe tâm thần. Cán bộ tâm lý lâm sàng có thể làm việc ở bệnh viện, phòng khám tư hay tất cả những cơ sở có chức năng hỗ trợ con người giải quyết các vấn đề về: rối loạn tâm thần như trầm cảm, lo âu, xung động kéo dài; các trạng thái mãn tính ảnh hưởng tới cuộc sống hay sức khỏe thể chất như ở người mắc bệnh ung thư, tim mạch; các bất ổn tâm lý ngắn hạn như một số người bị suy sụp sau khi trải qua cái chết của người thân. Cán bộ tâm lý lâm sàng giúp khách hàng học cách đương đầu với các tình huống gây stress, điều hòa cuộc sống trong các tình huống mắc bệnh mãn tính, vượt qua các vấn đề về sức khỏe tâm thần và tự phá bỏ các rào cản ngăn họ đạt được mục tiêu của mình.

Cán bộ tâm lý học đường sau khi hoàn thành bậc cử nhân phải được đào tạo chuyên sâu cả về tâm lý và giáo dục. Một số nước yêu cầu ứng viên tối thiểu phải có bằng  thạc sĩ, nhiều nước khác yêu cầu bằng tiến sĩ và thời lượng thực tập lên tới 1200 giờ mới được tham dự kỳ sát hạch cấp chứng chỉ cán bộ tâm lý học đường.

PGS.TS Đặng Hoàng Minh.

Ths. Hồ Thu Hà: Khác với các bác sĩ, cán bộ tâm lý lâm sàng không điều trị các trạng thái bất ổn tâm lý nặng nề bằng thuốc hay các phương pháp y học khác. Họ xác định vấn đề của khách hàng bằng cách tiến hành các trắc nghiệm cần thiết, đánh giá tình trạng,  đưa ra chẩn đoán và định hình cơ chế hình thành vấn đề, từ đó, có kế hoạch trị liệu, chủ yếu là các liệu pháp tâm lý. Việc trị liệu bằng liệu pháp tâm lý cũng đã được chứng minh mang lại hiệu quả cao. Tùy thuộc vào từng trường hợp, cán bộ tâm lý lâm sàng có thể lựa chọn nhiều liệu pháp phù hợp, như: làm việc với cá nhân, cặp đôi, gia đình hay nhóm.. Nhiều nghiên cứu cho thấy,  hiệu quả trị liệu cho khách hàng thường đạt kết quả tốt nhất khi có sự tham gia của một nhóm các chuyên gia, bao gồm: bác sĩ tâm thần, cán bộ tâm lý, y tá…

PGS.TS Đặng Hoàng Minh: Ngoài ra, trong trường hợp cực kỳ đặc biệt, đối với  trẻ em có nghi ngờ tổn thương về não bộ sẽ cần tới cán bộ tâm lý thần kinh. Họ sẽ sử dụng các công cụ đánh giá để xác định chất lượng hoạt động chức năng của não bộ liên quan đến tổn thương não và từ đó, đưa ra các khuyến nghị cho kế hoạch trị liệu, bao gồm: liệu pháp tâm lý, thuốc hoặc phẫu thuật.

Như vậy, cán bộ tâm lý (ở nhiều cấp độ) có  vai trò rất quan trọng trong sự phát triển lành mạnh và toàn diện của trẻ em, thanh thiếu niên. Tại các nước dịch vụ hỗ trợ tâm lý học đường đã trở nên phổ biến, những người làm công tác hỗ trợ tâm lý phải trải qua  quy trình đào tạo như thế nào để được cấp chứng chỉ hành nghề?

PGS.TS Đặng Hoàng Minh: Đối với cán bộ tâm lý, để có được chứng chỉ hành nghề không hề đơn giản. Đào tạo bậc cử nhân thường dừng lại ở các kiến thức chung về tâm lý học. Ở các nước phát triển, sau khi hoàn thành bậc đại học, bạn trở thành cử nhân tâm lý học nhưng chưa được phép hành nghề tâm lý. Như ở Mỹ, để trở thành cán bộ tâm lý, bạn buộc phải trải qua một kỳ sát hạch (hoặc đáp ứng các yêu cầu do cơ quan có thẩm quyền ban hành) rồi mới được cấp chứng chỉ hành nghề (licence). Nhận được chứng chỉ có nghĩa là cán bộ tâm lý đã hoàn thành các yêu cầu về đào tạo (chương trình thạc sĩ, tiến sĩ kèm theo thời gian thực tập có giám sát ở các cơ sở cung cấp dịch vụ tâm lý), được quyền hành nghề và được pháp luật bảo vệ.

Quá trình đào tạo cán bộ tâm lý thường rất nghiêm ngặt, kéo dài và mỗi một lĩnh vực lại có một nội dung đào tạo khác nhau. Cán bộ tâm lý học đường sau khi hoàn thành bậc cử nhân phải được đào tạo chuyên sâu cả về tâm lý và giáo dục. Một số nước yêu cầu ứng viên tối thiểu phải có bằng  thạc sĩ, nhiều nước khác yêu cầu bằng tiến sĩ và thời lượng thực tập lên tới 1200 giờ mới được tham dự kỳ sát hạch cấp chứng chỉ cán bộ tâm lý học đường. Họ cần được trang bị các kiến thức về sức khỏe tâm thần của học sinh, mô hình can thiệp cho học sinh trong môi trường học đường, các chương trình nâng cao sức khỏe tâm thần học đường, hệ thống học đường và chính sách, đạo đức nghề nghiệp. Đặc biệt, cán bộ tâm lý lâm sàng còn phải trải qua quá trình đào tạo gắt gao hơn, thông thường lên tới 5-7 năm sau khi hoàn thành bậc cử nhân. Họ được đào tạo về đạo đức, các kiến thức tâm lý học liên quan tới cơ sở sinh học, nhận thức – cảm xúc và xã hội của hành vi, các rối loạn tâm thần, các kĩ năng cụ thể liên quan tới đánh giá và trị liệu tâm lý. So với các chuyên gia khác trong lĩnh vực sức khỏe tâm thần, họ phải trải qua một quá trình đào tạo vất vả và kéo dài hơn rất nhiều do tích hợp các học phần khác nhau về khoa học tâm lý cũng như thời gian thực tập.

Để đảm bảo về chuyên môn, ai sẽ là người giám sát các cán bộ tâm lý khi họ tiến hành công tác hỗ trợ tâm lý học đường?

Ths. Hồ Thu Hà: Theo đúng quy trình, việc giám sát quá trình hành nghề cũng rất nghiêm khắc, đòi hỏi cán bộ tâm lý phải nghiêm túc với công việc và không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn. Do nghề cán bộ tâm lý là nghề (professional) được pháp luật công nhận nên pháp luật sẽ ban hành luật, quy chế/ đạo đức hành nghề-cũng là công cụ để giám sát công việc của cán bộ tâm lý. Điều đó có nghĩa là nếu cán bộ tâm lý vi phạm đạo đức, quy chế hành nghề, cán bộ tâm lý sẽ bị kiện, dẫn đến bị treo bằng hoặc các hình thức kỉ luật khác. Ở nhiều nơi, quy chế hành nghề cũng quy định số giờ làm việc/tuần của cán bộ tâm lý, số giờ phải học tập/bồi dưỡng thêm theo năm, v.v. Thêm vào nữa, về mặt chuyên môn, cán bộ tâm lý chịu sự giám sát của các chuyên gia độc lập có chuyên môn sâu hơn, hoặc họ trao đổi chuyên môn và giám sát đồng đẳng lẫn nhau.

Xin cảm ơn sự chia sẻ của các chị!

Bảo Như thực hiện !

Vì sao chưa hiệu quả?

 


Nhằm giải quyết tình trạng ngày càng có nhiều học sinh bị khủng hoảng tâm lý ở mức độ nghiêm trọng, ngành giáo dục đã thí điểm triển khai dịch vụ hỗ trợ tâm lý học đường tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, hiệu quả chưa được như mong đợi.

“Không ít học sinh của tôi có biểu hiện tâm lý bất bình thường, trong đó, có một số em bị nhiễm HIV, là trẻ mồ côi hoặc gia cảnh rất nghèo. Các em này thường nhạy cảm trước những lời chọc ghẹo, trong giao tiếp với bạn bè dễ bị căng thẳng, không kiểm soát được hành vi, thậm chí nổi khùng, đánh, chửi bạn. Khi tôi khuyên nhủ, các em đấm vào tường hoặc đấm vỡ cửa kính… ”, chị Thương1, giáo viên một trường THCS tại TP Hải Phòng cho biết. Điều đáng nói, tình trạng khủng hoảng tâm lý học đường như chia sẻ của chị đang ngày một phổ biến và để lại hậu quả nghiêm trọng. Cái chết thương tâm do tự tử của cậu bé Ksor Sôn (Gia Lai) vừa qua là một ví dụ cho thấy, học sinh thời nay rất dễ bị khủng hoảng, chấn thương tâm lý vì nhiều lý do: mắc bệnh lý tâm thần, bị bạn bè trêu ghẹo, giận dỗi bố mẹ, học kém hay như Ksor, chỉ vì không có quần áo mới đi học. Một nghiên cứu dịch tễ học về trẻ em Việt Nam trên mẫu đại diện quốc gia [2] được thực hiện tại 60 địa điểm thuộc 10 tỉnh, thành đã chỉ ra: Khoảng 11,9% trẻ em trong độ tuổi từ 6-16 bộc lộ các vấn đề bất ổn về hành vi, cảm xúc, trong đó, 6,9% chưa vượt qua giới hạn “an toàn” và 5% đã chạm ngưỡng lâm sàng – cần can thiệp ngay. Ngoài ra, năm 2014, Sở GD&ĐT TP Hà Nội phối hợp cùng Plan International Việt Nam cũng tiến hành một khảo sát khác và kết quả khiến người ta phải giật mình về tình trạng căng thẳng tinh thần của học sinh: khoảng 65,3% học sinh từng chịu đựng bạo lực tinh thần tại trường học. Phải làm sao trước tình trạng này?

Hỗ trợ tâm lý thiếu hiệu quả, học sinh thiệt thòi

Để khắc phục thực trạng này, TP Hồ Chí Minh và Hà Nội đã mạnh dạn thí điểm một trong hai mô hình hỗ trợ tâm lý học đường sau:  Thứ nhất, giáo viên kiêm nhiệm vai trò của chuyên viên tâm lý học đường; thứ hai, chuyên viên tư vấn tâm lý học đường phải kiêm nhiệm thêm các công tác khác. Theo PGS.TS Trần Thị Lệ Thu, Trưởng bộ môn Tâm lý ứng dụng, khoa Tâm lý giáo dục, đại học Sư phạm Hà Nội, cả hai mô hình trên đều bất hợp lý, bởi: “Hầu hết giáo viên đều quá tải với việc dạy học và khó đảm nhiệm thêm vai trò khác. Chưa kể, dù được tập huấn ngắn hạn về tâm lý, giáo viên kiêm nhiệm chuyên viên tâm lý cũng khó có chuyên môn sâu và chỉ có thể ‘tư vấn đầu bờ’ mà thôi. Còn chuyên viên tâm lý, do phải đảm nhiệm các công tác khác trong trường học nên nhiều khi, khó đảm bảo tính khách quan, tính bí mật trong quá trình hỗ trợ, tư vấn”.

Tương tự như Hà Nội, nhiều trường tại TP HCM cũng lâm vào tình trạng vừa thừa, vừa thiếu chuyên viên tư vấn. Trên địa bàn thành phố, đã có khoảng 89% các trường THCS công lập và 86% trường THPT công lập thực hiện hỗ trợ tâm lý học đường nhưng trong số 480 chuyên viên tâm lý học đường, chỉ có 21% chuyên trách, còn lại, 79% phải kiêm nhiệm nhiều công việc một lúc. Những người phải kiêm nhiệm chủ yếu là giáo viên giảng dạy (54%), giám thị (19%), tổng phụ trách đội và trong ban giám hiệu (23%). Họ có chuyên môn về sư phạm chứ không được đào tạo bài bản về tâm lý học đường2. Kết quả, học sinh chính là đối tượng chịu thiệt thòi hơn cả.

Theo khảo sát của Tia Sáng, sau quá trình thí điểm, đến nay, chỉ có một số ít trường phổ thông ở Hà Nội thực hiện tốt chương trình hỗ trợ tâm lý học đường như: hệ thống trường Olympia, hệ thống giáo dục Nguyễn Bỉnh Khiêm, trường THPT Đinh Tiên Hoàng. Đặc biệt,  hệ thống trường tư thục Olympia có phòng Tâm lý học đường độc lập. Chuyên viên tâm lý học đường ở đây không phải kiêm nhiệm giảng dạy các bộ môn khác (chỉ dạy thêm các tiết tâm lý học cho học sinh khối THPT) và luôn can thiệp kịp thời, trực tiếp khi có các trường hợp tâm lý bất thường. “Khi một học sinh có vấn đề bất ổn về tâm lý, tôi có thể yêu cầu tất cả mọi người trong hệ thống giáo dục của trường hợp tác để hỗ trợ toàn diện cho học sinh. Chẳng hạn, khi  học sinh từ nhà lên xe bus đi học, mình đề nghị monitor phải giao tiếp với em đó. Tôi cũng thảo luận với giáo viên và cha mẹ để họ có cách ứng xử phù hợp khi các em đến trường, về nhà, nhằm đảm bảo học sinh có điều kiện phát triển tâm lý tốt hơn”, chị Phương Hoài Nga, chuyên viên tâm lý học đường tại hệ thống trường tư thục Olympia chia sẻ.

Tại hệ thống giáo dục Nguyễn Bỉnh Khiêm, dù vẫn phải kiêm nhiệm việc giảng dạy các bộ môn khác nhưng ba chuyên viên tâm lý học đường đã thực hiện một mô hình khá linh hoạt là tư vấn chéo: Chuyên viên A phải giảng dạy lớp A thì sẽ tư vấn cho lớp B để đảm bảo các chuyên viên tâm lý không tư vấn trùng lớp mà mình đang giảng dạy. Ngoài ra, các chuyên viên tư vấn ở trường Olympia và Nguyễn Bỉnh Khiêm thường xuyên trao đổi chuyên môn đồng thời chịu sự giám sát của các nhà tâm lý học thuộc các trường đại học Sư phạm Hà Nội, đại học Giáo dục.

Tuy nhiên, đó là hai trường hợp hiếm hoi triển khai “triệt để” dịch vụ hỗ trợ tâm lý học đường và theo đánh giá của chính các chuyên gia trong ngành, rất khó nhân rộng hai “tấm gương” này. Vì sao?

“Dưới” thờ ơ, “trên” lúng túng?
“Chuyên viên tâm lý học đường chính là người có khả năng nhất trong việc đánh giá khuyết tật trong hệ thống nhà trường và hợp tác chặt chẽ cùng giáo viên  lớp đặc biệt để tham gia tư vấn (consultation) trong việc dạy dỗ học sinh”. TS. Lê Nguyên Phương.

“Khi bắt đầu đưa phòng tâm lý học đường vào hoạt động, suốt một thời gian dài, giáo viên và phụ huynh vẫn không hiểu rõ vai trò của phòng và tại sao lại phải phối hợp với chúng tôi”, chị Phương Hoài Nga nhớ lại. Chị và các chuyên viên khác đã phải mất tới 5 năm để cải thiện tình hình, khiến giáo viên, phụ huynh thay đổi nhận thức và tích cực hợp tác. Ngoài vấn đề kinh phí, chính vì chưa nhận ra tầm quan trọng của công tác tư vấn tâm lý học đường nên không ít trường sử dụng giáo viên kiêm nhiệm thay vì tuyển các chuyên gia thực sự. PGS.TS Đặng Hoàng Minh, Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết, nhiều trường đại học đã đào tạo chuyên ngành tâm lý học đường nhưng sau khi ra trường, các chuyên viên tâm lý được đào tạo bài bản này có nguy cơ thất nghiệp nếu không nơi nào tuyển dụng (tới nay, Đại học Giáo dục thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội đã có bảy khóa thạc sĩ Tâm lý lâm sàng trẻ em và vị thành niên, đồng thời, theo khảo sát của Tia Sáng, Đại học sư phạm Hà Nội có năm khoá cử nhân Sư phạm Tâm lý giáo dục). Một nguy cơ khác là có thể tới đây, nhiều sinh viên sẽ “quay lưng” với ngành tâm lý học đường do lo lắng chuyện “đầu ra” và kết quả, tình trạng vừa thừa, vừa thiếu chuyên viên cứ thế tiếp diễn.

Có thể thấy, thực trạng trên bắt nguồn từ chính sự lúng túng của ngành giáo dục. Nhiều năm nay, ngành giáo dục đã có chủ trương coi trọng các hoạt động hỗ trợ tâm lý học đường. Từ năm 2005, bộ Giáo dục và đào tạo đã ban hành công văn số 9971/BGD&ĐT – HSSV về triển khai công tác tư vấn cho học sinh sinh viên, trong đó có hướng dẫn về các nội dung tư vấn. Trong nhiều văn bản tổng kết công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên gần đây, Bộ GD&ĐT đều xác định rất rõ ràng vai trò của dịch vụ hỗ trợ tâm lý học đường và cũng tiến hành đánh giá ưu nhược điểm của các mô hình tư vấn tâm lý đã đi vào hoạt động3. Tuy vậy, ngành giáo dục dường như còn đang lúng túng trong việc đưa dịch vụ hỗ trợ tâm lý học đường vào thực tiễn chứ không chỉ là thí điểm khi chưa hề có các văn bản cụ thể quy định quy trình thực hiện, giám sát chuyên môn cho các hoạt động này mà chủ yếu vẫn để các cơ sở giáo dục tự triển khai một cách linh hoạt. “Đó là lý do nhiều trường áp dụng mô hình giáo viên kiêm nhiệm chuyên viên hỗ trợ tâm lý hoặc để chuyên viên đảm nhiệm thêm nhiều công việc khác. Giả sử, nếu chấp nhận mô hình giáo viên kiêm nhiệm hoạt động hỗ trợ tâm lý thì giáo viên đó phải được đào tạo về tâm lý học đường, hoặc trong đào tạo sư phạm phải chú trọng đến các nội dung chuyên sâu về tâm lý học đường”, PGS.TS Đặng Hoàng Minh phân tích.
“Sự thay đổi về chính sách là yếu tố quan trọng để thúc đẩy nhận thức đúng hơn về hỗ trợ tâm lý học đường và rộng hơn thế là nhận thức đúng hơn về vai trò của sức khoẻ tâm thần đối với xã hội”, PGS.TS Đặng Hoàng Minh.

Không chỉ vậy, dường như hệ thống giáo dục “vẫn chưa có một hiểu biết toàn diện và sâu sắc về sự tương đồng và khác biệt giữa ba ngành: tâm lý học đường (school psychology), tham vấn học đường (school counseling) và công tác xã hội học đường (school social work)”, TS. Lê Nguyên Phương, Chủ tịch Liên hiệp Phát triển tâm lý học đường thế giới, hiện đang giảng dạy Tâm lý học đường tại đại học Chapman, California, Mỹ nhận xét. Chính những thiếu sót về nhận thức đó mới dẫn đến thiếu sót trong đào tạo; xây dựng công cụ, tiêu chuẩn đạo đức hành nghề và các phương diện thực hành khác. “Trên thế giới và đặc biệt tại Mỹ, chuyên viên tâm lý học đường được đào tạo để phòng ngừa, sàng lọc, đánh giá, can thiệp, tham vấn, tư vấn các khiếm khuyết về trí tuệ, học tập, cảm xúc và hành vi trong nhà trường. Trong khi đó, tại Việt Nam, khi nhìn nhận về ngành nghề này, hầu hết mới chỉ nghĩ đến hoạt động tham vấn (counseling) mà quên rằng chuyên viên tâm lý học đường chính là người có khả năng nhất trong việc đánh giá khuyết tật trong hệ thống nhà trường và hợp tác chặt chẽ cùng giáo viên  lớp đặc biệt để tham gia tư vấn (consultation) trong việc dạy dỗ học sinh”, ông nhấn mạnh.

Giải quyết từ gốc

Trả lời phỏng vấn của Tia Sáng, không ít chuyên gia tâm lý cho rằng, để giải quyết tận “gốc rễ” vấn đề, trước tiên, các cơ quan chức năng phải tiến hành cấp mã ngành, mã nghề cho ngành tâm lý học đường. Cùng với đó, phải xây dựng ngay quy trình thực hiện cụ thể, bộ tiêu chuẩn nghề nghiệp, quy trình giám sát chuyên môn và đạo đức nghề. Khi có chính sách rõ ràng, các trường sẽ căn cứ vào đó để có chương trình tuyển dụng, sử dụng hợp lý nguồn nhân lực được đào tạo sâu về tâm lý học đường.

Về mặt chuyên môn, các chuyên gia đều khẳng định, nên chấm dứt tình trạng kiêm nhiệm và cần thiết phải có chuyên viên tâm lý học đường chuyên nghiệp. Họ phải được thực hiện đúng nhiệm vụ, đồng thời có ý kiến tương đối độc lập với ban giám hiệu nhà trường để đảm bảo sự khách quan và vô tư trong quá trình hỗ trợ cho nhà trường cùng học sinh.

Xem xét các mô hình dịch vụ hỗ trợ tư vấn tâm lý học đường đã được áp dụng, có thể thấy, mô hình của trường tư thục Olympia tương đối “chuẩn”, đem lại hiệu quả khả quan và nên nhân rộng. Tuy nhiên, đa số các cơ sở giáo dục công lập đều “vấp” phải vấn đề về nguồn nhân lực và tài chính. Điều đáng nói, học sinh đang học tập tại các trường thiếu thốn kinh phí lại chính là đối tượng cần được hỗ trợ tâm lý học đường bởi ngoài áp lực học tập, các em còn phải chịu áp lực từ hoàn cảnh gia đình và căng thẳng xã hội. Trong bối cảnh đó, giải pháp trước mắt mà các cơ sở giáo dục có thể cân nhắc là nhiều trường cùng nhận sự hỗ trợ của một chuyên viên tâm lý học đường. Từ kinh nghiệm thực hành ở Mỹ, TS. Lê Nguyên Phương gợi ý: “trong tuần, một chuyên viên tâm lý học đường có thể làm việc hai ngày ở trường này và ba ngày ở trường kia theo lịch cố định, miễn sao không bị quá tải. Hội Tâm lý học đường của Mỹ cũng đã đưa ra tỷ lệ hợp lý giữa chuyên viên tâm lý học đường và học sinh là: 1/500-700”.

Tuy nhiên, nói gì thì nói, sự thay đổi nhận thức của xã hội vẫn là quan trọng nhất.  Trong những năm qua, TS. Phương cùng nhiều nhà tâm lý học khác tại Việt Nam vẫn kiên trì tìm cách tuyên truyền, phổ biến về vai trò của dịch vụ hỗ trợ tâm lý học đường. Từ những nỗ lực đó, tháng Bảy vừa qua, Hội thảo quốc tế về tâm lý học đường lần thứ 5 đã được tổ chức tại Việt Nam, thu hút sự chú ý của dư luận trong nước và quốc tế.

Phòng trà ca nhạc: Đầu tư lớn để đi đường dài

 

SGGP 

Giữa thời điểm nhu cầu thưởng thức văn nghệ của khán giả tại TPHCM ngày càng tăng cao, nhiều phòng trà đang nỗ lực đầu tư, thay đổi để hút khách, trở thành không gian thưởng thức âm nhạc chất lượng cao. Không ít nghệ sĩ nhận định, đây là thời điểm phòng trà được ưa chuộng trở lại. 

Một buổi biểu diễn văn nghệ ở sân khấu phòng trà Bến Thành, TPHCM

Một buổi biểu diễn văn nghệ ở sân khấu phòng trà Bến Thành, TPHCM

Sức hút trở lại

Tình trạng các phòng trà tại TPHCM bão hòa, bị thu hẹp hay “chết” sau dịch bệnh giờ đây đang được cải thiện dần. Các phòng trà Đồng Dao, Không Tên, Vừng, Chợ Gạo, Cooku Nest, We, Acoustic… và nhiều điểm hẹn âm nhạc lớn nhỏ khác đang tạo sức hút trở lại cho hình thức này. Mới đây, Phòng trà Bến Thành theo phong cách Sài Gòn xưa vừa ra mắt tại Nhà hát Bến Thành (quận 1) được nhiều nghệ sĩ, khán giả đón nhận. Quản lý các phòng trà cho biết, mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng vẫn nỗ lực duy trì các tụ điểm, giữ lại thói quen nghe nhạc của khán giả. Không chỉ là nơi thực hiện các đêm nhạc, các phòng trà giờ còn là nơi tổ chức các mini show ca nhạc, họp báo ra mắt sản phẩm của nghệ sĩ. 

Nếu như sau dịch bệnh khoảng 2 tháng, một số quản lý phòng trà từng phải gồng gánh bằng sự kiên trì, lịch diễn èo uột, khách đến không nhiều, phải bù lỗ chi phí thuê ban nhạc, ca sĩ, quảng cáo, thì nay đã khác. Như Phòng trà Vừng (61 Trần Quốc Thảo, quận 3), hầu như lịch diễn kín các đêm. Fanpage phòng trà cập nhật liên tục các đêm nhạc để khách đặt chỗ. Ai không nhanh tay mất ngay chỗ ngồi ngon đêm nhạc mình yêu thích. Vừng, dù diện tích khá nhỏ nhưng trở thành chốn quen để các ca sĩ showbiz Việt biểu diễn. Đáng mừng, phòng trà này hoạt động gần như xuyên suốt trong tháng, mở cửa cả những ngày đầu tuần. Trong khi đó, Phòng trà Bến Thành vừa ra mắt, các đêm nhạc đầu tiên hầu như bán hết 300 vé. Lịch diễn các đêm nhạc đến giữa tháng 11 có sẵn. Chưa kể, danh sách ca sĩ biểu diễn hàng đêm vô cùng hùng hậu, từ dàn sao hạng A cho đến các giọng ca trẻ ăn khách hiện nay. Nhà văn Hà Thanh Phúc, chủ Phòng trà Bến Thành, cho biết, làm nghề nhiều năm, với anh, bán vé xem hát ở thành phố là khó nhất. “Bán đủ 100 chỗ ngồi xem ca nhạc phòng trà ở TPHCM là áp lực. Vì vậy, khi quyết định mở sân khấu 300 chỗ, tôi mất ăn mất ngủ. Thực sự giai đoạn này làm show vô cùng khó khăn. Mô hình phòng trà ngày càng bão hòa nhưng hy vọng có thể làm được một sân khấu chỉn chu cho nghệ sĩ, khán giả lui tới”, anh Phúc nói.

Với rất nhiều thế hệ người yêu nhạc, thói quen đi nghe ca nhạc phòng trà đã gắn với thời thanh xuân của họ. Hà khởi đầu là ca sĩ hát ở các phòng trà. Ngày xưa phòng trà chỉ dành cho các khán giả có kinh tế một chút. Bây giờ phòng trà mở ra nhiều và hướng đến các khán giả trẻ nhiều hơn, chi phí cho nghe nhạc cũng hợp lý. Các ca sĩ trẻ cũng vì vậy mà có nhiều cơ hội được hát và được gặp gỡ trò chuyện với khán giả nhiều hơn.


                                                    Ca sĩ NGUYÊN HÀ

Ca sĩ Thái Trinh cho biết: “Thực tế, ai cũng thấy hiện nay nghệ sĩ thiếu “đất”, thiếu sân khấu để thể hiện ca khúc của mình và phòng trà là nơi cho họ được có những khoảnh khắc gần gũi khán giả. Phòng trà có thời điểm vàng son, rất rộ và cũng có những lúc thoái trào. Với thời điểm hiện tại, chu kỳ thịnh hành đang trở lại”. 

GS Ngô Bảo Châu: "Toán học và phụ nữ đều khó giải"


(Dân trí) - "Phu nhân ảnh hưởng thế nào đến sự nghiệp của Giáo sư? Giữa việc giải một bài toán khó và giải mã một người phụ nữ, cái nào dễ hơn?" - ông Ngô Bảo Châu cười lớn khi nghe câu hỏi của sinh viên.

Chiều 1/4, Giáo sư (GS) Ngô Bảo Châu giao lưu với sinh viên ĐH Quốc gia TPHCM tại "Ươm mầm tài năng Toán và Trí tuệ nhân tạo". Tại đây, sinh viên đã đặt nhiều câu hỏi trong nghiên cứu Toán học cũng các lĩnh vực trong đời sống với ông. 

Một sinh viên đến từ Gia Lai đặt câu hỏi: "Phu nhân ảnh hưởng thế nào đến sự nghiệp của Giáo sư? Giữa việc giải một bài toán khó và giải mã một người phụ nữ, cái nào dễ hơn?"

GS Ngô Bảo Châu: Toán học và phụ nữ đều khó giải - 1

GS Ngô Bảo Châu trả lời sinh viên câu hỏi "giải toán và giải mã người phụ nữ" (Ảnh: T.M).

GS Ngô Bảo Châu cười lớn và cho rằng đây là một câu hỏi rất thú vị. Ông chia sẻ, mình may mắn có một người vợ luôn chăm sóc và tôn trọng công việc của chồng. Đó là việc không hề dễ dàng khi ông là người nghiên cứu Toán, có những năm tháng luôn sống khép kín không giao tiếp hay nói chuyện với ai. 

"Nhiều năm liền mặt tôi thường xuyên xị xuống, nhìn không có sự vui vẻ. Không phải là có chuyện gì đó mà chỉ là tôi luôn nghĩ về Toán, nghĩ những bài toán chưa giải được. 

Có một ông chồng cứ mặt nặng mặt nhẹ là gánh nặng tâm lý rất lớn trong gia đình. Vợ tôi không phải là người học Toán nhưng thật may, bà rất thông cảm và các con cũng rất hiểu cho bố. Đây chính là chỗ dựa vững chắc cho tôi", GS Ngô Bảo Châu bày tỏ. 

So sánh giải Toán và giải mã người phụ nữ - cả hai đều khó. Khác nhau ở chỗ với một bài toán, giải hôm nay chúng ta hiểu, ngày mai cũng sẽ hiểu nhưng người phụ nữ, hôm nay ta hiểu nhưng ngày mai có thể ta không hiểu họ nữa. 

Một sinh viên khác hỏi: Người như GS liệu có những khoảnh khắc lười và làm thế nào để vượt qua cơn lười?

Ông Châu bày tỏ, ngoài Toán, ông quan tâm đến nhiều khía cạnh trong cuộc sống như khoa học, triết học, văn học, mỹ thuật... Chính những điều này làm cho cuộc sống trở nên thú vị hơn, giúp chúng ta có khả năng tập trung cao khi làm việc. 

"Đừng nghĩ mình quan tâm nhiều thứ thì mất thời gian. Chúng ta không thiếu thời gian, chúng ta chỉ thiếu sự tập trung", ông nhấn mạnh. 

Vị GS trải lòng, ông cũng như mọi người, có những lúc lười chỉ muốn gác hết mọi thứ. Nhưng khi lớn tuổi thì càng phải có trách nhiệm, phải cố gắng để hoàn thành công việc. Trong đó, có những việc ông chẳng thích thú gì nhưng phải nỗ lực để đảm bảo thời gian hoàn thành. 

Trước lo lắng của một số người bị mất phương hướng trong học tập, hoang mang trong nghiên cứu, ông Châu trải lòng, khi mới sang Pháp, bản thân cũng từng gặp khủng hoảng nghiêm trọng vì không hiểu đang học gì. Các bài toán ông giải được nhưng không hiểu bản chất các khái niệm, định lý. Qua giá trình học tập, ông vượt qua được khủng hoảng khi hiểu được giá trị của việc nắm bắt những vấn đề trừu tượng để giải quyết các vấn đề cụ thể. 

GS Ngô Bảo Châu: Toán học và phụ nữ đều khó giải - 2

Sinh viên đặt câu hỏi trong buổi giao lưu (Ảnh: T.M).

Từ kinh nghiệm của mình, theo GS Ngô Bảo Châu nhận định, hơn 90% thời gian trong quá trình nghiên cứu, người thực hiện sẽ rơi vào tình trạng bế tắc. Xuất phát từ một số lý do như người nghiên cứu chưa hiểu tường tận về đề họ đang làm, sử dụng lại phương pháp của những người đi trước...

Những điều này đòi hỏi người làm nghiên cứu cần tố chất siêng năng, nghiên túc và đặc biệt không ngừng làm mới mình, tìm cách để có tư duy mới. 

'Trong cuộc đời nghiên cứu, tôi nghĩ chúng ta chỉ độ vài ba khám phá đã hạnh phúc và thấy cuộc sống có ý nghĩa" - ông nói.

Thứ Năm, 3 tháng 11, 2022

Tiếng Miền Nam trước nhứt phải được tôn trọng từ chính người Miền Nam

 


Tiếng Miền Nam trước nhứt cần phải được tôn trọng từ chính người Miền Nam

 

Mấy ngày nay có cuộc bút chiến "hủ tíu" hay "hủ tiếu" khi một trang của các bạn Miền Bắc phủ nhận chữ "hủ tíu",với các bạn "hủ tiếu" mới đúng


Rất logic,người Miền Bắc không phát âm chữ i ngắn đặng ,họ học viết hủ tiếu dễ hơn hủ tíu


Thí dụ như các học sinh Miền Bắc học "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" không hiểu gì hết.Một học sinh HN năm 2005 viết vầy:


"Đề bài thi học sinh giỏi năm nay là “Giới thiệu vẻ đẹp của tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” nhưng thực sự em không hề thích tác phẩm này


Bọn em không quay lưng với lịch sử, nhưng có nhiều cách để bọn em hiểu về lịch sử dân tộc hơn là phải học những bài tế khô khan, khó hiểu như thế này...


Em không thích tác phẩm này vì nó quá cứng nhắc, khó hiểu. Em đọc xong mà không hề có một chút xúc động hay xót thương, như vậy là lỗi tại em hay tại nhà văn không truyền tải được đến người đọc?."


Các bạn không ưa Đồ Chiểu thì chúng tôi ưa Nguyễn T và những tác giả hoa hòe hoa sói với cái giọng văn giả tạo tới mức "nồng nặc mùi giả tạo" hay sao?


Chuyện Nam Bắc còn dài,nhưng ngặc một cái người Bắc có xu hướng "ép" người Nam phải theo họ,tức là sửa tiếng nói Miền Nam lần hồi ,lấy Tiếng Bắc làm "phổ thông","làm chuẩn" 


Đi ngân hàng,viết "Hai chục triệu một trăm lẻ ba ngàn đồng" thì em ngân hàng không chịu.Em bắt khách hàng MN giữa đất SG viết lại kiểu của em là "Hai mươi triệu một trăm linh ba nghìn đồng" 


Chuyện lên máy bay hoặc phi cơ mà nghe "tàu bay" là bực bội trong lòng khách Miền Nam 


Có người lý giải chuyện "Ngàn" thành "Nghìn","Kinh" thành "Kênh",“Nhứt” thành “Nhất”, “Tân Sơn Nhứt”lại bị biến thành "Tân Sơn Nhất,”Bịnh” thành”Bệnh” trên văn bản hành chánh,bảng hệu là do dân Nam Kỳ cũng đồng tình vì thấy “có lý” hoặc "sao cũng được" là chuyện bá láp,tào lao


Không ai chịu để cho người lạ đổi tên khai sanh ông bà tổ tiên mình hết 


 “Ầu ơ…. !

Dí dầu cầu ván đóng đinh

Cầu tre lắt lẻo gập ghình khó đi

Khó đi, mẹ dắt con đi

Con đi trường học, mẹ đi trường đời”


Thấy một trang mang danh "Nam Kỳ" lớn tiếng bảo vệ chữ "hủ tíu" nhưng lòng vòng một hồi kết luận "Không có chuẩn mực nào giữa "hủ tíu" và "hủ tiếu" ,cũng như giữa "bịnh" và "bệnh" 


Bậy bạ rồi.Trình độ ba phải.Đáng đánh đòn.Số hai phải trước số ba,số bốn chớ 


1- Chữ "bịnh" là chánh thống 


Bịnh xuất xứ từ 病 đọc gốc là bạnh ,sau ra bịnh,tức là bịnh gần âm nhứt của bạnh.Bịnh là cha của bệnh 


Người Bắc  họ đọc âm i ngắn khá khó nên biến âm ta gọi là bệnh


Sau BK 54 vô Nam đã đổi nhiều bịnh viện trong Nam thành bệnh viện,sau 1975 thì thủ tiêu luôn chữ bịnh


Người Nam tiếp xúc với chữ Quốc Ngữ,y khoa Tây Phương sớm nhứt Việt Nam 


Thuật ngữ "Thuốc Tây","Nhà thương"(Bịnh viện) ,Đốc tờ (Bác sĩ),"Phòng mạch" là văn minh của Ki Tô giáo vào đất Sài Gòn sớm nhứt 


Học giả Trương Vĩnh Ký,nhà văn hóa Nam Kỳ nhuần nhuyễn đạo đức tu thân,ông sống thanh bần.Trương Vĩnh Ký là hậu tổ của chữ Quốc Ngữ truyền bá ở Nam Kỳ 


Muốn khai thác thì phải đầu tư Nam Kỳ


Người Pháp phải đầu tư từ giáo dục ,chữ viết,tới văn hóa,cơ sở hạ tầng,xây dựng thành phố,,đường xá,đường xe lửa,bến cảng,xẻ kinh ngang dọc để khai hoang đất,xổ phèn và thoát lũ…


Rồi ăn chín uống sôi,cắt tóc ngắn,cắt móng tay dài ,đi giày dép,biết xài xà bông rửa tay,đẻ hay có đau bịnh phải đi nhà thương 


Trong vòng 80 năm Pháp đổ tiền,đổ công sức không biết bao nhiêu để có được một Nam Kỳ văn minh sau này 


Pháp qua ,bỏ giáo dục nho học thi hương thi hội, bắt đầu thiếp lập giáo dục chữ quốc ngữ đầu tiên ở Nam Kỳ ,chữ Pháp với 3 cấp cùng 4 phép tính


Ngày 17-3-1879, Pháp thành lập Sở Học Chánh công cộng Nam Kỳ (Service de l'instruction publique) ở Sài Gòn 


Những trường trung học lớn và xưa nhứt có thể kể là Collège de My Tho,Chasseloup-Laubat (Lê Qúy Đôn) , Trường La San Taberd SG, Collège Can Tho,Trường Collège des Jeunes Filles indigènes (Gia Long) ,Lycee Marie Curie …


Khi Pháp qua Nam Kỳ năm 1859 thì người Nam Kỳ mới biết tới Tây Y ,thuốc viên gọi là thuốc Tây 


Khi đó Pháp mới xây những cái trạm tập trung chữa bịnh ,trị thương cho lính Pháp trước ,sau trị bịnh cho dân ,có thể kể ra đó là Hôpital Militaire của quân đội Pháp, thành lập đầu tiên từ năm 1862 


Lúc này các y tá và điều dưỡng đều là các soeur bên Công Giáo coi sóc 


Người Nam Kỳ kêu các Soeur là “bà phước” vì các vị này rất hiền lành,nhơn từ,không chồng con,cả đời phục vụ cho đạo,cho xã hội 


Người Nam Kỳ dịch chữ”Hôpital” thành "Nhà thương” vì trong này có nhiều bà phước coi sóc,mà người bịnh bức rức trong lòng họ cần tình thương ,sự xoa dịu tinh thần của bác sĩ,y tá và các soeur 


Như đã nói,rốt cuộc “Hôpital Militaire” dịch ra là nhà thương quân đội,nó là tiền thân của nhà thương Grall,dân gian kêu nhà thương Đồn Đất 


Thời Pháp có nhà thương công, nhà thương tư,nhà thương của giáo hội hội đoàn 


Tại nhà thương công và của giáo hội thì rất rẻ chi phí,còn có “nhà thương thí” tức là vô không tốn cắc bạc nào dành cho dân nghèo 


Kêu "Hospital" là nhà thương ,rồi bịnh viện vì có "bịnh đau" phải đi vô nhà thương,bịnh viện 


Năm 1935, Thống đốc Nam Kỳ Pierre Pagès chấp thuận cho phép biến phòng khám đa khoa “Polyclinique du Boulevard Bonard“ thành bịnh viện 


Hội đồng quản hạt bỏ tiền,cá nhơn ông trùm bất động sản Hui Bon Hua (chú Hỏa) cũng đóng góp nhiều tiền xây dựng bịnh viện


Bịnh viện được đặt tên bác sĩ Dejean de la Bâtie.Tòa nhà phía trái đặt tên là tòa nhà Montel;Tòa nhà phía phải đặt là tòa nhà Hui Bon Hoa 


Năm 1955 bịnh viện đổi tên là bịnh viện Sài Gòn


Xưa tại tỉnh lỵ Gia Định ở Bà Chiểu có một bịnh viện ở đối diện trường vẽ tên là Hôpital de Gia Đinh


Năm 1945, Hôpital de Gia Định được đổi tên thành bịnh viện Nguyễn Văn Học.Đến năm 1968 bịnh viện cũ được phá đi và xây mới 4 tầng .Sau 1975, bịnh viện Nguyễn Văn Học bị đổi tên thành bệnh viện Nhân Dân Gia Định 


Tỉnh Chợ Lớn có rất nhiều nhà thương,bịnh viện lớn ,thí dụ L'Hôpital Indigène (Bịnh viện Chợ Rẩy),Hôpital de la Maternité (Bịnh viện Hùng Vương),Hôpital de la Drouhet (Bịnh viện Hồng Bàng)


Nhưng giờ bảo đảm bạn không thấy nữa đâu,nó "đúng" theo cách sau 1975 phải là "bệnh viện" mới đúng chánh tả và "chuẩn","phổ thông" 


Nhiều người ầu ơ chàng hảng nói bịnh cũng như bệnh thôi


Không nha! 


Cũng như chữ cầu Trường Tiền bị đổi thành cầu Tràng Tiền là xúc phạm người Huế á 


"Bịnh" chính là âm Hán Việt của 病 (bạnh) 


Bịnh xuất xứ từ 病 bạnh ,sau ra bịnh,tức là bịnh gần âm nhứt của bạnh.Bệnh chỉ là trại giọng của bịnh 


Người Bắc họ đọc âm i ngắn khó nên biến âm ra gọi là bệnh


Không những đọc bịnh khó, đọc chữ nhứt cũng khó,đọc chữ "con kinh" cũng khó,đọc chữ "gành" cũng mệt ,đọc chữ "r" và "d" cũng khó 


2- "Hủ tíu" là chữ chánh thống của món ăn Miền Nam 


Nguồn gốc hủ tíu là từ người Tàu Nam Kỳ,có  hai nguồn gốc xin ghi ra 


- Mặc Nhân TVC trong bài về Mỹ Tho xưa có nói về nguồn gốc hủ tíu Mỹ Tho.Trong mục " Hủ tíu thời xa xưa" ông có ghi rằng: 


"Từ hủ tíu không biết xuất xứ từ đâu vì người Hoa họ không gọi hủ tíu mà họ gọi là phảanh,còn hủ tíu chỉ là chất bột để làm phảanh


Do đó ăn hủ tíu họ gọi là xực phảanh.Vào tiệm hủ tíu gọi một tô hủ tíu có thêm xương, gọi là dách cô phảanh thím xực xí quách


Ngày xưa người Pháp gọi hủ tíu là soupe chinoise (súp Tàu). Đến bây giờ người ngoại quốc đến Mỹ Tho ăn hủ tíu cũng gọi là soupe chinoise hay chinese soup


Đến ngày nay hủ tíu đã thành một từ Việt Nam 


Ngược dòng lịch sử, ta trở về Mỹ Tho một thế kỷ trước để thưởng thức hủ tíu Mỹ Tho do người Hoa chánh hiệu đứng nấu


Chú Sồi, hủ tíu chú Sồi, với một chiếc xe ba bánh, có thành vách ba bên, lộng kiếng vẽ đủ thứ cảnh hình trong truyện Tam Quốc như Quan Công phò nhị tẩu, Giang tả cầu hôn, Đương Dương trường bản, Khổng Minh tọa lầu…rong ruổi khắp các nẻo đường thành phố để mưu sinh,mà cũng để cho người dân Mỹ Tho có được một tô hủ tíu đậm đà


Ở giữa xe là một thùng nước lèo bốc hơi nghi ngút, những thúng, rổ nhỏ đựng hủ tiu, mì, bột nặn hoành thánh, dầu chá quảy…(để ăn kèm với mì, hủ tíu), tô chén úp bên cạnh đũa, muỗng lộn xộn với hủ nước tương, xì dầu, hột cải…"(hết trích) 


Tác giả lớn tuổi nhớ về Mỹ Tho xưa đã khẳng định "hủ tíu" là món ăn của Mỹ Tho 


Ông này lý giải kiểu Quảng Đông


Vì người Quảng gọi bánh sợi gạo trắng là “hồ phảanh” (河粉), âm Hán Việt là “hà phấn”.Khi xào thì họ cắt gọi là “tài phảanh” (大粉), âm Hán Việt là “đại phấn”, nghĩa là sợi gạo trắng to hay chảo phảanh, tức là hủ tíu xào


Còn với món có nước thì xắt sợi mảnh gọi là hồ phảanh.Thành ra khi ăn hủ tíu họ gọi là xực phảanh là chính xác 


-Theo học giả Vương Hồng Sển viết về hủ tíu như sau: 


"Khi tôi từ Sốc Trăng năm 1947, chạy lên trên nầy, tôi không được mục kích cảnh sống trên đất Sài gòn nầy, những năm tao loạn 1945-1946 (...)


(...)


Lại nhắc đến tô hủ tíu của chú Ba Tàu.Hỏi chú chệc Tiều (Triều Châu), chú sửa cục thuốc xỉa qua bên môi, và cắt nghĩa:"Củi viết ra Hán tự là “Quế”, “tíu” muốn dịch là “tiểu” hoặc “thiểu” (nhỏ) đều nghe không thông,nhưng không dám đảm bảo là chắc, và “củi tíu” là bánh bột cọng nhỏ, nấu theo điệu Tiều, gia vị tôm tươi, chả cá, gan heo, bao tử luộc ram lại gọi là “phá lấu”, chút ít thịt gà, thì gọi “củi tíu cá gà”, hoặc vài miếng thịt heo thì gọi “củi tíu thịt” nhưng đó là “củi tíu” Tiều, sau đó ta chế lại, và gọi “củi tíu Nam Vang” hoặc “củi tíu Mỹ Tho” (Trích Sài Gòn tạp pín lù)


Ông Vương Hồng Sển kể nguồn gốc hủ tíu.Đó là món Tiều tên là "củi tíu" nghĩa là bánh bột cọng nhỏ.Có củi tíu gà,củi tíu heo.Sau chuyển âm Việt thành "hủ tíu" 


Một số người nói là "cổ chéo"


Một số lý giải là do người Quảng Đông đọc “wuở tíu”粿條 âm Hán Việt là “quả điều”,người Tiều phát âm là “quể tíu”


Chưa có học giả Việt nào có cuốn tự điển tiếng Quảng Đông và Tiều -Việt nên nói tùm lum chẳng biết rốt cuộc nó chính xác chổ nào 


Nhưng khẳng định cái tên "Hủ tíu" là âm Việt rồi,bỏ lý lẽ là của Tàu 


Trước 1954 Miền Nam viết là "hủ tíu"


Ông bà tổ tiên người Miền Nam ăn món hủ tíu mòn răng và kêu là hủ tíu.Chúng ta dân Miền Nam nhỏ lớn đọc và viết là "hủ tíu".Không cần cuốn tự điển nào chứng minh hết 


Sau đó sách giáo khoa,sách báo phần đông do người Bắc 54 trước 1975 thời VNCH họ viết "hủ tíu"  thành ra chuyển thành "hủ tiếu" 


Các nhà văn hóa Miền Nam hầu như không viết về ẩm thực dù món ăn Lục Tỉnh tràn trề,nhiều vô số kể.Có lẽ vì quá thừa mừa và cũng do quan niệm "ăn có gì kể" mà các học giả Miền Nam vô tình để các học giả xứ Bắc lộng hành trong viết về ẩm thực và văn hóa Miền Nam 


Một mình ông Vương Hồng Sển không làm lợi với một số đông như quân Nguyên kia 


Người Bắc không nói âm "i" gọn được nên chuyển qua âm ê gần hết


Thí dụ Nam đọc "linh đinh",Bắc đọc "lênh đênh".Nam đọc "bịnh" ,Bắc đọc thành "bệnh",Nam đọc "gành" ,Bắc chuyển qua "ghềnh".Nam có "Cầu Kinh",Bắc tự đổi thành "Cầu Kênh" 


Các nhà viết sách Bắc họ nghĩ rằng Nam Kỳ viết hủ tíu là sai chánh tả nên họ tự ý đổi qua hủ tiếu là trúng chánh tả

Thực ra "hủ tiếu" mới sai chánh tả


Tiếu là cái gì? Viết tiếu nó qua nghĩa Hán Việt rồi 


Do sách giáo khoa tự quy định "hủ tiếu",thành ra học trò nghĩ hủ tiếu là đúng chánh tả nên chữ hủ tiếu đã đè bẹp,giết chết chữ hủ tíu 


Tiệm hủ tíu nào giữ nguyên bổn sẽ đề chữ hủ tíu


Hủ tíu cũng như bạc sỉu,cái âm "i" là thường trực ban sơ .Bạc sỉu là gọi tắt của "Bạc tẩy sỉu phé" trong tiếng Quảng Đông, bạc là trắng,tẩy là ly,sỉu là một chút,phé là cafe 


Bạc sỉu nghĩa là ly sữa trắng kèm một chút xíu cà phê


Bạc sỉu không phải là cafe sữa,bạc sỉu và cafe sữa là hai loại khác nhau.Cafe sữa là phé nại 


Vì bạc sỉu không rình rang như hủ tíu nên những người viết sách có máu Bắc quên ,nếu nhớ dám viết "bạc siểu" lắm á 

Chữ Miền Nam âm "iu" khá thông dụng trong gốc Tàu 


Xá xíu là món ăn có nguồn gốc từ Quảng Đông.Xá xíu trong tiếng Quảng được viết là 叉燒 (cha xiu) 


Xíu mại cũng có âm "i" 


Trong cải lương có một điệu hơi Quảng tên là “Xang xừ líu”

 

Trần Văn Trạch hát "Hòn vọng phu"mà ta còn nghe được ông đệm thêm "Xang xê xang xê hò sự xang xê líu xề xang líu hò xang ú hò" rất ngộ


Nhạc ngũ cung có "Hò, Xự, Xang, Xê, Cống " và âm thứ 6 là Líu


Hủ tíu Nam Kỳ là món của Miền Nam 


Hủ tíu là món gốc Tàu thôi chứ bên Tàu nó không thông dụng là mấy.Coi phim Tàu có thấy ai bán hủ tíu đâu.Tàu chỉ có mì là phổ biến


Món hủ tíu là món sanh ra và phù hợp phong thổ ở Nam Kỳ từ người gốc Hoa,từ bột gạo.Thành ra chúng ta cứ tự hào hủ tíu là món của Nam Kỳ là vậy 


Chúng ta phân biệt được hủ tíu Mỹ Tho,hủ tíu Sa Đéc với hủ tíu người Hoa là ở cọng bánh


Sợi bánh hủ tíu Mỹ Tho là sợi dai,sợi hủ tíu người gốc Hoa là sợi mềm như phở.Sợi hủ tíu người Hoa mềm và kích cỡ của nó khá giống sợi phở 


Hủ tíu dai là của người Việt sáng chế ra 


Hủ tíu Nam Kỳ đã là hủ tíu Việt khi có nước mắm,rau sống xanh tươi,hai món này hủ tíu Tàu chánh gốc Chợ Lớn không đụng tới,Tàu ăn dấm, xì dầu 


Có thể chia hủ tíu ra 2 trường phái nước và khô,hủ tíu dai và hủ tíu mềm 


3.Vấn đề cần nói 


Tại sao nhiều chữ của Miền Nam bị thủ tiêu và đưa chữ của Miền Bắc lên làm "chuẩn"? 


Người Bắc đã chơi ăn gian ngay từ đầu và dân Nam lại quá hiền lành nên cứ để cho họ ăn gian 


Giáo sư Dương Quảng Hàm từng viết: 


"Tiếng Nam xưa kia không được coi làm tiếng của chính phủ dùng,nên ở các trường không dạy, các học giả không để tâm nghiên cứu, ai nấy cứ theo thói quen từ thuở nhỏ mà nói, cứ thuận miệng mà đọc, không chịu đắn đo cẩn thận, nên có những âm thanh vì thế mà sai lạc đi, thành ra nơi này khác với nơi nọ"


Trong văn chương VN,người Miền Nam bị người Miền Bắc chơi "gác kèo" khi họ gần như phủ nhận văn chương Nam Kỳ


Tỉ dụ như trong những cuốn sách VN tất nhiên do người Bắc viết,họ ghi rằng những tác giả đầu tiên của văn học bằng quốc ngữ ở Việt Nam toàn ở Miền Bắc gồm Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Đỗ Mục, Phan Kế Bính, Nguyễn Văn Ngọc, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Trác, Bùi Kỷ, Hoàng Ngọc Phách…và họ phủ nhận những tác giả của Nam Kỳ như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký,Hồ Biểu Chánh,Nguyễn Chánh Sắt 


Người Bắc lúc nào cũng nói văn học quốc ngữ của họ là chuẩn ,lấy làm khuôn vàng thước ngọc,lấy Nam Phong tạp chí làm hình mẩu mặc dù Nam Phong tạp chí của xứ Bắc ra đời sau những tờ báo ở Nam Kỳ như Gia Định báo ,Nông Cổ mín đàm, Lục tỉnh tân văn…và Nam Kỳ là nơi xiển dương chữ quốc ngữ đầu tiên ở VN 


Ông Vũ Ngọc Phan trong cuốn "Nhà văn hiện đại" 1942 viết như sau: 


"Quốc văn bắt đầu thịnh, bắt đầu có cái giọng hoa mỹ,dồi dào, và chú trọng về tư tưởng, là công các nhà biên tập hai tờ tạp chí ở Bắc Hà: Đông Dương tạp chí và Nam Phong tạp chí"


Ông này mặc định Phạm Duy Tốn, Hoàng Ngọc Phách là người viết văn xuôi đầu tiên ở VN 


"Nhưng người ta cũng không thể quên ông là người đã viết truyện ngắn theo lối Âu Tây đi trước nhất. 


Như vậy người ta cũng có thể nói: Phạm Duy Tốn là nhà tiểu thuyết đi vào đường mới trước nhất và những truyện ngắn của ông là thứ văn chương đã đánh dấu một quãng đường văn học của nước nhà"


"Tố Tâm là một quyển truyện rất văn hoa, kết cấu cũng khá và đã ra đời vào một thời mà tiểu thuyết sáng tác còn thấp kém, quốc văn còn trong thời kỳ phôi thai. Bởi thế cho nên Tố Tâm là quyển tiểu thuyết đầu tiên được mọi người chú ý đến một cách đặc biệt, và như thế, ta phải nhận là dư luận cũng nhiều lúc công minh " (Hết trích dẫn)


Dương Quảng Hàm khi viết "Việt Nam văn học sử yếu "cũng mặc định Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh là tiền bối viết báo 


"Văn xuôi mới của ta, như chương ba đã nói, sở dĩ thành lập được một phần lớn nhờ báo chí. Trong các nhà viết báo có công lúc buổi đầu phải kể đến Nguyễn Văn Vĩnh và ông Phạm Quỳnh"


Mấy lão Bắc này cố tình bỏ qua những tiền bối Nam Kỳ viết báo trước cả ông Nguyễn Văn Vĩnh ,Phạm Quỳnh như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký,Trần Chánh Chiếu,Sương Nguyệt Anh ….


Cố tình bỏ qua cây đại thụ viết tiểu thuyết đầu tiên của Nam Kỳ,viết trước cả Phạm Duy Tốn, Hoàng Ngọc Phách là ông Hồ Biểu Chánh,ông Nguyễn Chánh Sắt


Về tiểu thuyết,truyện ngắn đã có từ trước ở trong Nam. Từ sau đại chiến thế giới lần nhứt trở đi, ngoài Bắc mới xuất hiện những truyện ngắn đầu tiên của Nguyễn Bá Học và Phạm Duy Tốn


Hồ Biểu Chánh là nhà văn lớn của Nam Kỳ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX,Bắc sĩ phu khá ghét ông này vì họ cho rằng văn ổng viết họ đọc "không hiểu"


Đọc không hiểu thây kệ,có đâu phủ nhận luôn vậy mấy cha?


Trong cuốn"Thi nhân Việt Nam "1942,hai ông sĩ phu Bắc Hà Hoài Thanh, Hoài Chân liệt kê 45 thi sĩ VN hiện đại,duy nhứt ở Nam Kỳ có 2 vợ chồng Đông Hồ và Mộng Tuyết mà thôi,phủ nhận hết những nhà thơ,nhà văn Miền Nam khác 


Kênh kiệu quá!


Thi sĩ Đông Hồ người Hà Tiên nhưng bị đóng dấu khi Vương Hồng Sển nói:"Đông Hồ là nhà văn Bắc Kỳ"


Thi sĩ Đông Hồ là người Nam nhưng viết văn làm thơ theo cách thức kiểu Bắc .Ông hành văn kiểu Bắc và ông phủ nhận văn chương Nam Kỳ luôn,phủ nhận Hồ Biểu Chánh


Vì cùng chung "giọng văn" nên vợ chồng Đông Hồ và Mộng Tuyết được các nhà viết văn học sử gốc Bắc công nhận


Hồ Biểu Chánh và sau này là Sơn Nam là hai cây đại thụ của Nam Kỳ,văn kiểu Nam Kỳ thấm đuộm hồn quê,hai ông cứ tỉnh rụi mà hành văn theo kiểu của mình ,mặc cho ai xì xào


Mắc gì ta phải thay đổi cái nét riêng,bản chất của chính chúng ta 


Cái thói "Mẹ hát con khen hay" vẫn tồn tại đâu đó 


Đã có một sự đánh tráo khái niệm trắng trợn trong mấy cuốn sách được xem chuẩn mực,"tri thức” kia mà nếu không ráng moi móc ra thì không ai biết 


Thiệt là lập lờ 


Người Miền Nam dễ dãi nếu cứ "sao cũng được" thì bị thay cái biển hiệu trước cửa nhà mình,thay luôn cái bia mộ trước mả ông bà mình hồi nào không hay 


Vậy thì "hủ tíu","bịnh viện" thời ta cứ viết rõ như vậy đi cho tụi trẻ nó quen.Với tiếng nói Miền Nam không chấp nhận kiểu lập lờ "sao cũng được mà" 


Thành ra mong các bạn trẻ Sài Gòn,Miền Nam hãy cố gắng giữ tình quê bằng ngôn ngữ xứ mình.


- Nguyễn Gia Việt

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Blogger Templates