SƯU TẬP NHỮNG KIẾN THỨC CẦN THIẾT CHO GIÁO VIÊN ÂM NHẠC VIỆT NAM THỜI 4.0

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

Chủ Nhật, 3 tháng 10, 2021

Học không biên giới” với học bổng Mỹ tại Việt Nam

 

IGS Talent Search là chương trình tìm kiếm và trao học bổng cho học sinh giỏi Việt Nam có nền tảng tiếng Anh vững chắc, đủ năng lực ngôn ngữ để theo học chương trình giống như học sinh tại Mỹ với các môn học như: Language Art (Văn học Mỹ), Mathematics (Toán học Mỹ), Science (Khoa học - bao gồm Vật Lý, Sinh học, Hóa học, Khoa học trái đất...), Social Studies (Xã hội - bao gồm: Lịch sử, Địa lý, Công dân, Kinh tế...).


Học sinh giỏi Việt Nam có cơ hội học tập “không biên giới” với học bổng Mỹ tại Việt Nam

Chương trình dành cho học sinh từ lớp 3 tới lớp 7 do Trường quốc tế Mỹ trực tuyến Ivy Global School khởi xướng. Trong học kỳ mùa thu năm 2021, chương trình sẽ trao tặng 100 suất học bổng từ 30% - 100% học phí cả năm học với tổng giá trị học bổng lên đến 2,4 tỷ đồng.

Đây là cơ hội để học sinh có năng lực ngoại ngữ, kiến thức, năng khiếu có thể dễ dàng tiếp cận chương trình phổ thông Mỹ ngay tại Việt Nam. Để đạt được học bổng, học sinh cần có điểm trung bình GPA đạt từ 8.0 trở lên.

Tham gia chương trình, học sinh có cơ hội học tập trong môi trường quốc tế cùng học sinh đa quốc gia trên khắp thế giới. Hình thức học tập là lớp học tương tác trực tuyến với 100% giáo viên Mỹ. Học sinh sẽ có cơ hội tham gia các chương trình giao lưu văn hóa với học sinh quốc tế, sang Mỹ học tập trong chương trình trao đổi học sinh với các trường đối tác, được đào tạo để tham gia các kỳ thi quốc tế...

Thầy Kyle Konold (Hiệu trưởng nhà trường) cho biết: “IGS Talent Search là cơ hội để học sinh tại Việt Nam được thụ hưởng môi trường giáo dục quốc tế và những quyền lợi học tập tương đương với một học sinh tại Mỹ. Nền tảng giáo dục này giúp các em có thể tự tin thành công dù ở bất kỳ đâu, trong bất kỳ môi trường học tập nào, là xu hướng học tập không biên giới”.

Để dự tuyển, học sinh đăng ký làm bài kiểm tra kiến thức trực tuyến từ ngày 24-9 đến hết 5-10-2021 tại link đăng ký: https://forms.gle/hvugquSo2LRXqhjK8. Những học sinh đạt đủ điểm đầu vào sẽ thi viết luận và phỏng vấn. Tổng điểm xét tuyển học bổng sẽ gồm 60% điểm phỏng vấn và 40% điểm bài luận. Kết quả chương trình học bổng sẽ được công bố vào ngày 10-10-2020.

Yến Hoa

Chỉ đạo mới nhất của Thành phố Hồ Chí Minh về việc học của học sinh sau 30/9

 

 30/09/2021 11:05 Việt Dũng
GDVN- Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh vừa công bố chỉ thị mới nhất về biện pháp thích ứng an toàn phục hồi kinh tế sau ngày 30/9, trong đó có giáo dục.

Sáng ngày 30/9, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức họp báo, cung cấp thông tin về tình hình dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn thành phố, công bố chỉ thị tiếp tục kiểm soát, điều chỉnh các biện pháp phòng chống dịch Covid-19, từng bước phục hồi và phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

Trong đó, đối với hoạt động giáo dục, chị thị mới nhất của Ủy ban nhân dân thành phố nêu rõ, tiếp tục tổ chức hoạt động dạy và học gián tiếp, trên môi trường internet, qua truyền hình.

Từng bước củng cố các điều kiện để có thể kết hợp dạy học trực tiếp đối với giáo viên và học sinh.

Các loại hình đào tạo cho người đã được tiêm đủ liều vắc xin, có thể dạy và học trực tiếp nếu đảm bảo các tiêu chí an toàn theo đúng quy định.

Buổi họp báo thông tin về tình hình dịch Covid-19 tại Thành phố Hồ Chí Minh sáng ngày 30/9 (ảnh: P.L)

Bố trí các hoạt động lệch ca, lệch giờ, không tổ chức các hoạt động tập trung đông người, giãn cách tối đa, đảm bảo giới hạn về số người tập trung theo quy định.

Được biết, hiện nay có khoảng 1,5 triệu học sinh các cấp từ tiểu học đến trung học phổ thông của Thành phố Hồ Chí Minh đã bắt đầu năm học mới bằng hình thức học tập trực tuyến.

Theo con số thống kê từ Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh, số lượng học sinh các bậc học, cấp học của thành phố tham gia học trực tuyến rất cao, đạt từ 95,4% trở lên, trong đó cao nhất là bậc trung học phổ thông, đạt hơn 99%.

Ban đầu, thành phố có khoảng 75.000 học sinh không đủ thiết bị, đường truyền internet để tiến hành việc học tập trực tuyến.

Tuy nhiên, về sau, bằng nhiều cuộc vận động khác nhau, bằng sự sáng tạo từ phía nhà trường, thì hiện chỉ còn khoảng 30.000 học sinh thiếu thiết bị học tập.

Hiện Sở Giáo dục vẫn đang có kế hoạch tiếp nhận từ nhiều nguồn hỗ trợ cho học sinh, trong đó Sở Thông tin và Truyền thông Thành phố Hồ Chí Minh cam kết sẽ hỗ trợ, kêu gọi 100.000 thiết bị học tập cho học sinh.

Nếu đúng với tiến độ này thì đến giữa tháng 10, học sinh cả thành phố sẽ có đủ thiết bị học tập trực tuyến.

Những học sinh chưa có điều kiện học tập trực tuyến, học sinh ở các vùng cách ly, phong tỏa, thì ngành xây dựng hệ thống tình nguyện viên, điều phối viên là cán bộ chuyên trách phổ cập tại các phường, xã phụ trách việc giao tài liệu, phiếu học tập cho các em.

Việt Dũng

Không có tiền mua smart phone học online, mẹ xót xa nhìn 3 con phải đi học "ké"

 

 01/10/2021 06:29 Nguyễn Nhất
GDVN- Không có tiền mua điện thoại, máy tính cho 3 con học online, các con của chị Bến phải đi học nhờ hàng xóm, bạn bè.

Những ngày cuối tháng 9, trong cái nắng gắt hanh khô giữa trưa của Hà Nội, chị Hoàng Thị Bến (43 tuổi, trú tại thôn Đông Cứu, Dũng Tiến, Thường Tín, Hà Nội) vẫn đang ở nhà văn hóa thôn tước rơm buộc gọn gàng, phơi khô để bán cho người dân buộc rau hoặc đốt tro bốc bát hương. 

Nước da đen sạm với khuôn mặt khắc khổ của người phụ nữ này khiến chị già hơn so với tuổi thật. Mà chị khổ thật, khổ nhất cái thôn, cái xã này khi chồng mắc bệnh tâm thần, 3 con nhỏ đang tuổi ăn học. Gánh nặng kinh tế dồn lên đôi vai của chị khi cuộc sống mưu sinh chỉ bằng bằng mớ rau, cây lúa, cộng thêm với Covid, Hà Nội giãn cách xã hội thời gian quá khiến việc mưu sinh của chị càng thêm khó khăn.

Chị Bến tại Nhà văn hóa thôn để phơi thóc và tước rơm. 

Hoàn cảnh éo le

Trong căn nhà cấp 4 nằm gần ngã ba con ngõ ở cuối làng, chiếc cổng nhà phủ rêu phong được xây từ năm 1988. Cánh cửa cổng bằng gỗ đã mục nát mở ra vào khó khăn là nơi sinh sống của 5 thành viên gia đình chị Bến. 

Người phụ nữ ngoài 40 tuổi này chia sẻ, chồng chị mắc bệnh về thần kinh từ lúc nhỏ, cái duyên cái số đưa đẩy nên chị lấy anh cách đây 13 năm. Lấy được vợ, đầu óc của anh Việt vẫn không “sáng” lên chút nào, anh vẫn nói năng lảm nhảm, có lúc còn chửi nhau với mọi người và bị họ đánh.

Lúc lấy nhau, anh chị sống trong căn nhà trát đất của các cụ để lại, mối mọt, kiến bò lổm ngổm. Năm 2012, chị được chính quyền địa phương cho vào hộ nghèo và hỗ trợ tiền sửa sang lại căn nhà. 

Mọi đồ dùng trong nhà, từ cái xe đạp đến cái tủ lạnh hoen gỉ cũng được dân làng cho. May ra, chị sắm được cái điện thoại “cục gạch” để tiện liên lạc khi làm thuê làm mướn

“Điện thoại thì tôi chỉ có mỗi cái cục gạch này để mọi người liên lạc, chứ làm gì có tiền mà mua smartphone”, chị Bến nói và đưa chiếc điện thoại ra. 

Chị Bến sinh được 3 đứa thì cả 3 đều phải đẻ mổ, cộng với hoàn cảnh gia đình khó khăn nên từ lúc nhỏ đến lớn, chúng đều còi cọc so với bạn cùng trang lứa.

Ngoài những ngày bận rộn với thóc lúa, chị Bến còn chăm ruộng rau để hái bán, giúp gia đình có thêm thu nhập khoảng 20.000-30.000 đồng/ngày. 

Xót xa vì có lục bị đuổi khi đi học online nhờ 

Vợ chồng chị Bến có ba đứa con, đứa con gái lớn đang học lớp 6, cậu con trai thứ hai học lớp 4 và con gái út học lớp 2. May mắn là cả 3 đứa đều phát triển tâm sinh lý bình thường như bao đứa trẻ khác, hơn nữa chúng còn học giỏi. 

Chị Bến lấy tệp giấy khen năm học 2020-2021 của ba đứa con được cất giữ kĩ trong một chiếc hòm như là báu vật. Giấy khen và phần thưởng được bọc trong túi nilon cẩn thận. 

Nguyễn Kiêm Hoàng (lớp 1B) và Nguyễn Hoàng Ngọc Như (lớp 5D) được nhận giấy khen với thành tích hoàn thành xuất sắc nội dung học tập và rèn luyện các môn học, Nguyễn Lâm Chúc (lớp 3B) được nhận Giấy khen về hoàn thành tốt nội dung học tập môn Toán.

Đứa con út của chị Bến đi học nhờ nhà hàng xóm, khi đi học thì bé vác cái hòm để làm bàn học (Ảnh: Nguyễn Nhất)

Chị Bến giở những tờ tiền 10 nghìn và 20 nghìn đồng được thưởng của các cháu ra khoe với chúng tôi đầy tự hào. “Các cháu được nhà trường tặng thưởng vài chục nghìn đồng đều cất đi và về nhà đưa mẹ. Bất kể ai cho chúng vài nghìn, bọn nhỏ cũng làm như vậy. Có lẽ, các con hiểu được hoàn cảnh của gia đình, hiểu được nỗi vất vả của mẹ". 

Năm học 2021-2022, cả ba cháu phải học online do dịch Covid-19, nhà không có điện thoại smartphone, chị Bến cũng định bấm bụng đi mua một chiếc, nhưng hỏi người nhà thì nó có giá tận hơn 3 triệu đồng. 

Vậy là chị đành phải sang nhờ hàng xóm, phụ huynh, bạn học của con để cho 3 đứa đi học "ké".

Cô con gái út của chị Bến vất vả khiêng chiếc hòm từ nhà hàng xóm về, sau khi kết thúc buổi học online.

Nhắc lại chuyện học online, chị Bến không khỏi chạnh lòng, vì vào đợt học online của năm học trước, cô con gái Nguyễn Hoàng Ngọc Như đến nhà bạn cùng lớp để học “ké”, nhưng phụ huynh của em này không đồng ý cho Như học cùng con họ. Vậy là chị Bến đành phải đèo con gái về nhà trên chiếc xe đạp cũ nát, trong lòng tâm trạng nặng trĩu.

“Cháu lớn đến nhà bạn cùng lớp học nhưng phụ huynh không cho học và đuổi về. Thấy con tủi thân, tôi động viên cháu là về mẹ đưa con đi nhà khác học nhờ”, chị Bến chia sẻ.

Giấy khen của ba đứa con chị Bến, cùng những phần thưởng là 20-30 nghìn đồng được chị cất giữ cẩn thận. (Ảnh: Nguyễn Nhất)

Trong lúc ngồi trò chuyện với phóng viên vào cuối giờ chiều, đứa con gái út vất vả ôm cái hòm sắt cồng kềnh to gần bằng người nó từ nhà hàng xóm về. Đó là chiếc hòm được em dùng để làm bàn học, khi học online nhờ nhà hàng xóm. Thấy thế, đứa anh liền chạy ra đỡ giúp em gái.

“Nó tên giống con trai là khi xưa trước khi sinh nó, thì vợ chồng tôi tưởng nó là con trai. Nó nói với tôi là ước mơ làm cô giáo, còn chị lớn thì muốn làm bác sĩ”, chị Bến chia sẻ.

Theo người phụ nữ này, đứa con lớn và đứa con gái út hiện đi học nhờ nhà hàng xóm, còn đứa con trai thứ hai thì học tại nhà bạn cùng lớp.

Chị Bến chia sẻ, dù hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nhưng chị vẫn luôn tự nhủ bản thân phải cố gắng hết sức để nuôi các con ăn học đàng hoàng, để chúng có tương lai tốt đẹp hơn bố mẹ.

Nguyễn Nhất

 

Dạy trực tuyến 2 năm rồi mới được tập huấn online, trải nghiệm tuyệt vời, thú vị

 04/10/2021 06:26 Đào Văn Khởi (Giáo viên cốt cán Thành phố Biên Hòa – Đồng Nai)


GDVN- Thú thật, dù đã dạy trực tuyến cho học sinh sang năm học thứ 3, nhưng học trực tuyến thì tôi chưa từng học.

Bước vào năm học 2021-2022 không lâu, mới đây tôi được Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh thông báo học bồi dưỡng trực tiếp qua lớp học ảo Mô đun 4 Chương trình giáo dục phổ thông 2018 cho giáo viên cốt cán tiểu học.

Thú thật, dù đã dạy trực tuyến cho học sinh sang năm học thứ 3, nhưng học trực tuyến thì tôi chưa từng học. Thật lòng, tôi cũng có những cảm xúc, lo lắng đan xen và bắt tay ngay vào chuẩn bị cho lần đầu tiên học trực tuyến. 

Những bỡ ngỡ khi lần đầu tiên học trực tuyến

Trước khi lớp học chính thức được bắt đầu, tôi và các bạn đồng nghiệp là giáo viên cốt cán tiểu học có buổi học 0 (không chính thức). 

Ở buổi này, chúng tôi được các thầy cô giảng viên sư phạm cho làm quen với lớp học ảo qua phần mềm dạy học trực tuyến Zoom. 

Có thể nói, các thầy cô đã dạy trực tuyến nên ít nhiều quen với việc sử dụng phần mềm. 

Những thao tác sử dụng như bật tắt camera, mic, chat, chia sẻ màn hình, tham gia nhóm thảo luận… không còn xa lạ với giáo viên. 

Thế nhưng, khi thấy một số thầy cô không có phông nền lớp học ảo thì những lúng túng bắt đầu xuất hiện.

Loay hoay với máy laptop không thích ứng, điện thoại không thể cài phông nền. Và lúng túng hơn với các thầy cô là khi lần đầu sử dụng phần mềm trực tuyến Padlet.

Đây là phần mềm được giảng viên sử dụng trong suốt khóa học để học viên gửi bài tập, đánh giá lẫn nhau giữa các nhóm, tổ chức các trò chơi, làm công cụ cho dạy học kĩ thuật phòng tranh…

Ảnh do tác giả cung cấp

Bối rối thật sự khi đồng nghiệp tôi vào phần mềm, chọn nhóm. Làm sao để đổi nhóm, xóa tên, đánh giá bài của nhóm khác. Ôi thôi đủ thứ cả, toát mồ hôi với những ai mới tiếp cận phần mềm này.

Với hàng trăm lựa chọn, có thể nói phần mềm Padlet đơn giản, dễ sử dụng, có nhiều ứng dụng trong dạy học ở bậc tiểu học. 

Theo thầy Huỳnh Phẩm Dũng Phát – Giảng viên Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi chọn các phần mềm cho đợt tập huấn lần này vì dễ sử dụng, phù hợp với tiểu học, giúp giáo viên áp dụng vào giảng dạy trực tuyến hiệu quả. 

Tạm ổn cho cách sử dụng phần mềm học trực tuyến là Zoom và 2 phần mềm hỗ trợ trong suốt khóa học là Padlet, Classroom, những vấn đề khi tập huấn được đặt ra. 

Đó là vấn đề đang là thời sự trong dạy học trực tuyến như không để những hình ảnh, những âm thanh không đáng có lọt vào lớp học. 

Đây là kinh nghiệm quý giá mà các thầy cô giảng viên Trường Đại học Sư phạm gửi đến giáo viên cốt cán chúng tôi. 

Vấn đề thầy cô ứng xử chưa hay trong dạy học trực tuyến gần đây cho thấy những dự báo đó không thừa với tất cả mọi người tham gia dạy và học trực tuyến. 

Ấy vậy mà chỉ một lúc sau, âm thanh ngoài lớp học đã “thâm nhập” vào lớp học trực tuyến của chúng tôi khi một cô giáo điện thoại trao đổi công việc trường với giáo viên trường nhưng “quên” tắt mic. 

Điều đơn giản nhất là tắt camera, tắt mic thôi vẫn khiến một số thầy cô sơ ý, hay quên. Buổi học 0 đã kết thúc vào đêm khuya, trễ so với dự kiến vì là lần đầu tiên tham gia học trực tuyến nên thầy cô giáo có nhiều bỡ ngỡ, chưa quen.

Ảnh do tác giả cung cấp

Một trải nghiệm tuyệt vời và đầy thú vị phần 

Lớp học Mô đun 4 trực tuyến của giáo viên cốt cán của chúng tôi diễn ra trong 2 ngày. Với nội dung “Xây dựng kế hoạch dạy học và giáo dục theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh tiểu học” là một mô đun khá quan trọng, tôi và đồng nghiệp được bồi dưỡng để triển khai đến giáo viên đại trà tỉnh mình một cách tốt nhất. 

Đúng là tâm thế học trực tuyến của người từng dạy trực tuyến cũng có nhiều điều đáng nói, cũng có cảm giác giống như học trò học vậy: căng thẳng, tất bật trong làm việc nhóm, bị cuốn vào các nhiệm vụ được giao.

Học trực tuyến có những hạn chế nhất định và không thể có sự tương tác như học trực tuyến, nhưng bằng nhiều kinh nghiệm, sự nhiệt huyết, cô Nhữ Thị Phương Lan và thầy Huỳnh Phẩm Dũng Phát (Giảng viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh) đã rút ngắn khoảng cách đó bằng những hoạt động dạy và học trực tuyến lôi cuốn, cuốn hút học viên vào bài giảng, có lúc quên cả giờ giải lao, giờ nghỉ cuối buổi. 

Những trò chơi khởi động, hoạt động nối tiếp qua các phần mềm trực tuyến được giảng viên sư phạm thiết kế có tính tương tác cao, kéo người học tham gia vào hoạt động một cách tích cực, sôi nổi, khoảng cách giữa các thành viên lớp như được gần lại. 

Các trò chơi rất gần gũi, rất tiểu học và rất học trò như: Giải cứu rừng xanh, Số ơi bạn là ai, Nhìn nhanh - nhớ tài, trò chơi online… đã tạo cho không khí lớp học hào hứng. 

Sự hưng phấn là có khi những thầy cô giáo tiểu học đóng vai trò là người học cũng thi đua, cũng hào hứng giành quyền trả lời, xung phung trong các trò chơi, trình bày ý kiến, bày tỏ quan điểm, tranh luận, trình bày sản phẩm của nhóm trên Padlet. 

Có những buổi học quá giờ kết thúc, người thấm mệt, nhưng ai cũng cố gắng để hoàn thành công việc học tập một cách tốt nhất.

Ảnh do tác giả cung cấp

Tôi và đồng nghiệp còn được trải nghiệm những lần làm việc nhóm thật sự bổ ích có sự tham gia của các giảng viên. Cũng trao đổi, tranh luận, chia sẻ có khi còn sôi nổi hơn cả học trực tiếp. 

Hầu như thời gian thảo luận đều bị “lố giờ” khiến giảng viên phải gia hạn thêm. Có lúc, giảng viên đã mời về lớp học tập trung nhưng có nhóm vẫn mải mê, say sưa thảo luận đến mức phải bị “triệu tập” trở về phòng học. 

Chuyện “cháy giáo án” của giảng viên là điều hiển nhiên khi các thầy cô giáo chúng tôi mới tiếp cận hình thức học này. Chưa hết, buổi học cuối nộp bài, làm khảo sát mệt như học trò vậy. 

Một đồng nghiệp cho biết: “Phải đổ mồ hôi mới làm xong được những yêu cầu của giảng viên. Học trực tuyến quả là rất cực và vất vả, có học mới biết được thực tế để điều chỉnh cách dạy cho học sinh của mình trên lớp sau này”. 

Qua 2 ngày tập huấn bồi dưỡng mô đun 4, lớp giáo viên cốt cán môn Lịch sử và Địa lí tiểu học chúng tôi đến từ Đồng Nai, Trà Vinh, Tiền Giang đã được các thầy cô giảng viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh chia sẻ, lan tỏa, truyền cảm hứng đổi mới nhiều nội dung quan trọng, giúp xây dựng các kế hoạch dạy học môn học, kế hoạch bài dạy, kế hoạch cá nhân và hướng dẫn bồi dưỡng đồng nghiệp đại trà của tỉnh mình một cách hiệu quả trong việc thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018. 

Và được hơn cả là trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, tôi và đồng nghiệp đã có 4 buổi học trực tuyến với những trải nghiệm thật tuyệt vời và đầy thú vị.

Ảnh do tác giả cung cấp

Ở vị trí, tâm thế người học, chúng tôi có dịp cảm nhận, được học, rút ra nhiều bài học quý từ các thầy cô giảng viên sư phạm dày dạn kinh nghiệm trong sử dụng phần mềm và dạy học trực tuyến như cách ứng xử của thầy trò trong dạy trực tuyến, rèn kĩ năng sử dụng phần mềm dạy trực tuyến, cách sử dụng các phần mềm hỗ trợ dạy trực tuyến, tổ chức các trò chơi tăng sự hưng phấn, hứng thú cho học sinh, thiết kế các hoạt động học tích cực, có độ tương tác cao, thời gian giao việc hợp lí. 

Đó còn là các tình huống xử lý khi học trò lúng túng vì chưa rành cách sử dụng thiết bị học, vào nhóm tham gia thảo luận, nộp bài tập trong phần mềm, xử lý tình huống… 

Bên cạnh đó là làm quen các phần mềm dạy học trực tuyến với kĩ năng ứng dụng nhiều tiện lợi như giao bài tập, chấm bài, đánh giá, thiết kế các kĩ thuật dạy học tích cực trực tuyến và những tính năng hữu ích khác. 

Thế mới biết, học trực tuyến cũng có những cái hay và học được không ít điều bổ ích. 

Và quan trọng là tôi có kĩ năng sử dụng thêm được một số phần mềm mới mà thầy cô giảng viên mang đến cho lớp học ảo, việc ứng dụng công nghệ được nâng lên. 

Lớp học trực tuyến mô đun 4 của lớp giáo viên cốt cán được tổ chức đúng vào thời điểm khi mà giáo viên mới bắt tay vào dạy trực tuyến thay cho dạy học trực tiếp là cơ hội giúp tôi có cái nhìn, kinh nghiệm dạy trực tuyến tốt hơn cho học trò của mình trong năm học đại dịch này.

(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.

Đào Văn Khởi (Giáo viên cốt cán Thành phố Biên Hòa – Đồng Nai)

Thứ Bảy, 2 tháng 10, 2021

Những xu thế mới của công nghệ trong giáo dục



1. Bối cảnh giáo dục và ứng dụng công nghệ trong giáo dục hiện nay

 Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc UNESCO dự báo: Công nghệ thông tin (CNTT) sẽ làm thay đổi nền giáo dục một cách cơ bản và toàn diện, có hệ thống và mang tính hội nhập cao vào đầu thế kỉ XXI. Sự bùng nổ và phát triển về công nghệ giáo dục sẽ tạo ra những phương thức giáo dục phi truyền thống,  thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của nền giáo dục vì sự thích ứng của con người trong cuộc sống tương lai (“dạy học cho mọi người và mỗi người”, “sự gia tăng tri thức và nhu cầu chia sẻ”, “tập trung hóa kiến thức và dịch chuyển năng lực”, “các yếu tố bền vững, truyền thống và sự hội nhập trong không gian giáo dục”…).

Vấn đề định hướng chiến lược, định vị bản chất thực của giáo dục càng trở nên cấp thiết: cần phải đào tạo, hình thành và phát triển những con người của xã hội, cho xã hội và vì sự phát triển của xã hội. Một hệ thống nội dung thiếu sự gắn kết trực tiếp với đời sống xã hội, quá hàn lâm, kinh viện, bỏ qua những thứ đang hiện hữu trong cuộc sống sẽ là những rào cản trong quá trình đào tạo ra những con người của xã hội hiện nay.    

Báo cáo tại Diễn đàn kinh tế thế giới 2016 tại Davos với sự tham gia của hơn 2500 nhân vật ảnh hưởng và quyền lực nhất thế giới đã chia sẻ con số đáng suy ngẫm: 65% số người học vẫn học những thứ liên quan đến nghề nghiệp tương lai mà hiện nay đã không còn tồn tại; 47% nghề nghiệp hiện nay sẽ được chuyển sang tự động hóa trong 2 thập kỉ tới và đến năm 2020, hơn 50% nội dung dạy học trong nhà trường các cấp sẽ không còn hữu dụng trong vòng 5 năm sau đó (Klaus Schwab, 2016).

Không phải ngẫu nhiên khi trong lộ trình tìm kiếm những giải pháp dung hòa giữa các yêu cầu của xã hội với năng lực đáp ứng của nhà trường, khả năng tạo cơ hội học tập để phát triển cho mọi cá nhân, công nghệ (mà trước hết là công nghệ thông tin -CNTT) luôn được ưu tiên lựa chọn như một giải pháp chủ yếu. Trong bối cảnh hiện nay, các thành tố cấu thành nên một quá trình giáo dục, cần được xem xét trong mối quan hệ biện chứng giữa sự tích lũy, làm giàu và chia sẻ thông tin, kiến thức phục vụ cho các “công dân số” (digital citizen). Do vậy, sự can dự của CNTT là điều tất yếu để giải quyết “nhóm mâu thuẫn chính” ngày càng sâu sắc giữa:

- Sự gia tăng và dịch chuyển dân số, năng lực nghề nghiệp mới, khả năng thích ứng trước sự thay đổi công việc nhanh chóng (với số lượng việc làm mất đi và xuất hiện trong thời gian rất ngắn, tần suất cao)…với quá trình giáo dục cho mọi người, cho mỗi người và học tập suốt đời;

- Sự công bằng trong tiếp cận và nhu cầu đa dạng, không giới hạn về giáo dục, tiếp cận tri thức mới;

- Tính cạnh tranh về số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực (công dân số);

- Quá trình sản xuất của cải và “sản sinh” tri thức; những yêu cầu về năng lực mới của người học trong thế kỉ 21 và sự đáp ứng của các thiết chế giáo dục, đào tạo…

2. Các xu thế công nghệ trong giáo dục hiện nay

Dạy học thông minh được nhắc đến từ những năm đầu thế kỉ XXI và ngày càng được nghiên cứu và phát triển theo các mô hình đa dạng (4C - Kĩ năng thế kỉ 21, CBE - dạy học phát triển năng lực, OBE - dạy học theo tiếp cận đầu ra, dạy học theo mô hình VSK - giá trị, kĩ năng, kiến thức v.v.). Trong đó nhấn mạnh đến sự chuyển đổi từ cách dạy học truyền thống sang một phương thức mới theo tiếp cận công nghệ với các mô hình dạy học phi truyền thống.

Về tổng thể, giáo dục thông minh (SMART Education) được hiểu là “sự tích hợp toàn diện công nghệ, khả năng tiếp cận và kết nối mọi thứ qua Internet bất cứ lúc nào và ở đâu” (Uskov, V., Howlet, R. Jain, L., 2017)

Trong mô hình “SMARTER Education” các thành tố được thiết lập theo một hệ thống chỉnh thể, có tác động tương hỗ, thúc đẩy chất lượng và hiệu quả của quá trình giáo dục. Với các thành tố bao gồm: S (self-directed): tự định hướng; M (motivated): tạo động lực; A (adaptive): tính thích ứng cao; R (resources): các nguồn lực, tài nguyên, học liệu mở rộng; T (technology): dựa trên nền tảng công nghệ; E (engagement): khuyến khích sự tham gia; R (relevance): sự phù hợp. Mô hình này có thể tác động mạnh vào quá trình giáo dục theo những chiều hướng sau:

- Sự thay đổi trong kì vọng của người học và khả năng đáp ứng của các nhà trường (khả năng thích ứng, có việc làm và tự tạo việc làm sau tốt nghiệp; khả năng duy trì và phát triển chuyên môn nghề nghiệp; cơ hội học tập suốt đời…);

- Sự đa dạng hóa các “sản phẩm giáo dục”, quá trình đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục nhờ cơ sở dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, chuỗi giá trị trong giáo dục; 

- Sự thay đổi trong mối quan hệ, vai trò, vị trí của người dạy và người học trong quá trình dạy học, trong hệ sinh thái giáo dục; 

- Sự thay đổi của môi trường dạy học, khuôn viên học tập với các dạng học liệu đa chức năng;

- Sự thay đổi các mô hình quản lí, điều hành trong giáo dục, dạy học trên nền tảng kĩ thuật số mới.

Về bản chất, với sự trợ giúp của công nghệ mới, giáo dục thông minh cần phải tạo được một phương thức hoàn toàn khác với giáo dục mang tính đại trà, “đồng phục”, hướng đến sự phân hóa, cá thể hóa và cá nhân hóa cao độ. Hệ thống kết nối con người - thông tin - vật thể, máy móc tạo thành một chuỗi liên kết trong đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, thúc đẩy quá trình chuyến đổi thiết chế giáo dục thành một hệ sinh thái đổi mới và sáng tạo. Như vậy, thay vì cung cấp kiến thức, nội dung dạy học, “đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” theo chương trình cứng nhắc, các nhà trường nên đào tạo kĩ năng (sử dụng thông tin, kiến tạo tri thức và ra quyết định), ươm tạo tài năng, phát triển tầm nhìn cho người học, với mô hình “một người học, đa chương trình, đa khuôn viên”.

Trong bối cảnh đó có thể nhìn nhận giáo dục như là một quá trình công nghệ, sản phẩm công nghệ có thể đóng gói, chuyển giao và như là một quá trình ứng dụng, thẩm thấu các thành tựu của lĩnh vực công nghệ khác.

2.1. Nền tảng số cho giáo dục (Digital education platform)

Năm 2012 UNESCO đã khuyến cáo về xu thế và khả năng giáo dục vượt ra khỏi những bức tường lớp học và nhà trường truyền thống để vươn tới một không gian giáo dục “suốt đời” và “hướng vào cuộc sống” (Life-long and life-wide learning), tạo công bằng, cơ hội tiếp cận giáo dục cho mọi người. Cách tiếp cận này đã gợi mở cho hàng loạt các hình thức giáo dục/dạy học mới (chính thức hoặc không chính thức trên nền tảng chia sẻ kiến thức và mang tính xã hội sâu rộng), được đặt trong một phạm trù khái quát là giáo dục số (Digital education), bao gồm một số nền tảng chính:

- E-learning (Electronic learning): Dạy học điện tử với khả năng tổ chức các không gian giáo dục, học tập mở, khả năng tương tác mạnh mẽ giữa các chủ thể tham gia và thông tin kiến thức (bao gồm các phương thức dạy học trực tuyến - Online learning và dạy học hỗn hợp hợp - Blended learning; dạy học đảo ngược - Flipped learning).

- M-learning (Mobile learning): Dạy học linh hoạt với khả năng đáp ứng tối đa các nhu cầu học tập, phát triển cá nhân.

- U-learning (Ubiquitous learning): Dạy học linh hoạt tức thời (just in time) với khả năng đáp ứng, chia sẻ nhanh chóng tại bất kì thời điểm, không gian, địa điểm nào với bất kì nhu cầu học tập nào của người học.

- Hệ thống khóa học trực tuyến mở rộng (Massive Online Open Courses - MOOCs), hệ thống khóa học đặc thù riêng cho cá nhân (Small Private Online Courses - SPOCs): là một nền tảng các khóa học trực tuyến miễn phí đáp ứng tối đa nhu cầu học tập theo năng lực, sở thích và điều kiện hoàn cảnh cá nhân; tăng cơ hội tiếp cận và sự tham gia của người học theo phương thức giáo dục mở và trực tuyến.

Các hạ tầng của giáo dục số trong bối cảnh ứng dụng kết nối vạn vận trên nền tảng Internet (IoT), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây hiện nay đã mang lại nhiều cơ hội và khả năng to lớn giúp cho việc tái tạo, sản sinh tri thức, chia sẻ thông tin, “san bằng” các rào cản trong việc tiếp cận kiến thức. Đặc biệt, cùng với sự phát triển của công nghệ, giáo dục số sẽ dần trở thành một “hình thái quan hệ học tập mới” làm thay đổi mô hình dạy học vốn tồn tại khá lâu theo hệ hình từ trên xuống (Top - Down) hoặc dưới lên (Bottom - Up) sang hệ hình mạng lưới, mang tính chia sẻ xã hội (Social sharing) trong đó, người học sẽ trở thành trung tâm của mạng lưới học tập mang tính xã hội.

2.2. Người học số (Digital learner)

Cùng với các cơ hội tiếp cận công nghệ mới trong giáo dục, người học ngày càng trở thành “trung tâm của việc học của chính họ”, tự do hơn trong định hướng và lựa chọn nội dung theo nhu cầu và quá trình học tập, do đó, càng mang dấu ấn “cá nhân hóa” một cách đậm nét hơn. Mặt khác, công nghệ cũng hỗ trợ và cho phép bất kì người học nào cũng có thể tìm kiếm, đóng góp, chia sẻ, xử lí dữ liệu, biến họ trở thành “người đồng sáng tạo ra tri thức mới” để đóng góp vào “trí thông minh của số đông”.

Theo xu hướng này, quá trình dạy học ngày càng hướng đến người học mạnh mẽ, được chuyển hóa định hướng theo các nhánh:

- Dạy học chính thức theo chương trình được xác lập (bao gồm cả dạy học trực tiếp và trực tuyến);

- Dạy học theo định hướng cá nhân (các nội dung và hình thức đáp ứng nhu cầu riêng của cá nhân, định hướng bởi năng lực, tốc độ, sở thích của cá nhân…);

- Dạy học theo định hướng nhóm bên trong một thiết chế tổ chức cụ thể (ví dụ, một lớp học, trong nhà trường,…) và nhóm mạng lưới (đáp ứng các nhu cầu của nhóm mạng lưới bên ngoài tổ chức);

- Dạy học ngẫu nhiên (học cái gì, học ở ai, vào bất cứ thời điểm nào theo nhu cầu cá nhân, “ngẫu nhiên, tình cờ”).

Quá trình số hóa và bình đẳng trong tiếp cận giáo dục số thúc đẩy mạnh mẽ việc sản sinh nội dung tri thức, biến các nội dung dạy học theo những định dạng thông thường trước đây thành các gói siêu dữ liệu (Meta-data), “nội dung di động” (Mobile/potable content) bằng các phương thức khác nhau (trên nền tảng trực tuyến) đáp ứng nhu cầu của xã hội thông tin.

Trong quá trình tự định hướng học tập, lựa chọn các nội dung phù hợp theo nhu cầu, phong cách học, sở thích và định hướng nghệ nghiệp của cá nhân, người học số sẽ lựa chọn các thiết bị di động cầm tay (wearable devices) phù hợp, có khả năng tương tác đa diện, đa chiều, đa đối tượng; sử dụng các Apps giáo dục (ứng dụng chạy trên nền tảng thiết bị di động) để kết nối dễ dàng với cơ sở dữ liệu lớn, các nguồn học liệu số đa định dạng (game học tập, mô phỏng, 3D tương tác, E-book tương tác, video tương tác 3600…).

Hiện nay, tiếp cận dạy học cho phép sử dụng thiết bị cầm tay trong lớp học BYOD đang là xu hướng phổ biến hiện nay trong giáo dục trên thế giới. Máy tính bảng, máy tính xách tay, thiết bị kết nối thông minh (bảng, thiết bị dạy học thông minh…) cho phép người học sử dụng các nền tảng điện toán đám mây, hạ tầng Web… để dễ dàng chia sẻ, tương tác trong học tập, thay thế các công cụ thiết bị dạy học truyền thống (bảng, sách, tài liệu in, đồ dùng thiết bị dạy học trực quan v.v.).

2.3. Người dạy số (Digital teacher/educator)

Ứng dụng các công nghệ mới hiện nay, người học có thể kết nối với các nguồn thông tin đa dạng về lĩnh vực, phong phú về định dạng, vượt ra khỏi khuôn viên vật lí của nhà trường. Điều này đặt thêm yêu cầu mới bổ sung vào hệ thống chức năng nhiệm vụ của người dạy/nhà giáo dục: “nhà kết nối”, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả và đánh giá xác thực các quá trình giáo dục bằng giải pháp công nghệ số. Đây cũng cơ hội và thách thức đối với các cơ sở đào tạo giáo viên thế hệ mới, những người sẽ phải làm chủ các công nghệ giáo dục.

Trên nền tảng công nghệ, người dạy thực hiện vai trò kết nối tức thời (just in time) người học với nguồn dữ liệu, học liệu, kết nối cộng đồng người học với nhau, các chủ thể liên quan (Stakeholders) và với các môi trường học tập mới (thực-ảo) giàu tính trải nghiệm. Đồng thời chính “thầy giáo số” cũng là người sẽ hỗ trợ người học tiếp cận, chấp nhận và truyền cảm hứng cho người học để sử dụng công nghệ, xóa bỏ hội chứng sợ công nghệ (Technophobia) trên các nền tảng kết nối số, dạy học trực tuyến, dạy học hỗn hợp, dạy học đảo ngược, tương tác thông minh qua các Apps ứng dụng… Mặt khác, để thực hiện vai trò kết nối số, người dạy cần liên tục học hỏi, tiếp cận, cập nhật và quản lí được các nhóm giải pháp công nghệ giáo dục (theo thống kê, hiện có khoảng 4 lĩnh vực, hơn 30 nhóm giải pháp lớn với hơn 2000 công cụ hỗ trợ dạy học. Đó là chưa kể đến hàng ngàn Apps dạy học liên tục được cập nhật, bổ sung và phát triển).

Việc xuất hiện xu hướng sử dụng các Apps hỗ trợ học tập với tư cách là “nhà giáo ảo”, sử dụng các công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), kết nối Internet vạn vật (IoT), máy học (Learning machine), học sâu (Deep learning), Robot dạy học…Các giải pháp này không chỉ nới rộng không gian, cơ hội, làm tăng chất lượng học tập cho người học mà còn hỗ trợ mạnh mẽ cho “người dạy số” trên các phương diện: tổ chức quá trình dạy học (trong các thiết chế giáo dục chính thức, không chính thức và phi chính thức, thu hút sự tham gia, cung cấp các dịch vụ học tập đa dạng, quản lí và đảm bảo chất lượng…

2.4. Học liệu số (Digital learning resources)  

Cùng với sự bùng nố hiện nay của công nghiệp nội dung số (DCI), lĩnh vực giáo dục nói chung và phát triển học liệu số nói riêng đang đứng trước cơ hội phát triển mạnh mẽ. Các nguồn dữ liệu thông tin, nội dung kiến thức giáo dục đầu vào được số hóa (thiết kế, sản xuất, xuất bản, lưu trữ) và chuyển giao qua công cụ số nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về “đa giác quan hóa” và tương tác mạnh cho người học. Được phát triển trên nền tảng, công cụ số theo nguyên tắc giàu nội dung, đa định dạng, tương tác mạnh, tái sử dụng, dễ tiếp cận, tra cứu, chia sẻ và đóng góp… học liệu số dần trở thành mục tiêu, phương tiện hữu hiệu trong các quá trình giáo dục.

Không chỉ dừng lại ở việc “số hóa văn bản” hay “học liệu mở” như trước đây, các ứng dụng “game hóa” (gamification) tăng cơ hội nhập vai (immersive) và nhúng người học vào các môi trường thực-ảo để giải quyết vấn đề; mô phỏng thực tế 3D (3D simulation), hoạt hình (animation), tạo ảnh (hologram), tạo video, bài giảng bằng trí tuệ nhân tạo, E-book tương tác…đã giúp học liệu số không chỉ còn thuần túy cung cấp thông tin, nội dung học tập mà còn tạo khả năng tương tác mạnh với những nội dung đó cho người học.

 2.5. Môi trường học tập số (Digital learning environment)

Việc áp dụng các nền tảng số trong giáo dục tạo ra các cơ hội để: i) kết nối hạ tầng trong mọi lĩnh vực, mọi khâu của quá trình giáo dục và đào tạo; ii) tăng khả năng tương tác và sự linh hoạt cho người học trong không gian và thời gian thực-ảo, môi trường học tập thực-ảo (Physical-cyber environment interaction) dựa trên nền tảng số.

Quá trình tương tác của người học với các sản phẩm của trí tuệ nhân tạo (AI), ứng dụng Robot trong dạy học, công nghệ nhận diện khuôn mặt (Face recognition), tâm trắc (Biometrics), nhận diện cảm xúc (Emotive recognition)… sẽ tạo ra các cơ hội tiếp cận thông tin mới mẻ, đa dạng và hiệu quả hơn đối với học tập cá nhân hóa.

Thực tế ảo (VR)/thực tế tăng cường (AR)/thực tế hỗn hợp (MR)/thực tế tạo ảnh (CR)… sẽ tạo ra các cơ hội tương tác trong không gian vật chất/ảo, đa chiều, tăng khả năng tiếp cận, xử lí thông tin; nới rộng không gian, môi trường học tập; phát triển năng lực tư duy sáng tạo, giải quyết vấn đề.

Trong thời gian tới, công nghệ trong giáo dục được dự báo là sẽ tiếp tục tạo nên những tiền đề thuận lợi để tổ chức các quá trình giáo dục mới về chất theo những xu hướng sau: Tăng tính tương tác cá nhân hóa cao độ trong tổ chức hoạt động với người học với các “gói” nội dung mở, linh hoạt; Tăng cơ hội, lịch trình, thời gian, không gian học tập mở,  lớp học/môi trường học tập ảo; Tạo chuỗi giá trị và gắn kết cao giữa cộng đồng người học với đơn vị đào tạo (kể cả trường hợp sau khi tốt nghiệp), đơn vị tuyển dụng; Tạo dựng chuỗi liện kết, hệ sinh thái giáo dục đổi mới và sáng tạo.

3. Sự chuyển đổi số trong Đại học Quốc gia Hà Nội

Mục đích chính trong định hướng phát triển giáo dục thông minh tại Đại học Quốc gia Hà Nội là tiến tới xây dựng và vận hành mô hình đại học số, hệ sinh thái trong đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao sản phẩm tiếp cận công nghệ 4.0, tạo sự liên kết hữu cơ giữa các đơn vị đào tạo, nghiên cứu, hỗ trợ đào tạo, mang tính liên ngành cao; đổi mới một cách tổng thể, hệ thống từ công nghệ dạy học đến các hoạt động học tập, thực tế, giáo trình, học liệu, cơ sở vật chất, năng lực tiếp cận công nghệ của đội ngũ giảng viên và các nhà nghiên cứu (Kế hoạch thực hiện đổi mới hoạt động giảng dạy ở ĐHQGHN giai đoạn 2019-2025). Trên cơ sở đó, các đơn vị thành viên chủ động đề xuất các giải pháp triển khai cụ thể phù hợp với đặc thù của đơn vị mình.

Trong 2 năm trở lại đây ĐHQGHN đã triển khai đồng loạt, có hệ thống các giải pháp tổng thể ứng dụng và phát triển công nghệ giáo dục số, đại học số, theo hướng áp dụng các công nghệ dạy học tiên tiến, dạy học cá nhân hóa và phát huy tinh thần khởi nghiệp, tăng khả năng thích ứng  của người học với thị trường lao động, phát huy thế mạnh của ĐHQGHN ở tính liên thông, liên kết, liên lĩnh vực, cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ dùng chung, mạng lưới rộng lớn kết nối với các cơ sở đại học uy tín trên thế giới… Lần lượt hàng loạt các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện được bạn hành, làm rõ các nhiệm vụ cần thực hiện cho các đơn vị thành viên hướng đến xây dựng đại học số trong toàn ĐHQGHN. Các đề tài, dự án chuyển đổi theo hướng đầu tư mạnh về hạ tầng số, nghiên cứu và chuyển giao các qui trình, giải pháp công nghệ giáo dục (phòng thí nghiệm chuyên đề, thực hành thí nghiệm, thư viện số, lab công nghệ, trường quay ảo, phát triển học liệu số…). Đồng thời ĐHQGHN cũng đã tổ chức các hội thảo, hội nghị tập huấn, lấy ý kiến chuyên gia giáo dục, công nghệ, các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực công nghệ giáo dục trong và ngoài nước (Hàn Quốc, Hoa Kì, Ireland…) phục vụ trực tiếp cho đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao sản phẩm.

Năm 2018 đáp ứng yêu cầu và xu hướng “giáo dục thông minh” Trường Đại học Giáo dục đã thành lập Khoa Công nghệ Giáo dục, phát triển một số ngành đào tạo mới trên nền tảng ứng dụng các công nghệ (Quản trị trường học, Quản trị Công nghệ Giáo dục, Quản trị chất lượng, Tham vấn học đường) và cơ chế phối thuộc giữa các đơn vị thành viên trong ĐHQGHN (Trường Đại học Công nghệ, Viện Công nghệ thông tin, Viện Đảm bảo chất lượng, Trường ĐH Kinh tế...). Chương trình cử nhân Quản trị Công nghệ Giáo dục được thực hiện theo hướng áp dụng các công nghệ mới trong giáo dục, dạy học tích cực, tăng cường thực hành, dạy học dựa trên nghiên cứu và trải nghiệm thực tế, khuyến khích tạo ra các sản phẩm đầu ra có khả năng ứng dụng cao; tăng thời gian cho sinh viên tự nghiên cứu, thực hiện các dự án học tập. Tính mới, hiện đại và khả năng đáp ứng xu thế công nghệ 4.0 trong giáo dục của chương trình thể hiện ở sự cân đối giữa các khối kiến thức học phần về công nghệ, khoa học giáo dục, khoa học quản trị và hội nhập nghề nghiệp. Cấu trúc linh hoạt theo 2 hướng ngành (“Quản trị hệ thống thông tin trong giáo dục và đào tạo  trực tuyến, ứng dụng các công nghệ mới trong nhà trường” và “Thiết kế, phát triển và quản trị công nghệ giáo dục thông minh”), phương thức đào tạo Blended learning mềm dẻo, thực hành hội nhập nghề nghiệp ngay từ giai đoạn đầu, hệ thống hạ tầng phục vụ đào tạo và nghiên cứu hiện đại  tạo nên sức hấp dẫn nhất định đối với người học. Đây là một chương trình đào tạo hoàn mới, thí điểm, chưa từng có trong danh mục đào tạo và đáp ứng đúng theo xu thế xuyên ngành của giáo dục 4.0.

Trong lĩnh vực nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, năm 2018-2019, Dự án “Chương trình đào tạo giáo viên - học giả nghiên cứu cho khu vực Thái Bình Dương: Ứng dụng công nghệ hình ảnh trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập” (do Quĩ FIRST, Bộ KH-CN tài trợ) được thực hiện với đối tác Hoa Kì (Trung tâm KHXH-NV Quốc gia). Dự án nghiên cứu, phát triển và tích hợp các công nghệ  địa không gian (Geospatial Technologies) hỗ trợ thực hiện các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm hoặc ngoài thực địa, dạy học STEM và STEAM ở phổ thông; hệ thống thông tin địa lí (Geographic Information System - GIS) và công nghệ thực tế tăng cường (Augmented Reality - AR); công nghệ gắn thẻ địa lí (Geo-tag)… để xây dựng các bài giảng. Các sản phẩm đầu ra này của Dự án FIRST được cấu trúc, tích hợp và phát triển trong một dự án giáo dục khác với Đại học Hull (Vương Quốc Anh) nhằm tạo ra các học liệu số trên nền tảng E-book tương tác thế hệ mới (cho các môn Vật lí, Hóa học, Sinh học, Lịch sử, Ngữ văn), dễ dàng đóng gói và phân phát trên các thiết bị di động và ứng dụng trên điện thoại thông minh. Bên cạnh đó, hệ thống các công cụ, giải pháp công nghệ được ứng dụng xuyên suốt trong các hoạt động đào tạo, quản lí quá trình dạy học tại Trường ĐHGD, bước đầu hình thành môi trường dạy học kết nối, cá nhân hóa cao độ trong dạy học tiếp cận công nghệ 4.0 (hồ sơ dạy học điện tử, phòng học và thiết bị thông minh HeyU, HeyC, các ứng dụng Web 2.0, BYOD trong dạy học và kiểm tra đánh giá các học phần…).

4. Kết luận và khuyến nghị

Những dự báo khả quan về xu hướng phát triển mạnh mẽ các công nghệ vật lí, công nghệ số, sinh học môi trường… của nền công nghiệp 4.0 sẽ là những tiền đề, dữ kiện tốt để các nhà giáo dục định hướng lại và thực thi các quan điểm một các đúng đắn. Trong bối cảnh đó, các nhà trường, cơ sở giáo dục (hoạt động trong lĩnh vực công nghệ giáo dục) nói chung, cơ sở đào tạo giáo viên nói riêng cần có sự chuẩn bị sẵn sàng để khai thác, thích ứng các lợi ích do công nghệ mang lại. 

 Quá trình này cần được thực hiện đồng bộ, hệ thống trên các phương diện sau:

- Nhà nước cần có chính sách đầu tư cơ bản (hạ tầng nền tảng và giải pháp công nghệ lõi cho các cơ sở giáo dục), chính sách huy động xã hội hóa, tạo cơ chế cho doanh nghiệp tư nhân đầu tư, triển khai công nghệ giáo dục cùng tham gia với nhà trường trong hoạt động GD-ĐT; thực sự coi giáo dục là bộ phận của nền kinh tế tri thức, áp dụng một cách linh hoạt, khoa học một số nguyên tắc và tiếp cận hoạt động của hình thái kinh tế chia sẻ; Xây dựng các khung pháp lí phù hợp nhằm hỗ trợ thúc đẩy và đánh giá tính hiệu quả các quá trình ứng dụng công nghệ trong giáo dục trước bối cảnh công nghiệp 4.0 hiện nay;

- Nghiên cứu áp dụng các mô hình quản lí giáo dục theo tiếp cận công nghệ (IoT, Big Data, Blockchain), quản lí nhà trường theo hướng mở, kết nối, dùng chung hạ tầng công nghệ, cơ sở dữ liệu lớn; tạo cơ chế cho nhà trường chủ động xây dựng chương trình tích hợp công nghệ, cho phép sử dụng thiết bị cầm tay kết nối trong lớp học/nhà trường; quản lí hệ thống tổng thể trên nền tảng công nghệ;

- Đầu tư nâng cấp hạ tầng CNTT cho các cơ sở giáo dục đáp ứng nhu cầu học tập cá nhân hóa, kết nối mọi chủ thể, đối tượng trong quá trình giáo dục, học mọi nơi, mọi lúc; đáp ứng chỉ số “thông minh” của môi trường học tập, lớp học và nhà trường;

- Tăng cường năng lực, chỉ số đáp ứng CNTT và thiết bị công nghệ hiện đại cho đội ngũ giảng viên, nhà giáo dục; phổ cập học vấn số thông qua các chương trình bồi dưỡng, tập huấn thường xuyên; nhất là đối với đội ngũ giáo viên nhằm đáp ứng chuẩn nghề nghiệp về ứng dụng CNTT và sử dụng thiết bị công nghệ trong dạy học, giáo dục;

- Xây dựng và phát triển các chương trình đào tạo nhân lực về công nghệ giáo dục, quản trị các công nghệ giáo dục mới; tích hợp giữa công nghệ thông tin và giáo dục trong các chương trình liên ngành/xuyên ngành; đổi mới chương trình đào tạo giáo viên theo hướng nhà giáo dục-nhà sử dụng và phát triển công nghệ./.


 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Blogger Templates