SƯU TẬP NHỮNG KIẾN THỨC CẦN THIẾT CHO GIÁO VIÊN ÂM NHẠC VIỆT NAM THỜI 4.0

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

Thứ Hai, 30 tháng 5, 2022

Đào tạo từ xa – Tự học có hướng dẫn – Tại sao không?


TNV - Thế kỷ XXI chứng kiến sự phát triển không ngừng của công nghệ giáo dục, nhiều phương thức giáo dục mới được đưa vào ứng dụng thực tiễn để đổi mới giáo dục và đào tạo.

 Mô hình đào tạo từ xa E – Learning

Một trong những ứng dụng mới đó là: đưa E-LEARNING áp dụng vào giảng dạy trong các trường đại học, cao đẳng để phát huy tối đa hiệu quả của giáo dục – đào tạo, đưa phương thức giáo dục phi truyền thống vào áp dụng để khắc phục hạn chế của phương thức học tập truyền thống, đồng thời thay đổi mô hình quản trị nhà trường mà vẫn đảm bảo mục tiêu giảng dạy, đảm bảo chất lượng học tập.

Đào tạo trực tuyến thực chất là: sự ứng dụng công nghệ tin học và internet vào dạy và học tập nhằm làm cho việc tổ chức giáo dục trở nên dễ dàng và hiệu quả hơn. Với sự tập hợp đa dạng các phương tiện, công nghệ kỹ thuật như văn bản, âm thanh, hình ảnh, thông qua một máy tính có kết nối mạng, người dạy và người học có thể giao tiếp với nhau dưới các hình thức như e-mail, thảo luận trực tuyến (chat), diễn đàn (forum), hội thảo video…

Có hai hình thức giao tiếp giữa người dạy và người học: giao tiếp đồng bộ (Synchronous) và giao tiếp không đồng bộ (Asynchronous): Giao tiếp đồng bộ là hình thức giao tiếp trong đó có nhiều người truy cập mạng tại cùng một thời điểm và trao đổi thông tin trực tiếp với nhau như: thảo luận trực tuyến, hội thảo video…; Giao tiếp không đồng bộ là hình thức trong đó những người giao tiếp không nhất thiết phải truy cập mạng tại cùng một thời điểm, ví dụ như: các khoá tự học qua Internet, CD-ROM, e-mail, diễn đàn. Đặc trưng của kiểu học này là người học được tự do chọn lựa thời gian tham gia khoá học. 

.s Nguyễn Hải Bằng - Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Hiệu trưởng tại Chung kết Cuộc thi Robocon lần thứ 

 

Nhìn ra thế giới chúng ta thấy hình thức học trực tuyến rất phổ biến ở các nước có nền công nghệ phát triển, với nhiều môn học cũng như trung tâm đào tạo; tại Mỹ: Khoảng 80% trường ĐH sử dụng phương pháp đào tạo trực tuyến, có khoảng 35% các chứng chỉ trực tuyến được chính thức công nhận; tại Singapore: Khoảng 87% trường ĐH sử dụng phương pháp đào tạo trực tuyến; tại Hàn Quốc đến nay đã có 9 trường ĐH trực tuyến trên mạng.

Hiện nay có nhiều công ty lớn đầu tư vào đào tạo trực tuyến, nổi bật là các công ty như SAP, Click2Learn, Docent, Saba, IBM, Oracle, NTT, NEC. Năm 2002, thị trường này đã đạt 13,5 tỷ USD, năm 2006, Đào tạo trực tuyến đạt tới 100 tỷ USD. Người ta dự tính, đến năm 2010 Đào tạo trực tuyến trên toàn cầu đạt 500 tỷ USD. Ở các nước công nghiệp phát triển, điển hình là Mỹ, lĩnh vực này đang phát triển rất nhanh. Thị trường Đào tạo trực tuyến ở Mỹ đã đạt 10,3 tỷ USD vào năm 2002 và đạt 83,1 tỷ USD vào năm 2006. Tại châu Á, thị trường này tăng trưởng 25% mỗi năm (đạt 6,2 tỷ USD).

  Trở lại với Việt Nam quan điểm và chính sách nhất quán của Đảng và Chính phủ luôn khẳng định rằng: giáo dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu là một trong những ngành được ưu tiên cao nhất và được hưởng các nguồn đầu tư cao nhất nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong những năm tới. Với nỗ lực này, Việt Nam đã quyết định kết hợp công nghệ thông tin vào tất cả mọi cấp độ giáo dục nhằm đổi mới chất lượng học tập trong tất cả các môn học và trang bị cho lớp trẻ đầy đủ các công cụ và kỹ năng cho kỷ nguyên thông tin.

Những năm trước đây, website eLearning ở Việt Nam vẫn chỉ đếm trên đầu ngón tay và chúng thực sự chưa phải là những giải pháp eLearning tổng thể cũng như chưa tuân theo các chuẩn cho E - LEARNING trên thế giới do vậy chúng ta khó có thể chia sẻ tri thức cùng các nước khác trên thế giới, điển hình là một số website như sau: http://www.eLearning.com.vn (thuộc sở hữu của FPT và Englishtown, toàn bộ các nền tảng (platform) của hệ thống này dựa trên sản phẩm của Englishtown); http://www.cleverlear.com (thuộc sở hữu của công ty TNHH cleverlear), http://www.saigonctt.com (thuộc sở hữu của Trung tâm nghiên cứu công nghệ Kỹ thuật Sài Gòn - saigon CTT); http://www.truongthi.com.vn và http://www.khoabang.com.vn cho luyện thi đại học.

Trường Cao đẳng Công nghiệp và Thương mại được lựa chọn tham gia đào tạo
thí điểm theo 22 bộ chương trình đã chuyển giao từ Cộng hòa Liên Bang Đức.

Trong thời gian qua, tại Việt Nam, đào tạo trực tuyến đã hình thành và phát triển mạnh tại các trường đại học như: Đại học Bách khoa, Đại học sư phạm Hồ Chí Minh, đại học Huế, Đại học Ngoại thương... với đối tượng đào tạo chủ yếu trong mô hình đào tạo trực tuyến trên là: học sinh, người học và các tầng lớp trí thức.

Việc tiếp tục phát triển, mở rộng hơn nữa hình thức đào tạo trực tuyến cho khối cơ quan nhà nước trong thời gian tới sẽ là một công cụ hữu hiệu cho tiến trình phát triển Chính phủ điện tử, nhằm tăng cường năng lực và hiệu quả quán lý nhà nước của Chính phủ.

Nắm bắt xu thế của công nghệ giáo dục tiên tiến BGH trường Cao đẳng Công nghiệp và Thương mại đã mạnh dạn đi tắt đón đầu ứng dụng nhanh E - LEARNING vào giảng dạy, để đáp ứng yêu cầu thực tiễn: học mọi lúc mọi nơi của nhiều đối tượng người học, nâng cao chất lượng đào tạo, tạo ra một công cụ giáo dục mới làm thay đổi căn bản các mô hình đào tạo mà nhà trường đang triển khai. Bên cạnh đó, nhà trường cũng nhìn thấy rất rõ ưu điểm của và sự khác biệt giữa đào tạo truyền thống so với đào tạo trực tuyến đó là:

BẢNG SO SÁNH ĐÀO TẠO TRUYỀN THỐNG VÀ ĐÀO TẠO TRỰC TUYẾN

 

Chức  năng

Đào tạo truyền thống

Đào tạo trực tuyến

ĐĂNG KÝ HỌC

Đăng ký tập trung ở một điểm

Đăng ký ở bất kỳ đâu

CHỌN LỚP HỌC& KHÓA HỌC

Mất thời gian đăng ký

Khó tổng hợp

Chỉ cần nhấn chuột một lần

Hệ thống tự động tổng hợp

THAM GIA ĐÀO TẠO

Mời giảng viên giảng dạy nhiều lần

Học một lần

Thời gian bài giảng hạn chế

Xây dựng nội dung một lần

Học nhiều lần

Thời gian bài giảng không hạn chế

THAM GIA THI CHUẨN HÓA KIẾN THỨC

Tốn kém giấy tờ

Mất nhiều công chấm bài

Hệ thống tự động chấm bài và đưa ra kết quả chi tiết

CHIA SẺ VÀ QUẢN LÝ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu không tập trung

Không được chuẩn hóa

Tài liệu tập trung cho toàn thể nhân viên

TRAO ĐỔI CHUYÊN MÔN

Quy mô nhỏ & ít người tham gia

Chủ đề giới hạn

Với forum, không giới hạn số người tham gia và phạm vi doanh nghiệp

Chủ đề đa dạng

QUẢN LÝ LỚP HỌC

Giới hạn ở quy mô lớp học nhỏ

Không thể quản lý tự động được

Không giới hạn quy mô lớp học

Hệ thống quản lý bán tự động, hỗ trợ người quản lý đến mức tối đa

QUẢN LÝ

BÀI GIẢNG

Khó khăn hệ thống và sắp xếp logic cả các tài liệu học lẫn kho đề thi

Phần mềm quản lý bài giảng, kho đề logic theo từng chuyên mục nên dễ dàng sử dụng và tìm kiếm

THEO DÕI HỌC TẬP

Khó theo dõi tiến độ học tập của từng người học

Phải lập bản thống kê bằng tay

Dễ dàng theo dõi tiến độ học tập của từng người học

Bản thống kê được phần mềm làm tự động ở nhiều mức độ từ đơn giản đến phức tạp

 

Nhận thức được việc phải áp dụng nhanh E – LEARNING vào giảng dạy và học tập, BGH nhà trường đã nhanh chóng hiện thực hóa quyết tâm đó thông qua việc kí với DES – công ty cung ứng dịch vụ đào tạo trực tuyến hàng đầu để có được giải pháp đào tạo hiệu quả. Bắt tay vào triển khai, vấn đề đặt ra có nhiều bài toán để lựa chọn nhưng COIT và DES lựa chọn những giải pháp có giá trị tổng thể và hiệu quả lâu bền. Có rất nhiều giải pháp công nghệ nhưng COIT mong muốn không chỉ tạo ra một phân hệ chức năng mà sẽ cung cấp cả một tổng thể giải pháp, đó là một sự lựa chọn hướng đi khác biệt tạo nên một trường học 4.0 mang tên "DIGITAL UNI": Không chỉ là 1 phòng học trực tuyến mà là cả 1 giảng đường trực tuyến; Không chỉ là 1 buổi thảo luận online mà là cả 1 hệ thống môn học số hóa chuẩn E - LEARNING; Không chỉ là 1 lớp học mà sự liên thông: Lớp học - Tổ bộ môn - Phòng Khoa - Ban Giám hiệu - Chuyên ngành - Năm học - Kỳ học...; Không chỉ là tương tác nhóm mà là cả một hệ sinh thái: giảng viên - giảng viên, giảng viên - sinh viên, sinh viên - sinh viên, giảng viên - nhà trường, nhà trường - sinh viên....; Không chỉ là học tập mà còn là tự học, tự đánh giá, thi cử trực tuyến, kho bài giảng phong phú, học không giới hạn thời gian, ở bất cứ đâu; Không chỉ đào tạo mà còn giám sát đào tạo, theo dõi tiến trình hoạt động của cả giảng viên và sinh viên, lưu trữ hồ sơ suốt quá trình học...

DES sẽ đồng hành cùng COIT trong một Giải pháp tổng thể "DIGITAL UNI" đảm bảo: Hệ thống độc lập và toàn diện; Sở hữu và quản lý kho dữ liệu riêng biệt; Đảm bảo chất lượng giáo dục; Bảo mật thông tin và xây dựng thương hiệu.

Với sự quyết tâm , nhất trí cao của tập thể Đảng ủy – BGH nhà trường, sự háo hức trải nghiệm công nghệ giáo dục mới mẻ của giảng viên và sinh viên, chúng ta tin rằng dự án áp dụng  E – LEARNING vào giảng dạy và học tập tại trường Cao đẳng Công nghiệp và Thương mại bắt đầu với lớp Cao đẳng phiên dịch tiếng Nhật kinh tế thương mại sẽ thu lượm được thành công đầu tiên và trên cơ sở này sẽ áp dụng đồng bộ ở các khoa với những chuyên ngành đào tạo khác nhau. Và mục tiêu cuối cùng là vì một COIT: đổi mới, đoàn kết, phát triển bền vững.


          Th.s Nguyễn Hải Bằng

Thiếu giáo viên Âm nhạc, Mĩ thuật: Giải pháp từ bồi dưỡng đội ngũ

 


Thiếu 100% giáo viên Âm nhạc, Mĩ thuật bậc THPT

Trong Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018, môn Nghệ thuật (Âm nhạc, Mĩ thuật) được triển khai dạy và học ở cả ba cấp: Tiểu học, THCS, THPT. Chia sẻ thông tin từ số liệu đánh giá của Bộ GD&ĐT, PGS.TS Đào Đăng Phượng - Hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm Nghệ thuật Trung ương cho biết: Ở tiểu học, số lượng giáo viên Âm nhạc, Mĩ thuật còn rất thiếu.

Trong tổng số 15.538 trường tiểu học trên toàn quốc, tổng số giáo viên Âm nhạc chỉ có 13.339 giáo viên (tỷ lệ giáo viên/trường chỉ đạt 0,85% - số giáo viên Âm nhạc thiếu là 2.199 giáo viên). Tổng số giáo viên Mĩ thuật tiểu học chỉ có 13.445 giáo viên (tỷ lệ giáo viên/trường đạt 0,86% - số giáo viên Mĩ thuật thiếu là 2.093 giáo viên).

"Theo thống kê của Bộ GD&ĐT, toàn quốc hiện có 2.834 trường THPT. Nếu căn cứ vào tiêu chí mỗi trường THPT cần 1 giáo viên Âm nhạc, 1 giáo viên Mĩ thuật, số lượng giáo viên cần có là 5.668 người. Như vậy, nguồn và nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng giáo viên nghệ thuật cho các trường phổ thông hiện nay rất lớn.
Theo dự báo của Bộ GD&ĐT về nhu cầu tuyển dụng giáo viên nghệ thuật bậc THCS đến năm 2022 khoảng 23.702 giáo viên. Nhu cầu tuyển dụng giáo viên nghệ thuật bậc THPT đến năm 2022 là 10.098 giáo viên.
" - PGS Đào Đăng Phượng

Ở bậc THCS, số lượng giáo viên nghệ thuật về cơ bản là đủ. Theo đó, tổng số 10.939 trường THCS trên toàn quốc có 11.424 giáo viên Âm nhạc (tỷ lệ giáo viên/trường đạt 1,04%); và 11.178 giáo viên Mĩ thuật (tỷ lệ đạt 1,02%). Riêng đối với bậc THPT, theo lộ trình của Chương trình giáo dục phổ thông mới, khi môn Nghệ thuật được triển khai tại các trường, con số về đội ngũ giáo viên Âm nhạc, Mĩ thuật sẽ thiếu 100%.

Hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm Nghệ thuật Trung ương cũng tìm hiểu trình độ đào tạo và năng lực nghệ thuật của giáo viên Âm nhạc, Mĩ thuật hiện nay và cho biết: Ở bậc THCS, đa số giáo viên Âm nhạc, Mĩ thuật đạt chuẩn trình độ đào tạo từ cao đẳng sư phạm Âm nhạc/sư phạm Mĩ thuật hoặc tương đương trở lên.

Tuy nhiên, theo Luật Giáo dục 2019 (có hiệu lực từ 1/7/2020) thì chuẩn trình độ đào tạo của giáo viên ở cả tiểu học và THCS phải là đại học. Thực tế này cũng đặt ra bài toán đối với đội ngũ giáo viên Âm nhạc, Mĩ thuật trong việc nâng chuẩn, đạt chuẩn và cho thấy sự cần thiết của việc tổ chức các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ.

Riêng ở bậc tiểu học, theo đánh giá của Bộ GD&ĐT, trình độ đào tạo của giáo viên Âm nhạc, Mĩ thuật không đồng đều. Có giáo viên đạt chuẩn trình độ đào tạo trung học sư phạm hoặc tương đương, có giáo viên đạt trình độ CĐ sư phạm, CĐ chuyên nghiệp, ĐH sư phạm, sau ĐH và vẫn còn một số ít giáo viên chưa đạt chuẩn trình độ trung học sư phạm. Tổng số giáo viên Âm nhạc, Mĩ thuật tiểu học trên toàn quốc là 26.784 giáo viên; số giáo viên Âm nhạc là 13.339 người.


Ảnh minh họa/ INT

Giải quyết bài toán mất cân đối giáo viên

Thực trạng đội ngũ giáo viên Âm nhạc, Mĩ thuật ở phổ thông cho thấy đang tồn tại nhiều bất cập: Số lượng giáo viên Âm nhạc, Mĩ thuật mất cân đối; giáo viên tiểu học vẫn còn thiếu cục bộ, THPT dự báo rất thiếu. Trình độ đào tạo của giáo viên Âm nhạc, Mĩ thuật đa số chưa đạt chuẩn, không đồng đều, năng lực nghệ thuật còn hạn chế. Một bộ phận tâm lý ngại đổi mới, hạn chế trong sử dụng công nghệ và kiêm nhiệm nhiều chức vụ khác nhau trong nhà trường…

“Những điều này cho thấy cần giải quyết sớm bài toán mất cân đối về giáo viên ở cấp tiểu học; tổ chức đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng để đáp ứng đủ số lượng giáo viên Âm nhạc, Mĩ thuật cho THPT, đạt chuẩn cho bậc THCS và để từng bước chuẩn bị khi thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông mới” - PGS Đào Đăng Phượng cho hay.

Đi sâu vào hoạt động bồi dưỡng, Hiệu trưởng Trường ĐH Sư phạm Nghệ thuật Trung ương cho rằng: Việc bồi dưỡng đội ngũ giáo viên Âm nhạc, Mĩ thuật cần tập trung vào phương pháp dạy học, cách tiếp cận theo hướng phát triển năng lực nghệ thuật kết hợp với các năng lực cơ bản khác như: Ngoại ngữ, Tin học, phát triển chương trình, tổ chức các hoạt động học tập trong nhà trường.

Hoạt động này cũng cần chú trọng bồi dưỡng về phẩm chất đạo đức thông qua kỹ năng ứng xử, giải quyết tình huống sư phạm; kỹ năng kiềm chế cảm xúc; kỹ năng giải quyết xung đột và vấn đề giữ gìn hình ảnh, uy tín, danh dự nhà giáo.

“Một việc cũng hết sức quan trọng là đẩy mạnh bồi dưỡng nâng cao trình độ của giáo viên Âm nhạc, Mĩ thuật để đạt chuẩn, đảm bảo tính đồng đều. Từng bước xóa bỏ tâm lý ngại bồi dưỡng, đổi mới; tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ, sử dụng công nghệ và các hoạt động bổ trợ khác phù hợp trong nhà trường phổ thông” - PGS Đào Đăng Phượng nêu ý kiến.

Hiếu Nguyễn - Giáo dục và Thời đại.


Chủ Nhật, 29 tháng 5, 2022

Giáo dục năng khiếu: Để không gây bất bình đẳng?

 

Trong thời gian qua, đã có nhiều tranh luận về việc có nên duy trì, cải cách hay bãi bỏ các trường chuyên vì hệ thống chuyên có thể mang tới sự bất bình đẳng trong giáo dục. Nhưng trên thực tế, không chỉ ở Việt Nam mà phần lớn các hệ thống giáo dục trên thế giới đều ghi nhận học sinh năng khiếu (học sinh giỏi) có nhu cầu học tập riêng cần được đáp ứng.

Bài viết này tổng hợp các chính sách và thực hành giáo dục năng khiếu (GDNK) ở một số quốc gia điển hình nhằm đem đến những góc nhìn đa chiều và gợi mở về những gì có thể thực hiện để cải cách hệ thống trường chuyên ở Việt Nam.


Đã có ý kiến bãi bỏ các trường chuyên, thậm chí bán trường Amsterdam Hà Nội. Trong ảnh: Học sinh trường Amsterdam thực hành thí nghiệm khoa học. Nguồn: laodong.

Trẻ có năng khiếu khó phát huy khả năng trong lớp “đại trà”

Theo định nghĩa của Hiệp hội Trẻ năng khiếu quốc gia (NAGC) của Mỹ, trẻ có năng khiếu là những trẻ có khả năng học tập, rèn luyện hoặc có kết quả học tập, rèn luyện cao hơn trẻ cùng tuổi, cùng lứa ở cùng môi trường (khả năng học tập và lập luận xuất chúng hoặc đạt thành tích trong tốp 10% cao nhất) trong một hoặc nhiều lĩnh vực, và khẳng định cần phải điều chỉnh chương trình giáo dục để giúp những học sinh này phát triển được năng lực của mình.

Chính phủ các nước có chính sách khác nhau để khai thác nguồn nhân lực tài năng. Kết quả đánh giá học sinh Australia NAPLAN toàn quốc năm 2015 cho thấy top 10% học sinh có kết quả cao nhất chênh tới 5-6 lớp so với nhóm học sinh có kết quả thấp nhất (Geoff Masters). Nếu trao trách nhiệm ‘cá nhân hoá’ chương trình học cho giáo viên trực tiếp giảng dạy, đây sẽ là gánh nặng quá lớn đối với họ. Các lớp học chung cho mọi trình độ do vậy thường bỏ qua nhu cầu học tập của nhóm học sinh có năng lực cao, trong khi nhóm học sinh này rất dễ gặp phải những vấn đề về hành vi, thái độ, và mất động cơ học tập.
Đó là trong thực tiễn, còn về mặt lý thuyết thì điều này cũng đã được đề cập.

Trong các học thuyết quan trọng về năng khiếu có thể nhắc đến định nghĩa của Renzulli, thuyết đa trí tuệ của Gardner, Gagne với sự phân biệt giữa tài năng và năng khiếu, và mô hình WICS của Sternberg. Renzulli (2005) chia năng khiếu thành hai loại: năng khiếu ‘trường lớp’, để nói đến năng lực thi cử, học hành, ghi nhớ kiến thức; và năng khiếu ‘sáng tạo’ để chỉ năng lực vận dụng kiến thức, và khẳng định đây mới thực sự là năng khiếu.

Thuyết đa trí tuệ của Gardner gợi ý rằng trẻ thông minh theo cách khác nhau và ở những lĩnh vực khác nhau (ngôn ngữ, logic-toán học, không gian-thị giác, vận động, âm nhạc, giao tiếp, tự nhiên, và nội tâm), do vậy thừa nhận sự đa dạng về đặc điểm và nhu cầu học tập của trẻ, đưa ra những ‘gợi ý’ quan trọng cho giáo dục năng khiếu.

Với Gagne, giữa năng khiếu và tài năng có sự khác biệt rõ ràng, trong đó năng khiếu là những năng lực tự nhiên, mang tính bẩm sinh, còn tài năng là những năng lực được tôi rèn, phát triển một cách có hệ thống. Năng lực bẩm sinh tự nhiên cần được phát triển và chuyển hóa thành tài năng thông qua quá trình có bốn yếu tố xúc tác: học tập và rèn luyện, cơ hội, môi trường, và nội tâm. Trẻ có chút năng khiếu chiếm khoảng 10% cùng nhóm lứa tuổi, nhưng số có năng khiếu, tài năng đặc biệt, xuất chúng chỉ có 0.1% dân số.

Mô hình WICS (Sternberg) đề xuất ba yếu tố (Trí tuệ, Trí thông minh, và Sáng tạo) cần để tổng hợp (Synthesis) để hình thành tài năng. Đặc biệt, mô hình này đề cao năng lực thích ứng với môi trường. Ngoài ra, khung MVT:D4 của GS. Stanley, Trung tâm Tài năng trẻ của Đại học John Hopkins, cũng đưa đến những gợi ý đáng chú ý về quá trình phát triển tài năng qua bốn giai đoạn: Khám phá (tìm kiếm tài năng), Đặc tả (đánh giá cá nhân), Phát triển (chương trình can thiệp, hỗ trợ phát triển tài năng) và Phổ biến (chia sẻ thực hành).

Nhiều nước đều có chương trình giáo dục năng khiếu

Ở Mỹ, luật liên bang Mỹ công nhận rằng trẻ có năng khiếu, tài năng có nhu cầu đặc biệt tuy nhiên không có quy định nào bắt buộc phải đáp ứng những nhu cầu này nhưng thực tiễn cho thấy hầu hết các bang đều có chương trình GDNK cho trẻ, trong đó 80% có nhân sự chuyên phụ trách mảng này; gần 50% có ngân sách dành riêng cho GDNK, 75% đặt quy định bắt buộc phải xác định, tìm kiếm học sinh năng khiếu dù cấp sở có thể triển khai khác nhau (Rinn, Mun, & Hodges, 2020). Một số bang thậm chí yêu cầu phải sử dụng phương pháp, tiêu chuẩn và công cụ tìm kiếm tài năng nhất định, còn một số bang chỉ đặt ra các yêu cầu mang tính nguyên tắc. 

Các hình thức để tổ chức giáo dục năng khiếu cho học sinh phổ thông có khác biệt giữa các bậc học. Ở mẫu giáo, nhà trẻ, lớp học có chương trình chuyên, khối lớp chuyên (self-contained), lớp học mở cho phép học theo tốc độ cá nhân (self-paced), phân nhóm học sinh giỏi, phòng tư liệu trong trường (hỗ trợ học sinh có nhu cầu đặc biệt), trường năng khiếu (trong hệ thống trường công), vv. Ở tiểu học và THCS, có các lớp tăng cường, lớp chuyên, lớp tự học, và chương trình Tú tài quốc tế. Ở THPT, còn có thêm các hình thức lớp học sinh giỏi.


Học sinh trường Manchester Grammar School, lâu đời và nổi tiếng trong hệ thống các trường Grammar School, trong kỷ niệm 500 năm thành lập trường. Nguồn: manchestereveningnews.co.uk

Về nhân sự phụ trách, đội ngũ tham gia gồm có giáo viên chuyên, điều phối, chuyên viên giáo dục năng khiếu, các nhà tư vấn học đường, và các chuyên gia về giáo dục đặc biệt. Nhiều bang yêu cầu giáo viên dạy học sinh năng khiếu phải có chứng chỉ, giấy phép về giáo dục năng khiếu (Rinn et al., 2020).

Tương tự Mỹ, ở Vương quốc Anh, không có quy định nào bắt buộc về giáo dục năng khiếu, nhưng thực tế tồn tại rất nhiều hình thức giáo dục này cho trẻ năng khiếu, tài năng, phổ biến là hình thức lớp tăng cường dành cho các môn học văn hóa. Quan trọng hơn cả, hệ thống giáo dục hỗ trợ giáo dục năng khiếu thông qua việc không áp dụng giới hạn tuổi thi ‘O-level và ‘A-level’, cho phép học sinh giỏi có thể vào đại học sớm trước tuổi.

Điểm nhấn ở Anh là hệ thống trường Grammar schools đã tồn tại 500 năm. Đây là loại hình trường công dành cho trẻ từ 11 đến 18 tuổi, tuyển chọn đầu vào, với định hướng học thuật ‘chuẩn bị cho học sinh vào đại học khối Oxbridge’, chủ yếu tập trung vào các môn học văn hóa để học sinh có thể học tiếp bậc đại học. Trước 1964, loại hình trường này rất phổ biến và có tới ¼ tổng số học sinh theo học. Tuy nhiên sau đó, Chính phủ Anh thúc đẩy loại trường ‘tổng hợp’ cho toàn bộ học sinh học chung, do vậy số trường “grammar schools” giảm đáng kể (Richardson, 2016).

Các trường grammar hiện nay vẫn thực hiện chương trình chung (GCSE), nhưng vẫn đầu tư trọng tâm vào các môn như Sinh học, Hóa học, Vật lý, và có thêm nhiều môn học chuyên và ngoại ngữ. Trong chương trình của các trường này có bổ sung thêm nhiều hoạt động bổ trợ, giúp phát triển năng lực học sinh như các cuộc thi hùng biện trước công chúng (Public Speaking), Báo cáo BBC School, các cuộc thi học sinh giỏi Toán, các cuộc thi thể thao lẫn học thuật như Sports residential, Oxford/Cambridge residential, Bioscience Challenge. Các hoạt động này được nêu chính thức trong Chương trình giáo dục nhà trường.

Ở Trung Quốc, các hình thức trường chuyên năng khiếu tồn tại từ những năm 1950 cho các lĩnh vực như múa, nhạc, mỹ thuật, ngoại ngữ và thể thao. Nhưng kể từ sau những năm 1980 giáo dục năng khiếu mới được chú trọng, với cách tuyển chọn đầu vào rất khắt khe (Stevenson, Lee, & Chen, 1994). Ngoài các chương trình ngoài học chính khóa được tổ chức ở các trường Olympics, trường chuyên biệt, các câu lạc bộ trẻ và hội trại (Stevenson et al., 1994).

Trường Olympic chủ yếu tập trung vào môn Toán cho trẻ từ lớp 3 đến lớp 11 và giáo viên tham gia giảng dạy là giáo viên phổ thông dày dạn kinh nghiệm và giáo sư đại học. Các trường chuyên biệt lại dành cho các vận động viên điền kinh tương lai. Hội trại mùa Hè hay mùa Đông và câu lạc bộ trẻ thì tập trung vào các chương trình nghệ thuật, sáng tạo như viết văn, hội họa, múa và sân khấu thông qua tuyển chọn đầu vào bằng phỏng vấn và thi.


Giờ thuyết trình của các em học sinh tại trường năng khiếu thuộc Đại học Khoa học và công nghệ Trung Quốc, tại Hợp Phì, thủ phủ của tỉnh An Huy, Trung Quốc. Nguồn: chinadaily

Các chương trình chuyên chính khóa về cơ bản là chương trình tăng cường, có mục tiêu đào tạo tài năng trẻ, do vậy tuyển trẻ từ rất nhỏ tuổi. Chẳng hạn trẻ có thể vào tiểu học từ khi lên 3 tuổi, vào trung học khi lên 8, và vào đại học ở tuổi lên 10. Các trường công lập cũng tổ chức lớp chuyên, nhưng chỉ nhận trẻ từ 5 – 6 tuổi, dạy theo chương trình thường, nhưng rút ngắn thời gian từ 12 năm xuống 8-10 năm. Điều kiện để sơ tuyển là giới thiệu của giáo viên, các giải thi học sinh giỏi quốc gia, và chỉ số các bài thi chuẩn hóa. Sau đó, nếu vượt qua sơ loại, thí sinh sẽ tiếp tục trải qua các bài thi. Một số trường phổ thông tổ chức lớp chuyên cho một số môn như Toán, Lý, Hóa được các giáo sư đại học giảng dạy.

Giáo dục năng khiếu trong hệ thống giáo dục Việt Nam

Giáo dục chuyên ở Việt Nam bắt đầu từ 1965 với các lớp chuyên Toán ở đại học. Từ đó đến nay, hệ thống trường chuyên Việt Nam là cái nôi đào tạo học sinh giỏi lấy giải Olympic quốc tế về Toán học, Vật lý và Hóa học. Giáo dục chuyên, theo luật, chỉ dành cho học sinh THPT trong khi các trường năng khiếu khác được tổ chức ở tất cả các bậc học phổ thông. Trường chuyên thuộc hệ thống trường công, do các sở giáo dục hoặc các trường đại học quản lý để dành cho nhóm 2% học sinh giỏi nhất (theo số liệu năm học 2018-2019, có 76 ‘trường chuyên’ toàn quốc, trong đó 71 trường thuộc các sở và 5 trường thuộc các trường đại học với tổng số học sinh chiếm khoảng 2,1% học sinh cấp 3).

Ở một số tỉnh, trường chuyên tồn tại cả ở cấp 2, dù không được chính thức thừa nhận nhưng được phụ huynh lựa chọn. Đáp ứng nhu cầu của phụ huynh, còn có các hình thức mở rộng của hệ chuyên, như lớp chọn, lớp cận chuyên. Tuy nhiên trong những năm gần đây sự phát triển của hệ chuyên, chọn, cận chuyên mở rộng và trở nên phức tạp, đặt ra nhiều câu hỏi đối với các học giả và xã hội.  

Gây bất bình đẳng?

“Tất cả những ai có năng lực, năng khiếu như nhau, có mức độ sẵn sàng và nỗ lực như nhau CẦN PHẢI có cơ hội thành công như nhau, bất kể thành phần xuất thân”. (Rawls 1971)
Giáo dục chuyên đối mặt với cáo buộc “phân biệt đối xử” với trẻ và gây ra bất bình đẳng, vì có chương trình riêng “khiến cho học sinh đã giỏi ngày càng giỏi hơn”. Luồng ý kiến này coi các lớp học ‘hỗn hợp các trình độ’ là cơ hội bình đẳng cho tất cả học sinh.

Tuy nhiên, một mặt, việc thúc đẩy giáo dục hòa nhập là mục tiêu quan trọng, mặt khác, cần làm rõ rằng việc hòa trộn học sinh các trình độ vào cùng một lớp học mà không tính đến sự khác biệt cá nhân về nhu cầu học tập là sự cào bằng và là không công bằng đối với học sinh giỏi hệt như với học sinh gặp khó khăn trong học tập. Sự cào bằng như vậy vô tình bỏ qua cả đối tượng học sinh ở tốp đầu và tốp cuối cùng. Đặc biệt, trong điều kiện trường học ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, sĩ số lớp quá đông, lên tới 40-60 học sinh/lớp, việc cá nhân hóa học tập và giảng dạy đáp ứng nhu cầu của các nhóm học sinh khác nhau là không thể, quá sức đối với giáo viên. Tirri & Laine (2017) đã chỉ rõ quan điểm cho rằng ‘dạy tất cả trẻ em theo cách như nhau là đảm bảo công bằng’ là một sai lầm nghiêm trọng. Nếu thực sự muốn đem lại ‘cơ hội công bằng cho tất cả’ học sinh, cơ sở giáo dục cần phải đem đến trải nghiệm giáo dục mà mọi học sinh đều tham gia. Việc cung cấp chương trình học tập bằng một cách nào đó cho nhóm học sinh giỏi có nhu cầu đặc biệt không những đảm bảo quyền lợi của nhóm này giúp các em có cơ hội học tập, mà còn tạo cơ hội để các nhóm học sinh khác được ‘chăm sóc’ tốt hơn.

Ở Việt Nam cũng có ý kiến cho rằng sự giàu có của phụ huynh các trường chuyên nổi tiếng là một biểu hiện của bất bình đẳng. Không hẳn vậy. Bất bình đẳng chỉ xảy ra nếu sự giàu có ấy được sử dụng để đem lại lợi thế gián tiếp hoặc, một cách trực tiếp, suất chỗ trong trường chuyên cho con cái họ.

Tóm lại, cần phải khẳng định rằng việc phân hóa chương trình giáo dục cho các nhóm đối tượng học sinh có nhu cầu đặc biệt thuộc nhóm thiểu số, bất kể là trẻ gặp khó khăn trong học tập vì thiếu ngôn ngữ, hay do các khiếm khuyết trí tuệ, vận động, cũng như có năng lực trí tuệ và thể chất vượt trội, là đảm bảo công bằng. Tuy vậy, về chính sách và chiến lược giáo dục và phát triển kinh tế xã hội quốc gia, việc đảm bảo công bằng tiếp cận cho mọi trẻ em là chưa đủ. Hiệu quả đầu tư vào nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển kinh tế, xã hội là một yếu tố vô cùng quan trọng. Đầu tư thích đáng, phù hợp vào giáo dục năng khiếu còn là một phần quan trọng trong chiến lược quốc gia phát triển nhân lực chất lượng cao.

Thiếu nhất quán, chất lượng không đồng đều

Không chỉ ở Việt Nam mà nhiều nước triển khai giáo dục năng khiếu, có những cáo buộc về sự chênh lệch chất lượng các chương trình năng khiếu cũng như sự không nhất quán trong thực hành, tổ chức các hình thức GDNK. Điều này dễ xảy ra nếu như không có sự chuẩn hóa về điều kiện, cách thức tổ chức GDNK. Đáng chú ý là quy trình tìm kiếm, sàng lọc, tuyển chọn đầu vào cho giáo dục năng khiếu có nhiều vấn đề do các công cụ, bài thi không tốt và các yếu tố xã hội bóp méo quá trình tuyển chọn. Hệ quả là học sinh có năng khiếu, tài năng có thể bị bỏ sót, chẳng hạn như các trường hợp năng khiếu, tài năng bị che lấp bởi các vấn đề khác như khiếm khuyết khả năng giao tiếp hoặc thái độ cá biệt, vv, hoặc do thiếu sự quan tâm của gia đình.

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây nền kinh tế mở theo hướng thị trường, đời sống kinh tế hộ gia đình cải thiện cũng kéo theo những trào lưu giáo dục mới và cả những biến tướng làm méo mó các loại hình, sản phẩm giáo dục đã có. Đồng thời những mô hình và thực hành cũ cũng đã có những điểm không còn phù hợp, cần xem xét, điều chỉnh. Mô hình đào tạo trường chuyên là một trường hợp như vậy.

Một số giải pháp đề xuất

Quy chuẩn, ban hành hướng dẫn, khung đảm bảo chất lượng

Ở Mỹ, Hiệp hội NAGC kết hợp với Ủy ban Trẻ em xuất chúng (CEC) và Hiệp hội những người có năng khiếu cùng phối hợp xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn quốc gia về xây dựng chương trình, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, và chuẩn chuyên gia cao cấp về giáo dục tài năng  (NAGC, 2019). Quá trình xây dựng các bộ tiêu chuẩn này có tham khảo các tiêu chuẩn kiểm định trường phổ thông cũng như các yêu cầu về phát triển chuyên môn cho giáo viên. Đây là căn cứ để những nhà quản lý, thực hành giáo dục đánh giá chương trình cũng như nhân sự tham gia thực hiện GDNK.

Ngoài ra, việc ban hành bộ tài liệu hướng dẫn về quy trình, cách thức, bao gồm các tiêu chí và công cụ sàng lọc tài năng cũng giữ vai trò quan trọng trong việc chuẩn hóa ở mức tối thiểu việc triển khai GDNK. Trong bối cảnh Việt Nam, trước những chỉ trích liên quan tới công bằng và bình đẳng, càng cần có các hướng dẫn kỹ thuật để giảm thiểu tác động của các yếu tố xã hội, chẳng hạn như việc luyện thi chuyên, đối với việc lựa chọn học sinh hệ chuyên. Việc thiết kế các bài thi sàng lọc đầu vào cần tham vấn các chuyên gia về khảo thí để có được các công cụ tốt.

Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy chuyên

Giáo viên dạy khối tài năng hoặc chuyên cần có những kỹ năng đặc biệt, tương tự như giáo viên làm việc với trẻ khuyết tật, để có thể hỗ trợ trẻ phát huy năng lực bẩm sinh một cách tốt nhất và phát triển năng lực cao nhất để đạt được các thành tích xuất sắc và trở thành nhân tài. Việc tổ chức, quản lý, quản trị trong nhà trường giúp cho giáo viên có thể thực hiện được các nhiệm vụ này. Do vậy, không chỉ giáo viên, mà cả đội ngũ quản lý trường học cũng cần được trang bị các kỹ năng và hiểu biết cần thiết. Việc nâng cao năng lực không chỉ tập trung vào việc bồi dưỡng thường xuyên cho đội ngũ nhân sự hiện có mà còn phải được thực hiện từ gốc: phát triển chuyên ngành đào tạo giáo dục năng khiếu/ tài năng ở các trường sư phạm với các yêu cầu đầu vào cao để lựa chọn được sinh viên giỏi cho chương trình.

Chỉnh sửa chương trình chuyên/ tài năng

Về nguyên tắc, rõ ràng chương trình đào tạo phải có tất cả những gì học sinh năng khiếu cần; trên thực tế, để hiểu được chính xác nhu cầu của nhóm học sinh này đòi hỏi phải thực hiện nghiên cứu với nhiều phương pháp khác nhau. Chẳng hạn theo nghiên cứu của NAGC trẻ có năng khiếu không chỉ cần các nội dung học thuật, mà còn cần được hỗ trợ để phát triển năng lực tâm lý xã hội, như khả năng tự hiểu bản thân, tương tác và giao tiếp, kiểm soát bản thân, ra quyết định, cùng như các kỹ năng tâm lý xã hội quan trọng để phát triển tài năng. Có đề xuất rằng cần phải có chương trình giáo dục quản lý cảm xúc cho nhóm trẻ này.
***
Việc có triển khai GDNK hay không và triển khai như thế nào đôi khi là sự đầu tư của chính phủ vì mục tiêu phát triển đất nước hơn là sự lựa chọn của người dân. Bất kể là gì, lợi ích của người học luôn luôn phải được đặt lên hàng đầu. Việc chú ý tới các nhóm học sinh khác nhau và đem đến cho họ trải nghiệm học tập phù hợp với nhu cầu không chỉ là vấn đề thuần túy giáo dục hay khoa học mà còn thuộc phạm trù đạo đức.

Mặt khác, những bất cập hay chỉ trích đối với GDNK mà chúng ta quen gọi là hệ chuyên đều cần được xem xét, nghiên cứu, đánh giá thận trọng. Các công cụ kỹ thuật có thể giúp xử lý ổn thỏa các vấn đề này. Điều quan trọng, cơ quan quản lý cũng như giới chuyên môn cần thẳng thắn nhìn nhận, phản biện tích cực bằng các nghiên cứu về giáo dục, và sẵn sàng điều chỉnh những gì đã thành thông lệ, thói quen, kinh nghiệm.□

Tài liệu tham khảo
Brown, S. W., Renzulli, J. S., Gubbins, E. J., Siegle, D., Zhang, W., & Chen, C.-H. (2005). Assumptions Underlying the Identification of Gifted and Talented Students. Gifted Child Quarterly, 49(1), 68–79. https://doi.org/10.1177/001698620504900107
Gagné, F. (1985). Giftedness and talent: Reexamining a reexamination of the definitions. Gifted Child Quarterly, 29, 103-112
Gagné, F. (2005). From gifts to talents: The DMGT as a developmental model. In R. J. Sternberg & J. E. Davidson (Eds.), Conceptions of giftedness (2nd ed., pp. 98–120). New York: Cambridge University Press
Freedman, L. (2010). How England treats its gifted children. Financial Times.
Kaufman, S., & Sternberg, R. (2007). Giftedness in the Euro-American Culture. In S. N. Phillipson & M. McCann (Eds.), Conceptions of Giftedness (pp. 373-407). New York: Routledge.
Larsson, Y. (1986). Governmental Policies on the Education of Gifted and Talented Children: A World    View. Educational Studies in Mathematics, 17(3), 213–219. http://www.jstor.org/stable/3482225
National Association for Gifted Children (NAGC). (2018). What is giftedness? Available at: https://www.nagc.org/resources-publications/resources/what-giftedness
National Association for Gifted Children (NAGC). (2019). National Standards in Gifted and Talented Education. Retrieved from https://www.nagc.org/resources-publications/resources/national-standards-gifted-and-talented-education.   https://www.nagc.org/resources-publications/resources/national-standards-gifted-and-talented-education
Richardson, H. (2016). Grammar schools: What are they and why are they controversial? BBC News.
Rinn, A. N., Mun, R. U., & Hodges, J. (2020). 2018-2019 State of the States in Gifted Education. Retrieved from https://www.nagc.org/2018-2019-state-states-gifted-education
Rawls, J. (1971). A theory of justice. Belknap Press/Harvard University Press
Renzulli, J. (2021). The Major Goals of Gifted Education And Talent Development Programs. Academia Letters, Article 2585. https://doi.org/10.20935/AL2585.
Stanley, J. C. (2000). Helping students learn only what they don’t already know. Psychology, Public Policy, and Law, 6(1), 216–222.
Sternberg, R. J. (2003). Wisdom, intelligence, and creativity, synthesized. New York: Cambridge University Press.
Stevenson, H. W., Lee, S.-Y., & Chen, C. (1994). Education of Gifted and Talented Students in Mainland China, Taiwan, and Japan. Journal for the Education of the Gifted, 17(2), 104-130.
Tirri, K., & Laine, S. (2017). Ethical Challenges in Inclusive Education: The Case of Gifted Students. In Ethics, Equity, and Inclusive Education (Vol. 9, pp. 239-257): Emerald Publishing Limited.
Zhang, Z. (2017). Gifted education in China. Cogent Education, 4(1), 1364881. doi:10.1080/2331186X.2017.136488

Đàn Nguyệt – Đàn Việt

 

Đàn Việt chỉ có hai dây nên thuận cho việc chơi bằng kỹ thuật nhấn nhá, luyến láy, vê, rung để diễn cảm được đúng tiếng lòng của người Việt, tâm hồn Việt.


Tranh của họa sĩ Lê Thiết Cương.

Khi giới thiệu về sắc, tài của Kiều, Nguyễn Du tả:

“Cung, thương, làu bậc ngũ âm

Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương”

Hiểu là Kiều vừa có tài sáng tác nhạc mà lại còn chơi đàn giỏi. Tất nhiên cũng hiểu thêm “nghề riêng” chính là phong cách, là khác biệt nữa. Nguyễn Du dùng chữ “nghề riêng” là cực khen tiếng đàn của Kiều nói chung chứ chưa chắc là cụ Nguyễn Du bảo Kiều chỉ biết chơi mỗi tỳ bà giỏi. Còn “hồ cầm” là đàn tỳ bà hoặc đàn nhị trầm, trùng tên nhưng tỳ bà thì bốn dây, nhị hồ chỉ có hai dây.

Cho nên ai vẽ Kiều chơi tỳ bà cũng hay. Nhưng tôi thích vẽ Kiều chơi đàn nguyệt. Tỳ bà và nguyệt đều là hai trong những nhạc cụ quen thuộc của người Việt. Ví dụ dàn nhạc ở chân tảng, chùa Phật Tích, Bắc Ninh, thế kỷ X. Các nhân vật vừa hát múa vừa sử dụng nhạc cụ: gõ sênh phách, đánh trống, kéo nhị, thổi sáo, gảy đàn tranh, đàn tỳ bà, đàn nguyệt. Riêng nhạc công đàn nguyệt bấm phím bằng bàn tay phải, gảy bằng tay trái, chắc do thuận tay trái? Hoặc các mảng chạm khắc gỗ trên cốn, ván nong ở chùa Thái Lạc, Hưng Yên, thế kỷ XIII cũng có cảnh tiên nữ chơi đàn tranh, tỳ bà và nguyệt. Đặc biệt là bức tranh sơn mài ở đình Lỗ Hạnh, Hiệp Hòa, Bắc Giang dựng năm 1576 vẽ cảnh tám cô tiên, mỗi người một nhạc cụ, đứng trên mây, trong đó có một cô chơi đàn nguyệt (cần dài, hai dây). Hoặc đồ án trang trí đường diềm tám món đồ quý của hoành phi câu đối sơn son thếp vàng, ngoài thanh kiếm, cây bút … thì có tỳ bà, có khi là sáo trúc. Đó là biểu tượng cho âm nhạc thôi, chứ không phải chỉ có tỳ bà và sáo trúc mới quý. 

Lần đầu Kiều chơi đàn ấy là buổi tối Kiều “xăm xăm băng lối” sang nhà Kim Trọng, Kim bảo nghe nói Kiều đàn rất hay và muốn Kiều chơi tặng mình một bản, Kiều nhận lời, Kim đưa đàn cho Kiều:

“Hiên sau treo sẵn cầm trăng

Vội vàng sinh đã tay nâng ngang mày”


Ảnh: TTXVN.

Cầm trăng là đàn trăng, đàn nguyệt, đàn trăng rằm, gợi ý tạo hình đẹp! Có đường cong, đường thẳng, có mảng, có nét (bầu đàn, cần đàn).

Khi Kiều buộc phải “bán mình chuộc cha”, mụ mối ép Kiều chơi đàn cho Mã Giám Sinh:

“Ép cung cầm nguyệt thử bài quạt thơ”

Đấy là lần thứ hai, đàn nguyệt được nhắc đến.

Đàn nguyệt của Trung Quốc có bốn dây, tám đến mười phím và cần đàn ngắn. Khi vào Việt Nam, nguyệt thành đàn tứ. Còn đàn nguyệt của Việt Nam cũng vẫn có từng ấy phím, nhưng chỉ có hai dây và cần đàn dài, dài gấp đôi cần đàn nguyệt Trung Quốc. Đàn nguyệt Việt Nam là một nhạc cụ khác hẳn. Chính vì là một nhạc cụ khác, nên ngay từ hồi thế kỷ XVI, khi những người Minh Hương lưu lạc sang Việt Nam cho đến hôm nay, con cháu họ vẫn chỉ chơi đàn nguyệt của họ, đàn nguyệt cần ngắn, chắc đó là gene? Hơn năm trăm năm rồi chứ ít ỏi gì. Đặc biệt là các cây đàn nguyệt từ thời Lý, Trần, Lê vừa nêu trên đều đã là cây đàn nguyệt của Việt Nam: cần dài, đàn nguyệt – đàn Việt. Có lẽ cần đàn dài thì khoảng cách giữa các phím, nhất là các phím phía trên xa nhau, phím lại cao so với cần, cũng khác với đàn nguyệt Trung Quốc, phím thấp. Mà đàn Việt chỉ có hai dây nên thuận cho việc chơi bằng kỹ thuật nhấn nhá, luyến láy, vê, rung để diễn cảm được đúng tiếng lòng của người Việt, tâm hồn Việt, diễn cảm được thanh điệu của lời ăn tiếng nói Việt vốn đã có sẵn giai điệu trầm bổng ngân nga của huyền sắc hỏi ngã nặng, của thanh không (không dấu). Đó là tiếng của phóng khoáng, tự do, ngẫu hứng, “tiếng” của người Việt. Nghệ thuật nào mà chả là nghệ thuật người. Chả thế mà đàn nguyệt là nhạc cụ chính trong các loại hình âm nhạc cổ truyền từ Bắc xuôi Nam: Chèo, Bát âm, Ca Huế, Cải lương, Đờn ca tài tử. Nhất là hát văn, chỉ duy nhất có đàn nguyệt. Mà hát văn (chầu văn) thì gắn liền với nghi thức hầu đồng của tín ngưỡng thờ Tứ phủ, tín ngưỡng Đạo Mẫu, đạo của người Việt. 

Nhã nhac Cung Đình Huế Việt Nam là niềm tự hào của người dân xứ Huế nói riêng và con người Việt Nam

 Ngây ngất trong những giai điệu Nhã Nhạc cung đình Huế


Luyến Nguyễn 


Cố Đô Huế không chỉ nổi tiếng với những danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử độc đáo mà còn là nơi hội tụ những tinh hoa nghệ thuật của nước ta. Phải kể đến nghệ thuật biểu diễn Cung Đình Huế là một trong những đặc sắc của văn hóa cố đô. Chính vì thế mà Huế ngày càng thu hút du khách trong nước và quốc tế với di sản văn hóa được UNESCO công nhận – Nhã nhạc Cung đình Huế được ghi danh là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại (2003).



Nhã nhạc Cung đình Huế (Ảnh sưu tầm) 


Nhã Nhạc hay còn gọi là Âm nhạc cung đình được hình thành, đúc kết và ngày càng phát triển đạt đỉnh cao. Đây được xem là loại hình âm nhạc quốc nhạc, kết hợp giữa Lễ và Nhạc, được sử dụng trong các cuộc tế lễ Giao, tế Miếu và trong các dịp triều hội của triều đình. Nhã nhạc cung đình Huế được hình thành, đúc kết và ngày càng phát triển đạt đỉnh cao.


Nhã nhạc cung đình Huế được hình thành, đúc kết và ngày càng phát triển đạt đỉnh cao (Ảnh sưu tầm) 


Nhã nhạc cung đình Huế được kế thừa và tiếp tục phát huy phục vụ cho các triều đại phong kiến qua từng giai đoạn lịch sử. Nhã Nhạc ra đời vào triều Lý và đến thời kỳ nhà Lê được hoạt động quy củ mang tính chính thống, được tổ chức chặt chẽ và chịu sự cai quản của các nhạc quan trong triều. Triều Lê đã định ra các loại như sau: Giao nhạc, Miếu Nhạc, Nhũ tự nhạc, Cửu nhật nguyệt,..



(Ảnh sưu tầm) 

Triều đình Nguyễn quy định 7 thể loại âm nhạc gần giống với các thể loại của triều Lê bao gồm: Giao nhạc, Miếu nhạc, Ngũ tự nhạc, Đài triều nhạc.Thời nhà Nguyễn, Nhã Nhạc được dùng trong các lễ tế đại triều 2 lần/tháng, thường triều 4 lần/tháng. Hệ thống nhạc  bài bản, phong phú với hàng trăm nhạc chương bằng chữ Hán đều do Bộ Lễ biên soạn, đúc kết từ các thời kỳ trước và bổ sung thêm nhiều loại thể nhạc như Huyền nhạc, Ty trúc tế nhạc, Ty chung, Ty khánh,.. phù hợp với từng cuộc lễ của triều đình nhà Nguyễn khiến du khách khi tới cố đô Huế càng tò mò muốn được thưởng thức hình thức nghệ thuật này.



Âm nhạc cung đình Huế là sự tổng hợp phong phú về nhiều mặt (Ảnh sưu tầm) 


Về tổ chức nhã nhạc thời Nguyễn gồm có: 1 cái trống bản, 1 cái phách, 2 cái sáo, 1 đàn huyền tử, 1 đàn nhị, 1 đàn tì bà, 1 chùm thanh la bằng đồng 3 chiếc. Nhã nhạc Cung Đình Huế kết hợp với múa cung đình. Ở triều Nguyễn, múa cung đình rất phong phú như: long, ly, quy, phượng, múa đèn, múa quạt. Những cô nàng uyển chuyển, nhịp nhàng trong từng điệu múa thể hiện rõ bản sắc văn hóa đậm đà Việt Nam khiến cho du khách có những giây phút thiêng liêng thưởng thức âm nhạc mà không có một tiết mục nghệ thuật nào có thể sánh bằng.



Những cô nàng uyển chuyển, nhịp nhàng trong từng điệu múa (Ảnh sưu tầm) 


Suốt một chiều dài lịch sử kế thừa và phát triển, Nhã nhạc cung đình Huế mang một ý nghĩa  to lớn về mặt lịch sử cũng như giá trị văn hóa. Âm nhạc đã trở thành một phần không thể thiếu trong các lễ hội lớn mang tới sự giao cảm giữa thần linh, tổ tiên với con người. Đó thực sự là giá trị văn hóa dân tộc Việt Nam trường tồn mãi theo thời gian, thu hút du khách trong nước và quốc tế khi ghé tới thưởng thức nhã nhạc cung đình Huế.



Nhã nhạc cung đình Huế mang một ý nghĩa  to lớn về mặt lịch sử cũng như giá trị văn hóa (Ảnh sưu tầm) 

Cho tới ngày này, Âm nhac cung đình Huế là sự hội nhập giữa văn hóa dân tộc Viêt Nam với bạn bè quốc tê.  Âm nhạc cung đình Huế là sự tổng hợp phong phú về nhiều mặt: loại hình nghệ thuật, thể loại, chủng nhạc, nhạc khí và cơ cấu tổ chức dàn nhạc để rồi du khách đến với âm nhạc cung đình Huế sẽ được thưởng thức nhiều màn trình diễn khác nhau.



Nhà hát cổ Duyệt Thị Đường (Ảnh sưu tầm) 


Huế đang ngày càng phát triển đưa vào hoạt động những chương trình biểu diễn nghệ thuật Cung Đình Huế nhằm thu hút du khách trong nước và quốc tế, để lại dấu ấn không bao giờ phai cho du khách ngay từ những ngày đầu tới cố đô Huế. Vì thế mà nếu có dịp ghé thăm Huế, du khách hãy ghé tới nhà hát cổ Duyệt Thị Đường. Đây là nơi biểu diễn phục vụ cho du khách tham quan, thưởng thức những buổi biểu diễn nghệ thuật độc đáo được tổ chức hai lần trongngày: Buổi sáng từ 10h00 – 10h40, buổi chiều từ 15h00 – 15h40 chắc chắn sẽ không khiến du khách thất vọng.



Thật tuyệt vời nếu du khách dành một một buổi tối thưởng thức các tiết mục đặc sắc (Ảnh sưu tầm) 


Âm nhạc cung đình Huế được tổ chức và dàn dựng công phu gốm nhiều tiết mục với nhiều loại nhạc cụ khác nhau. Du khách như được sống lại trong không gian cổ kính, tráng lệ, uy nghi nơi chốn Hoàng Cung.Thật tuyệt vời nếu du khách dành một một buổi tối lãng mạn, thơ mộng thưởng thức các tiết mục đặc sắc tại đây sẽ là kỉ niệm không bao giờ quên cho chuyến du lịch của bạn.



Nhã nhac Cung Đình Huế Việt Nam  là niềm tự hào của người dân xứ Huế nói riêng và con người Việt Nam nói chung (Ảnh sưu tầm) 

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Blogger Templates