SƯU TẬP NHỮNG KIẾN THỨC CẦN THIẾT CHO GIÁO VIÊN ÂM NHẠC VIỆT NAM THỜI 4.0

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

Thứ Năm, 2 tháng 6, 2022

Bùi Giáng, nhà thơ của các nhà thơ

 


Bùi Giáng, cũng như các thi sĩ thiên tài, đều vượt quá mọi đóng khung. Tuy nhiên, nhà phê bình, vốn là một động vật thích phân loại, nên, một mặt để thỏa mãn mình, mặt khác để hiểu thi nhân, ít nhất là trên đại thể, thì có thể tiếp cận ông từ cạnh khía kiểu nhà thơ. 

Bùi Giáng, tôi nghĩ là một thi sĩ – triết gia, một nhà thơ đồng thời là một nhà triết học. Thi sĩ – triết gia, khác với triết gia – thi sĩ, tồn tại trước hết với tư cách nhà thơ, sau đó mới đến nhà triết học. Kiểu nhà thơ này không phải đến Bùi Giáng mới có, mà từng tồn tại trong văn đàn thế giới như Goethe, Hoelderlin, Braudel, Tchutchev…, hay Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Du, Tản Đà… ở Việt Nam.

Tiếp tục truyền thống thi sĩ – triết gia này, Bùi Giáng đã nâng tầm vóc của nó, ít nhất trong trường hợp Việt Nam, lên cao thêm một bước. Việt Nam vốn không phát triển lắm về triết học. Các tư tưởng triết lý, vì thế, phần lớn có nguồn gốc từ các nền văn hóa lớn bên ngoài. Việc tiếp nhận chúng thường theo nguyên tắc tương ứng chứ không phải đồng thời, như trường hợp Tản Đà đầu thế kỷ XX tiếp thu tư tưởng của các nhà triết học Ánh Sáng thế kỷ XVIII. Các thi sĩ – triết gia của Việt Nam, vì thế, xét trên cạnh khía thời đại, thường lỗi thời ít nhất một nhịp. Điều này hẳn ít nhiều ảnh hưởng đến tầm vóc và, do đó, tư thế đối thoại với thế giới.

Bùi Giáng, ngược lại, tiếp thu chủ nghĩa hiện sinh của J-P.Sartre, A.Camus, K.Jaspers… một cách trực tiếp và đồng thời, khi nó còn đang sống động và đang phát triển. Rồi từ triết học hiện sinh đi đến hiện tượng luận, sau đó hiện tượng luận hiện sinh của Heidegger. Bùi Giáng, chủ yếu, đi đến với triết học Heidegger bằng trải nghiệm riêng của mình. Từ cảm nghiệm vong thân đến với tự do, Bùi Giáng không hiểu triết học như một thầy giáo, mà sống triết học như một bậc thầy. Bởi thế, ông có đầy đủ tư cách triết gia, để phê phán Sartre trong Heidegger Và Tư Tưởng Hiện Đại, trao đổi thư từ học thuật với chính Heidegger và nhà thơ René Char. Quả thật, lần đầu tiên trong lịch sử văn học Việt Nam có một nhà thơ Việt Nam sống cùng nhịp với các trào lưu tư tưởng lớn của thế giới đương đại.

Trước đây, trong thời tiền hiện đại/hiện đại, vẫn thấy những trường hợp thi sĩ và triết gia tuy có chỗ trùng, nhưng rốt cục, vẫn là hai con người riêng biệt. Như một sự phân thân. Còn ở Bùi Giáng thì cuộc đời, thơ ca và triết học là một, là một thứ tam diện nhất thể, đúng hơn tam vị nhất thể. Như con khỉ Mỹ Hầu Vương trở thành Tôn Ngộ Không sau khi ra khỏi lò bát quái của Thái Thượng Lão Quân, Bùi Giáng trở thành Bùi Giáng, một thi sĩ – triết gia, sau khi đã chưng cất được một hợp chất từ ba yếu tố cuộc đời – thi ca – triết học trong “nồi hầm” văn hóa thời đại có nhiệt độ cao và áp xuất lớn. Hơn nữa, ở thời hậu hiện đại, thi sỹ và/là triết gia cùng đưa ra những diễn ngôn mới, đúng hơn, diễn ngôn về diễn ngôn, không hề chịu một quy định trước nào, cũng không có tham vọng trở thành phổ quát, chỉ khát khao tỏ lộ cá tính riêng thuộc của mình. Hay, nói khác đi, cuộc đời của Bùi Giáng thi sĩ và tư tưởng gia, tuy là nhiều, nhưng đều dẫn đến một đích nhắm là tìm gặp cái Uyên Nguyên, cái Bản Nguyên trong thế giới vạn vật. Heidegger thường tụng ca thi gia và tư tưởng gia, những kẻ canh giữ ngàn đời cho ngôi nhà của tồn tại như/là/qua/bằng/bởi ngôn ngữ. Thế nên, Bùi Giáng, xuất nhập cả trong thân phận thi gia lẫn tư tưởng gia, chẳng qua cũng chỉ là những cách thế tuy khác nhau, nhưng đều dẫn trở về ngôi nhà của tồn tại. 

Bùi Giáng trở thành Bùi Giáng, một thi sĩ – triết gia, sau khi đã chưng cất được một hợp chất từ ba yếu tố cuộc đời – thi ca – triết học trong “nồi hầm” văn hóa thời đại có nhiệt độ cao và áp xuất lớn… Cuộc đời của Bùi Giáng thi sĩ và tư tưởng gia, tuy là nhiều, nhưng đều dẫn đến một đích nhắm là tìm gặp cái Uyên Nguyên, cái Bản Nguyên trong thế giới vạn vật.

Hợp chất của cái “nồi hầm” siêu tổng cộng các yếu tố văn hóa thời đại đó chính là cái mà Bùi Giáng gọi là tư tưởng hiện đại. Tư tưởng hiện đại, theo Bùi Giáng, trước hết là tư tưởng đương đại, mà trong thời đại của ông là hiện tượng học hiện sinh và, sau đó, là toàn bộ những điểm khả thủ của tư tưởng nhân loại không phân biệt đông tây kim cổ được nhìn từ tư tưởng đương đại. Bùi Giáng gọi động thái này là “trùng phục thu hồi”, một kiểu tiếp thu sáng tạo như ngày nay thường nói. Tư tưởng hiện đại, bởi thế, luôn là sự giao thoa giữa cái đương đại và cái đã qua, đưa cái đã qua trở thành đương đại. Nội dung của tư tưởng hiện đại của mỗi thời có thể mỗi khác, tùy theo sự thông diễn của người đương thời, nhưng cái gọi là tư tưởng hiện đại thì như một hằng số thời nào cũng có. Đó chính là sự “thiết lập Vĩnh Thể trên dòng Tồn Lưu” của Bùi Giáng.

Tư tưởng hiện đại của thời đại Bùi Giáng chính là hiện tượng học thông diễn mà thi nhân gọi là giải minh hay minh giải học. Sống, làm nghệ thuật cũng như làm học thuật, trước hết là phải thông (thông diễn, thông giao, tương thông, liên thông) đã, tức thâm nhập vào đối tượng, trở thành đối tượng, biến đối tượng thành một chủ thể, sau đó phải diễn (diễn giải, diễn dịch, diễn giảng, quảng diễn), tức trình bày cái thông của mình cho người khác. Thông diễn, như vậy, là một quá trình tham dự của một chủ thể vào một đối tượng để biến đối tượng đó thành một chủ thể mới, không chỉ với người khác mà cả với chính chủ thể trước. Thông diễn học, vì thế, là một khoa học chủ quan, hay nói khác vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật. Nó có khả năng biến một sự kiện (khách quan) thành một chân lý (chủ quan), bởi như Kierkegaard nói: chân lý là chủ quan. Với tư cách là trí tuệ cảm xúc, thông diễn học là phương thức nhận thức chủ yếu, phù hợp với cái nhìn thực tại mới của con người trong xã hội hậu công nghiệp, tin học và công nghệ cao.

Thơ Bùi Giáng thể hiện một cái nhìn thông diễn học rất rõ. Sự vật và con người trong thơ ông không bao giờ là tự thân, tự đầy đủ, mà luôn trong trạng thái đương – là, không hoàn kết, luôn ở thế tương giao, đối thoại với người đọc. Điều này đã được đề cập đến ở phần trước, khi nói về trò chơi ngôn ngữ, và còn đặc biệt rõ hơn trong các công trình nghiên cứu của Bùi Giáng, như Heidegger Và Tư Tưởng Hiện Đại, Con Đường Ngã Ba, Thi Ca Tư Tưởng, Đường Đi Trong Rừng… đầy những trích dẫn, vận dụng rất nhiều tri thức đông tây kim cổ từ các triết gia Hy Lạp cổ đại đến Khổng Tử, Lão Tử, Trang Tử, Đức Phật, các nhà văn, các nhân vật tiểu thuyết, thậm chí đến người thật như Kim Cương, Monroe, Phùng Khánh… Điều này cũng thể hiện rất rõ trong các tác phẩm biên dịch như Lời Cố Quận, Lễ Hội Tháng Ba của Heidegger, Mùi Hương Xuân Sắc dịch Heidegger, Nerval và Camus… Bùi Giáng sử dụng lối dịch – thông diễn. Kể cả khi dịch một tác phẩm văn chương, ông cũng dịch với một tinh thần đồng điệu, chứ không dịch câu chữ. Nhờ sự trái thói này, mà chúng ta có được những tuyệt phẩm dịch thuật như Hoàng Tử Bé và Cõi Người Ta. Tuy vậy, cách làm phá cách, không chịu tuân theo lề lối, đúng hơn là theo một thứ lề – lối – phi – lề – lối của tương lai, đã làm nhiều người không chịu nổi, nhất là những nhà nghiên cứu trường trại, hoặc những người có đầu óc chuồng trại.

Bùi Giáng vẫn nhận ra sự nghiêng lệch giữa mình và thế giới, và vì thế mà muốn co vào cái điên của mình như một vỏ bọc, để mình được là mình… Ông còn sáng tạo ra cả thứ ngôn ngữ của người điên, mà, theo ông, ngôn ngữ què quặt của người tỉnh khó mà hiểu được nó, nhất là ngôn ngữ của người điên có nghề nghiệp.

Một trong những cách sống thể hiện sự nhất quán của thi cách và nhân cách Bùi Giáng đó là bệnh điên của thi nhân. Đành rằng xưa nay thiên tài và điên là chị em ruột. Nhưng cái điên của Van Gogh, của Dostoievski thì ai cũng nhận ra đó là bệnh. Chỉ có trường hợp Bùi Giáng thì mới có chuyện một điên mười ngờ. Bởi thế, tôi tạm gọi đó là điên – Bùi – Giáng. Người ta đã, và hẳn còn sẽ, tốn nhiều giấy mực để bàn về chuyện Bùi Giáng có điên thật hay không. Tạm gác sang bên vấn đề bất khả giải này, hay có giải được cũng có thể chẳng chứng tỏ dược nhiều điều, thì có thể thấy, Bùi Giáng trước hết là người ngộ chữ, thậm chí còn ngộ chữ có nòi. Khác với những kẻ mọt sách thường là nô lệ cho chữ có sẵn, người ngộ chữ tuy cũng đam mê chữ thái quá, nhưng lại thích đùa nghịch chữ, làm mới chữ. Sự thái quá là không bình thường, bị coi như một thứ bệnh, bệnh điên. Mà sáng tạo, nhất là sáng tạo văn chương nghệ thuật, thì bao giờ cũng thái quá, cũng không bình thường, cũng điên rồ. Điên – Bùi – Giáng, bởi thế, có thể xếp vào loại điên – nghệ – sĩ, một thứ điên mà không điên, không điên mà điên.

Bùi Giáng, trước hết, rất ý thức về cái điên của mình. Đây là một điều mà ở người điên thuần bệnh lý không bao giờ có. Kể cả với người lúc tỉnh lúc điên, vì khi ở trạng thái này thì anh ta lại quên hẳn trạng thái kia. Người điên, vì thế, không biết là mình điên, tức hoàn toàn bị vô thức điều khiển, và sẽ khăng khăng phủ nhận nếu có ai đó bảo mình điên. Bùi Giáng, ngược lại, làm rất nhiều thơ về sự điên của mình, như “Người Điên Uống Rượu”, “Ông Điên”, “Thơ Điên”, “Quá Khứ Của Anh”… Thậm chí Bùi Giáng còn sáng tạo ra cả thứ ngôn ngữ của người điên, mà, theo ông, ngôn ngữ què quặt của người tỉnh khó mà hiểu được nó, nhất là ngôn ngữ của người điên có nghề nghiệp:

Người điên ngôn ngữ điệp trùng
Giở chừng như mộng giở chừng như mê
 
Thưa em ngôn ngữ quặt què
 
Làm sao nói được nghiệp nghề người điên
 
 (“Người Điên”)

Không những xác định cái điên của mình, mà Bùi Giáng còn dấn thân quyết liệt vào nghề nghiệp điên. Bởi lẽ, thi nhân tìm thấy ở điên niềm hạnh phúc. “Điên là hạnh phúc thần tiên ở đời”. Hạnh phúc là khi mình đồng nhất với mình. Điên là trạng thái trùng khít hoàn toàn giữa con người và bản thân hắn ta. Một sự trùng khít ở cấp độ bản năng, thực vật. Điên Bùi Giáng thì không hẳn là vậy. Ông vẫn nhận ra sự nghiêng lệch giữa mình và thế giới, và vì thế mà muốn co vào cái điên của mình như một vỏ bọc, để mình được là mình. Điên của Bùi Giáng, bởi vậy, chính là một thái độ sống, một cách tồn tại ở đời.

Nếu trước đây, Nguyễn Du mở ra thời kỳ trung đại cổ điển trong văn học Việt Nam, nâng nó lên ngang tầm khu vực Đông Á, còn Tản Đà vào những thập niên đầu thế kỷ XX đã mở đầu cho thời hiện đại, đưa văn học Việt Nam vào quỹ đạo thế giới, tuy có sự lệch thời gian, thì Bùi Giáng ở những mười năm cuối của cùng thế kỷ ấy đã đi đầu trong việc mở ra một thời đại mới cho văn học Việt Nam, văn học hậu hiện đại.

Như vậy, Bùi Giáng, ý thức hoặc vô thức, đón gặp sự điên của mình, để, một mặt vượt thoát khỏi mọi can thiệp của cái xã hội, vốn quyền uy và thực dụng, vào lối sống riêng của mình; mặt khác, bằng hành động điên rồ gửi sự minh triết đến cho mọi người, nhất là những con người bình thường. Hình ảnh Bùi Giáng ăn mặc lôi thôi lếch thếch, cổ đeo đầy ống bơ, giày dép, đứng ở ngã tư đường phố Sài Gòn, chỉ lối cho con người và xe cộ qua lại, gợi nhớ đến các nhà tiên tri cổ đại. Hoặc Bùi Giáng “nuôi” rất nhiều lợn đất, gà nhựa ở nhà và đi đâu ông cũng nhớ về cho chúng ăn. Và mỗi khi cho rằng loại gà lợn này đi chơi đâu xa, Bùi Giáng thường rải gạo dọc đường để cho chúng nhớ lối mà về nhà. Những cảnh tượng ấy, quả thực, cũng giống như một cuộc trưng bày nghệ thuật trình diễn hoặc sắp đặt giàu ý tưởng. Hay, đúng hơn, Bùi Giáng đang làm thơ. Một bài thơ bằng các vật liệu phi ngôn từ của loại thơ cụ thể.

Người điên cũng như người chứng ngộ đều cùng chung một cõi vô trí. Nhưng người điên thì ở bề dưới của trạng thái đó, còn kẻ chứng ngộ thì ở vùng trên. Di chuyển giữa hai đường biên đó, Bùi Giáng không bao giờ điên thật và cũng không bao giờ chứng ngộ, cảnh giới của thực tướng là vô tướng, chân ngã là vô ngã. Ông vẫn còn đặt một chân ở cuộc đời, vẫn đau khổ vì cuộc đời: “Anh đã định suốt thiên thu vạn kỷ/ Làm thằng điên rồ dại suốt thiên thâu/ Nhưng em ạ, dường như anh vô lý/ Lúc đoạn trường anh đứt ruột khổ đau”. Vì còn đau khổ nên ông vẫn cần ngôn ngữ, vẫn tin vào lời, dù lời của ông đã gần với không – lời, tư duy của ông đã gần với không – tư duy. Có lẽ, nhờ thế mà chúng ta có được một Bùi – Giáng – Tuyệt – Tự – Thi, một thứ thơ tuyệt vời ngôn ngữ (tự) và một nhà thơ không thể có người thứ hai nói dõi. Ông như một Bồ Tát không bước hẳn vào cõi vô ngôn, vô trí mà vẫn ở lại với Lời để cứu Lời.

Cuối cùng, như để lại một mật ngữ, trong Lời tựa cho cuốn Martin Heidegger Và Tư Tưởng Hiện Đại, Bùi Giáng viết về F.Nietzsche như là để nối cái điên của mình vào cái “đại điên” của những vĩ nhân trong lịch sử: “Cái dịu dàng như hươu non đành chực bóp chết lòng mình để rống to như thú dữ. Nhưng lập tức lời nguyền rủa bốn phía vang lên. Và Nietzsche đã điên. Trước Nietzsche mấy chục năm, Hoederlin cũng đã điên. Cùng với bao kẻ khác đã điên. Để ngày nay… Để ngày nay chúng ta tụ hội về đây xôn xao nêu câu hỏi: Cớ sao mà điên? Nêu một cái rất ngây thơ tròn trĩnh.”

Như vậy, với việc đưa ngôn ngữ trở về với sự vật, rồi lại coi sự vật, trật tự sự vật, tức cuộc đời, tức thực tại chỉ là các trò chơi ngôn ngữ, tức thống nhất vào ngôn ngữ cả sự biểu đạt thực tại lẫn thực tại được biểu đạt, Bùi Giáng đã vượt qua chủ nghĩa hiện đại, mở một cánh cửa vào hậu hiện đại, để hôm nay, càng lúc càng đông nhà thơ trẻ, với những kích thước tài năng và tầm vóc tư tưởng khác nhau, chen chân qua khung cửa hẹp ấy. Nếu trước đây, Nguyễn Du mở ra thời kỳ trung đại cổ điển trong văn học Việt Nam, nâng nó lên ngang tầm khu vực Đông Á, còn Tản Đà vào những thập niên đầu thế kỷ XX đã mở đầu cho thời hiện đại, đưa văn học Việt Nam vào quỹ đạo thế giới, tuy có sự lệch thời gian, thì Bùi Giáng ở những mười năm cuối của cùng thế kỷ ấy đã đi đầu trong việc mở ra một thời đại mới cho văn học Việt Nam, văn học hậu hiện đại. Có điều lần này, ít nhất với trường hợp Bùi Giáng, sự phát triển của văn học Việt Nam so với thế giới không còn là sự phát triển tương ứng nữa mà là đồng thời, tức nhịp bước cùng thế giới. Và quan trọng là sau ông đã rậm rịch những chân bước khác. Bởi thế, theo cái cách mà Heidegger gọi Hoederlin, tôi cũng muốn vinh danh Bùi Giáng, cũng như Nguyễn Du và Tản Đà trước đây, những thi nhân làm thay đổi hệ hình tư duy nghệ thuật thời đại, không phải là “nhà thơ giữa các nhà thơ, mà là nhà thơ củacác nhà thơ”. 

Heinrich Neuhaus – Độc nhất vô nhị trong lịch sử văn hóa piano Nga

 02/04/2022

Với tài năng biểu diễn và dạy học của mình, vị thế của Heinrich Neuhaus đối với trường phái biểu diễn piano của Nga là độc nhất vô nhị, không ai có thể thay thế được.


Heinrich Neuhaus. Nguồn: http://kishkurno.com

Khi nói đến cái tên Heinrich Neuhaus, chúng ta hình dung ra ngay một nhà sư phạm lỗi lạc, người đã sáng tạo ra một trường phái piano mà cuốn sách “Nghệ thuật chơi piano, những ghi chú của một giáo viên” của ông được xuất bản năm 1958 là một tài liệu quý giá, trở thành tác phẩm tiêu biểu trong lĩnh vực này. Thật khó có thể kể hết những học sinh tài năng từng theo học Neuhaus, nhưng chỉ cần hai cái tên tiêu biểu như Sviatoslav Richter, Emil Gilels đã đủ cho chúng ta thấy được người thầy giáo Neuhaus vĩ đại như thế nào. 

Nhưng nếu chỉ nhìn nhận Neuhaus dưới góc độ một nhà sư phạm thì hoàn toàn chưa đầy đủ. Bản thân ông cũng là một nghệ sĩ piano xuất sắc. Với phong cách biểu diễn lôi cuốn, hấp dẫn nhưng vô cùng tinh tế, đầy chất thơ, Neuhaus luôn nổi bật hơn những người cùng thời, vốn ưa chuộng lối chơi khoa trương kỹ thuật. Frédéric Chopin và Alexander Scriabin là những nhà soạn nhạc ưa thích của ông. Evgeny Kissin coi ông là một trong ba nghệ sĩ biểu diễn Chopin mà mình yêu thích nhất, bên cạnh Alfred Cortot và Arthur Rubinstein. 

Nghệ thuật biểu diễn của Neuhaus đã mở ra cho người nghe cảm nhận được những khả năng tuyệt vời mà cây đàn piano có thể mang lại. Neuhaus đã biến nó thành như một dàn nhạc, và chỉ huy nó như một nhạc trưởng đại tài. Kiến thức chuyên sâu về âm nhạc, thơ ca, văn học, nghệ thuật, những trải nghiệm cá nhân và trí tưởng tượng của Neuhaus, tất cả những điều này được thể hiện thông qua việc diễn giải các tác phẩm mà ông đã thực hiện. 

Những bước đi đầu tiên

Heinrich Neuhaus sinh ngày 12/4/1888 tại Elizavetgrad, Ukraine. Gustav, cha cậu là một người gốc Đức còn bà Olga, mẹ cậu là người gốc Ba Lan. Cả hai người đều là giáo viên dạy nhạc. Họ đã thành lập một trường nhạc duy nhất trong thị trấn. Em trai bà Olga, nhạc trưởng, nghệ sĩ piano Felix Blumenfeld là giáo sư tại nhạc viện Saint Petersburg còn Karol Szymanowski, người sau này trở thành nhà soạn nhạc nổi tiếng là anh họ của Heinrich. 

Mặc dù năng khiếu của Heinrich được bộc lộ rất sớm và được sống trong một gia đình âm nhạc nhưng thật kỳ lạ, cậu lại không được đào tạo về âm nhạc một cách có hệ thống. Sự phát triển nghệ thuật piano trong Heinrich diễn ra tự phát ở nhiều khía cạnh, tuân theo sự dẫn dắt của bản năng. Neuhaus nhớ lại: “Khi tôi khoảng tám hoặc chín tuổi, ban đầu chỉ một chút rồi sau đó tôi ngày càng hăng say chơi ngẫu hứng bên cây đàn piano. Đôi khi, gần như suốt cả ngày, tôi hoàn toàn bị ám ảnh, trước khi thức dậy, tôi đã có thể nghe thấy âm nhạc bên trong mình, âm nhạc của chính mình”. Theo dõi cách cha mẹ cậu dạy piano, Heinrich thấy họ luôn nhấn mạnh vào cái gọi là kỹ thuật của việc chơi đàn và cậu hoàn toàn ghét nó. Chính vì vậy, phương pháp đào tạo của Neuhaus sau này luôn chú trọng đến việc khơi gợi trí tuệ của học sinh và ông tránh đề cập nhiều đến khía cạnh kỹ thuật.

Khi lên 12 tuổi, Heinrich có buổi diễn đầu tiên của mình tại thị trấn. Năm 1906, cùng với chị gái Natalia, cũng là một nghệ sĩ piano đầy hứa hẹn, Heinrich tới Berlin để học piano. Theo lời khuyên của người cậu Blumenfeld, họ theo học với Leopold Godowsky, một trong số ít những người nổi bật nhất thời kỳ đó về biểu diễn và giảng dạy piano. Tuy nhiên, Heinrich chỉ theo học với Godowsky trong một khoảng thời gian ngắn với mười buổi học, sau đó bắt đầu  “những năm tháng lang thang”. Chỉ hơn 16 tuổi nhưng Heinrich đã sở hữu một khả năng biểu diễn piano tuyệt vời. Nghệ sĩ piano trẻ tuổi liên tục tổ chức các buổi biểu diễn tại Đức, Áo, Ý và Ba Lan, qua đó được công chúng và báo chí đón nhận nồng nhiệt. Các bài bình luận ghi nhận tầm vóc tài năng của anh và bày tỏ hy vọng rằng nghệ sĩ piano cuối cùng sẽ có một vị trí nổi bật trong thế giới âm nhạc. 


Một bộ CD gồm 5 đĩa do Heinrich Neuhaus chơi các tác phẩm của Mozart, Rachmaninoff, Beethoven, Chopin, Shostakovich, Scriabin, Schumann, Brahms… được phát hành vào năm 2018. Nguồn: melody.su/

Khi trao đổi về nghệ thuật trình tấu, Neuhaus nhớ lại: “Mất hàng tháng trời, tôi chơi những bài tập đơn giản nhất, với năm ngón tay, chỉ với một mục đích: điều chỉnh các ngón tay và bàn tay hoàn toàn phù hợp với quy luật của phím đàn thực hiện đến cùng nguyên tắc để chơi sao cho “hợp lý” nhất vì đàn piano đã là một bố trí hợp lý; tất nhiên, nhu cầu về âm thanh phải được đáp ứng tối đa (thính giác của tôi luôn tốt) và điều này có lẽ là giá trị nhất. Trước đó, trong nỗi ám ảnh, tôi chỉ cố gắng chiết xuất ra “thứ âm thanh đẹp nhất” từ cây đàn piano mà âm nhạc, theo nghĩa đen, đã bị khóa lại và chìa khóa được để dưới đáy rương và trong một thời gian dài đã không được lấy ra”. 

Bên cạnh việc biểu diễn và trau dồi nghệ thuật trình tấu piano, Heinrich còn nâng cao trình độ ngoại ngữ của mình. Ngoài tiếng Nga và Ukraine, anh còn có thể sử dụng thành thạo tiếng Đức, Pháp, Ý, Anh và Ba Lan.

Ban đầu, cha mẹ Heinrich theo chân con mình trong các chuyến biểu diễn nhưng sau đó ông bà quyết định quay trở về Elizavetgrad. Điều này khiến Heinrich trầm cảm trong một quãng thời gian. Sau đó, nghe lời cha mẹ, anh trở lại Berlin, theo học tại Hochschule der Musik với thầy giáo Heinrich Bart. Ngoài ra, Heinrich còn theo học sáng tác và lý thuyết âm nhạc. Phong cách dạy học của Bart hoàn toàn gắn chặt với tinh thần của trường phái Đức xưa cũ. Ông không chấp nhận những nhà soạn nhạc như Franz Liszt, Richard Wagner, Claude Debussy, Gustav Mahler, Richard Strauss hay Scriabin. Với Bart, âm nhạc thực sự đã kết thúc với Johannes Brahms và nghệ thuật trình diễn piano cũng kết thúc với Brahms. Ông hoàn toàn không coi trọng những bậc thầy biểu diễn đương thời như Ferruccio Busoni. Heinrich không thể chấp nhận điều này và đã bỏ về Ukraine. Cha mẹ anh không hài lòng khi thấy con trai mình chưa hoàn thành chương trình giáo dục âm nhạc và lại gửi anh đến Đại học Âm nhạc và Biểu diễn nghệ thuật Vienna, nơi Heinrich có dịp tái ngộ người thầy giáo cũ Godowsky. Heinrich đã tốt nghiệp tại đây vào năm 1914. Trong suốt cuộc đời mình, anh luôn nhớ về Godowsky với sự kính trọng lớn lao, miêu tả ông là một trong những nghệ sĩ piano vĩ đại thời kỳ hậu Nikolai Rubinstein.

Trở về nhà, cũng là giai đoạn cuộc Chiến tranh Thế giới Thứ nhất nổ ra, Neuhaus nhớ lại nỗi lo sợ của mình: “Sự kết hợp giữa tên của tôi với tấm bằng ở Vienna không báo trước điều gì tốt đẹp. Do đó, chúng tôi đã họp gia đình và đi đến quyết định rằng tôi cần lấy một tấm bằng tốt nghiệp của một nhạc viện Nga. Sau một số rắc rối, tôi đã đến Petrograd và vào mùa xuân năm 1915, tôi đã vượt qua tất cả những bài thi ở nhạc viện và nhận được tấm bằng tốt nghiệp cùng danh hiệu “nghệ sĩ tự do”. Một buổi sáng đẹp trời, cậu Blumenfeld của tôi nhận được một cú điện thoại từ ông Nikolaev giám đốc chi nhánh Tiflis (Tbilisi ngày nay) của Hiệp hội âm nhạc Nga. Ông ấy mời tôi đến dạy tại đó vào mùa thu. Không cần nghĩ ngợi, tôi ngay lập tức đồng ý. Vì thế, tháng 10/1916, lần đầu tiên tôi hoàn toàn “chính thức” làm việc tại một cơ sở nhà nước trên con đường của một giáo viên âm nhạc và nghệ sĩ piano”. 

Trình độ học sinh tại Tiflis rất kém và như Neuhaus nhớ lại, công việc của ông tại đây giống như “lao động khổ sai”. Tuy nhiên, bù lại, đây là một thành phố xinh đẹp, con người thân thiện. Neuhaus đã kết giao được với nhiều bạn bè tốt. Ông cũng thường xuyên tổ chức các buổi hòa nhạc tại đây, danh mục biểu diễn của Neuhaus trải dài từ Johann Sebastian Bach cho đến những nhà soạn nhạc đương thời như Sergei Prokofiev hay Scriabin. Điểm thu hút trong trình độ biểu diễn piano của Neuhaus không phải là kỹ thuật điêu luyện mà là khả năng sử dụng sự phong phú bảng màu âm thanh của đàn piano, trí tưởng tượng đáng kinh ngạc và cách ông luôn tìm thấy ý nghĩa nghệ thuật thực sự của mỗi tác phẩm. Ông đã tạo ra một cảm giác rằng, âm thanh không đến từ tiếng búa đập vào dây đàn mà xuất hiện từ không trung.

Tháng 10/1919, Neuhaus chuyển đến giảng dạy tại nhạc viện Kiev cùng với Blumenfeld. Ông vẫn đều đặn tổ chức các chương trình hòa nhạc của mình tại đây và giành được sự mến mộ của đông đảo khán giả. Neuhaus gắn bó với Kiev cho đến tháng 10/1922. Tại đây, ông đã kết bạn với Vladimir Horowitz. Và ông cùng với Blumenfeld, theo yêu cầu từ phía chính quyền, đã lên đường đến Moscow, đảm nhiệm công việc giảng dạy tại nhạc viện. 

Tạo dựng trường phái piano Neuhaus

Chặng đường mới và quan trọng nhất của Neuhaus đã bắt đầu. Đây là trạm dừng chân cuối cùng trong con đường nghệ thuật của ông. Và cũng tại đây, một trường phái piano mang tên Neuhaus đã dần được hình thành, góp phần tạo nên rất nhiều những tên tuổi nghệ sĩ lớn, làm rạng danh cho nền nghệ thuật piano Xô viết. Trong suốt 42 năm, cho đến khi ông qua đời, chỉ trừ những ngày tháng khốc liệt nhất của cuộc Chiến tranh Thế giới Thứ hai, vì một sự cố ngoài ý muốn, hoạt động giảng dạy của ông tại nhạc viện mới phải đình chỉ. Đã có một bài báo năm 1937 nhận xét về Neuhaus: “Có những con người mà nghề nghiệp hoàn toàn không thể tách rời khỏi cuộc sống của họ. Đây là những người đam mê công việc, những người hoạt động sáng tạo sôi nổi và con đường sống của họ là không ngừng sáng tạo cháy bỏng. Heinrich Neuhaus chính là một con người như vậy”.


Hai người học trò xuất sắc của ông là Emil Gilels (trái) và Sviatoslav Richter. 

Phương pháp giảng dạy của Neuhaus hoàn toàn khác với những giảng viên khác. Luôn luôn có khán giả tại các buổi học của ông: sinh viên của các chuyên ngành khác nhau liên tục tham dự, đôi khi cả ngày, để nghe và xem cách ông giảng dạy. Neuhaus rất yêu thích và khuyến khích sự hiện diện của mọi người trong các giờ học của mình. Càng nhiều người có mặt, ông càng được truyền cảm hứng. Ông là một người nghệ sĩ đích thực. Neuhaus mong học sinh thực sự hiểu ngôn ngữ của tác phẩm âm nhạc. Ông muốn họ cố gắng có được tầm nhìn đầy đủ về logic và cấu trúc của tác phẩm, hòa thanh cơ bản của chúng, bởi vì đó là bản chất của âm nhạc. Ông cũng đặc biệt chú ý đến âm thanh và sự cân bằng. Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là hầu hết tất cả những người mà Neuhaus nhận vào lớp của mình đều được lựa chọn rất kỹ lưỡng. 

Trong quá trình giảng dạy của mình, Neuhaus không tuân theo bất kỳ nguyên tắc giáo điều nào. Chủ đề chính của ông là quá trình giáo dục nghệ thuật và ảnh hưởng cá nhân lên phương pháp sư phạm đối với học sinh. Sự ảnh hưởng này bao gồm những nhận xét thực tế khác nhau, thể hiện trên cây đàn piano những sắc thái tốt nhất của âm thanh, cách phát âm, nhịp điệu, cường độ, cuối cùng từ đó đưa ra cách giải thích nghệ thuật hoàn chỉnh về một tác phẩm âm nhạc. Công việc của Neuhaus trong lớp là một sự kiện sáng tạo, bao gồm cả các yếu tố ngẫu hứng. Có những khoảnh khắc của trực giác nghệ thuật, dẫn đến những cách thực tế để giải quyết mục tiêu giảng dạy. Ngay cả những mô tả chi tiết nhất về quá trình sư phạm của ông cũng chỉ có thể đưa ra một ý tưởng rất mơ hồ về những gì ông đang thực hiện. Neuhaus luôn cảm thấy mình có nghĩa vụ đưa học sinh đến sự hiểu biết về nghệ thuật âm nhạc, ý tưởng và nội dung cảm xúc của nó. Ông luôn nói: “Đầu tiên bạn phải biết chơi cái gì và sau đó là chơi nó như thế nào”.

Ngoài công việc trưởng khoa piano đặc biệt, từ năm 1935-1937 Neuhaus còn được tín nhiệm giao nhiệm vụ làm giám đốc của nhạc viện. Tuy nhiên, một sự kiện tệ hại đã xảy ra với ông khi cuộc Chiến tranh Thế giới Thứ hai nổ ra. Ngày 4/11/1941, Neuhaus bị bắt với tội danh không đi di tản, cố nán lại Moscow để chờ quân đội Đức và có những phát ngôn phỉ báng chế độ Liên Xô. Một số người bạn của ông cũng bị bắt giữ. Sau một quá trình tạm giam và thẩm vấn dài, ngày 4/7/1942, ông phải chịu án phạt bị trục xuất khỏi Moscow trong thời hạn 5 năm, tính từ ngày tạm giam. Ngày 19/7/1942, ông bị đi đày ở vùng Urals, nhưng nhờ những nỗ lực của học trò, trong đó có Gilels, Neuhaus được đưa đến Sverdlovsk và giảng dạy tại đây. Những người bạn, đồng nghiệp, học trò của Neuhaus đã liên tục kiến nghị chính quyền để cho phép ông được trở về Moscow và điều này đã được thực hiện vào mùa thu năm 1944. Neuhaus tiếp tục với công việc trưởng khoa piano đặc biệt tại nhạc viện Moscow, lúc này đã được đổi tên thành Tchaikovsky. 

Kể từ năm 1932, nhiều học sinh của Neuhaus đã giành được giải thưởng tại các cuộc thi piano quốc tế trên khắp thế giới và trở thành những nghệ sĩ nổi tiếng. Chúng ta có thể kể đến Lev Naumov, Evgeny Malinin, Tikhon Khrennikov, Anton Ginsburg, Radu Lupu, Vladimir Krainev hay Eliso Virsaladze. Bên cạnh đó là hai cái tên huyền thoại, Sviatoslav Richter và Emil Gilels. Hình ảnh quyến rũ của Neuhaus với tư cách một nghệ sĩ biểu diễn, một nhà sư phạm, sự uyên bác xuất chúng, tình yêu chân chính dành cho nghệ thuật và phẩm chất cá nhân của con người ông đã thu hút những người trẻ tuổi tài năng. Tất cả những người thân thiết với Neuhaus đều bị tính cách của ông ảnh hưởng và cảm thấy phải có trách nhiệm đặc biệt với nghệ thuật. Richter luôn coi Neuhaus như người cha thứ hai của mình. Ngoài việc biểu diễn và giảng dạy, Neuhaus còn tham gia viết báo về những vấn đề thời sự trong việc phát triển nghệ thuật âm nhạc và bình luận về những buổi biểu diễn tại Moscow. Năm 1958, Neuhaus cho xuất bản cuốn “Nghệ thuật chơi piano, những ghi chú của một giáo viên”, một trong những tài liệu quan trọng trong việc giảng dạy và biểu diễn piano, đúc kết toàn bộ kinh nghiệm và tâm huyết của một trong những nhà sư phạm lỗi lạc nhất trong lịch sử.

Neuhaus qua đời tại Moscow vào ngày 10/10/1964 ở tuổi 76. Ngay trước khi ông mất, Rubinstein đã đến thăm ông. Neuhaus được chôn cất tại nghĩa trang Novodevichy.

Trong lịch sử văn hóa piano của nước Nga, Heinrich Neuhaus là một hiện tượng hiếm có. Tên tuổi của ông gắn liền với ý tưởng về sự dám nghĩ dám làm, sự thăng trầm rực lửa của cảm giác, sự linh hoạt đáng kinh ngạc và đồng thời là sự toàn vẹn của bản năng. Ông luôn tràn đầy sức sống, sự say mê, đạt đến đỉnh cao không chỉ bằng sự sáng suốt của tư tưởng và niềm tin, mà còn bằng sự chân thực của cảm xúc, nhẹ nhàng và tinh tế. Neuhaus đã sống và làm việc vô cùng chân thành, tự nhiên, giản dị và đồng thời cũng rất nóng bỏng, cuồng nhiệt, vị tha. Tinh thần thôi thúc, nhiệt huyết sáng tạo, cảm xúc bùng cháy là những phẩm chất không thể thiếu trong bản chất nghệ thuật của ông. Năm tháng trôi qua, nhiều thứ đã cũ kỹ, trở nên tàn lụi và đổ nát, nhưng nghệ thuật của ông, nghệ thuật của một nghệ sĩ đầy chất thơ, vẫn trẻ trung, khí phách và phấn chấn.□

Ngọc Tú tổng hợp
Nguồn:
http://www.ninasvetlanova.com/Neuhaus/
https://www.belcanto.ru/neigaus.html
https://www.sakharov-center.ru/asfcd/auth/?t=page&num=3597

Văn chương mạng

 


Được khởi động trước đó gần mươi năm, sang thế kỉ XXI, có thể nói việc bùng nổ Thông tin liên mạng góp phần làm thay đổi thế giới. Chỉ riêng lĩnh vực văn học, Internet đã thay đổi cách viết – công bố – đọc – nghĩ – cảm của cả người sáng tác lẫn kẻ thưởng thức văn chương. Đến nỗi, người nào không biết Internet, dễ lạc hậu và lạc thời!
Một khẳng định không phải không có lí do của nó.

1. Thế nào là văn chương mạng?
Đó là văn chương có mặt trên mạng Internet. Nói như vậy thì dễ dãi quá. Có thể chia văn chương có mặt trên Internet làm 3 bộ phận:
– Các sáng tác chủ yếu xuất hiện trên giấy, sau đó được đưa lên mạng; hoặc đưa lên cùng lúc. Đây là cách làm của rất nhiều báo trong nước hôm nay. Đại bộ phận nhà văn Việt Nam thế hệ cũ hành xử theo cách này.
– Người viết ưu tiên dành đăng các sáng tác trên mạng. Vì nhiều lí do khác nhau, họ cũng có in trên giấy hoặc gửi in cả 2 nơi; nhưng có mặt trên mạng họ cảm thấy thoải mái hơn, hoặc cùng lắm họ coi 2 hình thức này giá trị ngang nhau. Nên sau khi đăng sáng tác lên mạng, họ vẫn thích in ra giấy.
Dù gì thì gì, cả hai bộ phận tác giả này vẫn mang “tâm thế” giấy.
– Bộ phận cuối cùng là các tác giả chỉ muốn xuất hiện trên mạng. Họ sống đời sống văn chương của mạng, viết trên mạng, vận dụng ưu thế kĩ thuật của Internet, xử lí thông tin trên mạng, tương tác trên mạng, tồn tại trên mạng, buồn vui trên mạng, hi vọng hay thất vọng cũng trên mạng… Họ là công dân mạng toàn phần. Và có thể nói đây là thứ văn chương mạng đúng nghĩa, khác hẳn các sáng tác được đăng trên mạng. Văn chương mạng khi in ra giấy sẽ mất đi hơi thở đời sống mạng và giảm “giá trị đích thực” của nó không ít!

2. Ưu thế thông tin của Internet

Tốc độ, đó là điều dễ thấy hơn cả. Báo giấy, người đọc phải chờ đến ngày hôm sau hoặc có nhanh bao nhiêu cũng – buổi sau; nhưng báo mạng thì không. Người nhận thông tin biết ngay tin vừa xảy ra, tác phẩm vừa sáng tác, ý kiến bình luận… và cả các sai sót cũng được đính chính ngay sau đó, hoặc sửa thẳng vào bản đã “in”! Nhanh, gọn, tiện dụng – rất phù hợp với thế giới đầy tốc độ hôm nay.
Sự tiện lợi còn được thể hiện qua việc lưu trữ thông tin. Thích hay cần, người đọc tải thông tin xuống để lập mục riêng. Tra tìm cũng rất nhanh: từ nội dung cho đến tác giả, ngày tháng hay cả câu đoạn. Và nếu muốn viết bài nghiên cứu, phê bình, việc trích dẫn bảo đảm sự chuẩn xác tuyệt đối qua thao tác cắt-dán. Đó là những điều ngoài tầm với của báo giấy!
Ví dụ cụ thể, muốn tra tìm thông tin liên quan đến một tác giả chẳng hạn, Website chứa đủ: tiểu sử, ảnh, địa chỉ, các tác phẩm, dư luận về chúng… tất tần tật. Nghĩa là đủ chuyện trên đời về tác giả đó. Ta cứ vào Google hay Yahoo… mà gõ từ khóa vào. Dĩ nhiên, ta cần biết đâu là mạng chuyên, đáng tin cậy.
Cá nhân tôi chẳng hạn. Khi các Website văn chương tiếng Việt ồ ạt xuất hiện, được ban biên tập mời tham gia, tôi luôn có thái độ dè dặt. Thường vì lí do quen biết hay cảm tình riêng mà gửi bài, còn thì tôi ưu tiên cho báo giấy. Thế nhưng, 3 năm nay tình thế đã khác. Rất khác! Tôi ứng xử với hai hình thức này ngang nhau, có khi nghiêng về Internet nữa chứ. Đơn giản: thứ nhất, bài cho báo giấy thế nào cũng bị cắt xén bởi nhiều nguyên do khác nhau khiến tác phẩm như một sinh thể bị hoạn; thứ hai: lắm lúc không muốn xếp hàng chờ, tôi nóng lòng cho đứa con tinh thần của mình được ra đời sớm, để xem người đọc nghĩ gì về nó.

3. Website có tạo dễ dãi cho sáng tác không?
Câu trả lời là vừa có vừa không. 

Một không gian mênh mông cho đăng tải, nên việc tỉa tót câu, đoạn cho “cô đúc” hay văn vẻ ít được đặt nặng. Chứ không kì khu ép mình theo khổ như báo giấy. Từ đó mọi người có cảm giác vài báo mạng dễ đăng bài đã tạo sự dễ dãi cho kẻ sáng tác (nhưng báo giấy cũng đâu khác gì!). Đúng thôi. Báo mạng còn non trẻ nên cần tranh thủ thị phần các sáng tác và tác giả mới.
Khi có sáng tác mới, trong thời gian chờ đợi được báo giấy hẹn in, tác giả có thể sửa chữa thêm bớt; báo mạng, bản thảo đầu tiên khi rời khỏi computer tác giả, liền sau đó nếu được BBT ưng ý, đã thấy xuất hiện ngay trên trang Website đến muốn níu lại cũng không kịp! Thế nhưng, hay hay không, dễ hoặc khó tất cả đều do con người chứ ít lệ thuộc vào kĩ thuật. Người quản lí Website vẫn có thể từ chối sáng tác rởm hoặc, một khi ý thức về tác phẩm trên mạng được nhìn nhận nghiêm túc, chính tác giả tự duyệt chất lượng sáng tác mình trước khi gửi đi. Vấn đề còn lại là ý thức và trình độ thẩm mĩ của người đọc để phân biệt đâu là văn chương đích thực và đâu là trò chữ nghĩa nhếch nhác. Tôi nhấn mạnh: độc giả văn học, chứ không phải độc giả báo chí. Nếu độc giả đủ khả năng thẩm định thì tất cả kẻ làm ra tác phẩm dị mọ sẽ bị đào thải ngay thôi. Thêm: khối sáng tác trên giấy từng trở thành mớ giấy vụn đâu ít oi gì!
Chế độ kiểm duyệt của Website cũng khá thoáng và ít định kiến. Ví dụ: tôi gửi một tiểu luận cho một tờ báo [giấy] có uy tín. BBT không đánh giá bài viết qua chuyên môn mà xét nó qua ý thích tùy tiện của người phụ trách trang mục đó. Một vị trong BBT kêu: tôi không đồng ý với quan điểm của anh này. Thế là ách! Dù bài viết đã bị gọt giũa cẩn thận. Cũng có bài dù đã lên khuôn, nhưng giờ chót bị lột xuống, chỉ bởi nguyên do bá vơ và cực kì cảm tính. Thế là tiểu luận công phu, bài thơ tâm đắc tôi đều dành cho Website. Cũng cần thêm: bài lên mạng chưa bao giờ được trả nhuận bút (ngoài eVan.vnexpress.net thời kì đầu).

4. Văn chương mạng dành cho ai?
Bên cạnh người thuộc thế hệ cũ mang tinh thần canh tân, Website chiếm lĩnh trường hoạt động của đại đa số người thuộc thế hệ độc giả trẻ và tác giả mới, những kẻ sinh ra cùng thời với computer. Nói như Bill Clinton, người lớn nào nghĩ là họ hiểu mạng hơn trẻ em là khá dại dột. Thế hệ mạng sinh ra và lớn lên cùng thời với mạng; cho nên mạng thật tự nhiên với chúng. Như ta học và quen một ngôn ngữ mới từ thuở thơ ấu vậy.
Trên mạng hôm nay, có nhiều cây bút đáng chú ý. Và theo tôi, chính họ chứ không phải ai khác sẽ quy định khuôn mặt văn học Việt Nam ngày mai. Dù lúc này, giới phê bình chính thống có vẻ từ chối hay quay lưng lại với họ. Như thể văn chương Việt Nam hôm nay không có họ! Nhưng họ vẫn có đó. Nhìn cách khách quan, rất ít cây viết phê bình dám xông pha đầu sóng ngọn gió để song hành cùng các cây viết/phong trào văn chương đang xảy ra của hôm nay. Về cây viết trẻ chỉ đăng sáng tác trên mạng thì càng hiếm hơn nữa? Theo dõi, bàn luận một cách sòng phẳng và công bằng? Riêng tôi, các tác giả mạng này luôn gây sự chú ý đặc biệt. Tôi đã có không ít bài viết về họ, sáng tác tác phẩm của họ.

5. Thể loại nào có ưu thế trên Website văn chương?

Lâu nay nhiều người nghĩ thơ và truyện cực ngắn chiếm ưu thế tuyệt đối. Nhưng không! Rất nhiều bài viết công phu được bắn lên mạng. Không ít Website đăng các trường ca, mà nếu gửi báo giấy chắc chắc chúng bị chặt khúc không thương tiếc hay cùng lắm, độc giả phải chấp nhận thưởng thức nó qua nhiều kì. Nhiều nhà văn còn tải nguyên tiểu thuyết lên “cất” trên trời nữa!
Nên có thể nói, Website chứa được tất cả thể loại văn chương mà báo giấy làm được, hơn thế nữa – không thể làm được!

6. Viết, đọc văn chương mạng như thế nào?

Ngoài ra, cái dễ thấy nhất là các sáng tác trên mạng có nhiều đột phá mới về kĩ thuật hơn. Việc kiểm soát thoáng chỉ là một phần, vấn đề kĩ thuật mới mang tính quyết định.
Thơ ca hôm nay, ngoài nghệ thuật thời gian còn bao gồm luôn cả nghệ thuật không gian. Không gian mạng càng tạo điều kiện cho các nhà văn nhà thơ vùng vẫy. Cỡ, kiểu chữ, in đậm nhạt, màu – đủ màu, các dấu gạch ngang, gạch chéo, đủ loại hình họa xuất hiện bất ngờ, cách bố trí dòng thơ tạo hình, … vô cùng đẹp mắt. Người viết cứ thế tùy hứng mà xài! Xong, nhà văn có thể tự dàn trang theo ý thích, không cần đến nhà in quá phiền toái. Tiếp đó: gửi chúng cho báo mạng hay đưa lên Website cá nhân! Một chu trình sản xuất tác phẩm văn chương tưởng khép kín, nhưng mở ra vô cùng tận cho người thưởng thức, bình luận. Nóng hôi hổi! Độc giả mọi xó xỉnh thế giới đều có thể đọc nó, cùng ngày cùng giờ (không qua khâu vận chuyển) qua đó, cùng có các phản ứng.
Ngoài ra, nhà văn viết và sửa ngay trên màn hình mà không sợ “dơ” bản thảo. Nếu muốn giữ “bản thảo” gốc (các nhà văn cỡ bự tương lai ưa mang tâm thế sợ mất “bản thảo gốc” là thế) thì cứ copy lập ra một/một vài mục khác. Tiện lợi như thế, không ít nhà văn thế hệ mới chuyên viết trên computer và chỉ đăng sáng tác trên mạng, bình luận tác phẩm trên mạng, nổi tiếng trên mạng, hi vọng hay thất vọng cũng trên mạng, và chưa bao giờ tin vào văn chương giấy. Họ là cư dân mạng đúng nghĩa!
Mới vài năm trước thôi, tôi không thể tưởng tượng được người ta [nhất là tôi] có thể viết trực tiếp trên computer. Tôi đã phải sáng tác trên giấy, sau đó chép vào máy vi tính. Nhưng từ 2 năm nay, tôi không thể nào làm việc mà không có máy vi tính, dù chỉ sáng tác một bài thơ ngắn!
Trên Website, người đọc đọc nhanh, đọc nhiều và đọc hợp lí hơn. Hợp lí, bởi người đọc chủ động trong chọn nội dung, phân đoạn liên quan, các từ cần thiết… chúng xuất hiện ngay tức thời, chỉ bằng cái nhấp chuột. Thứ nữa: người đọc cũng dễ dàng đọc “liên văn bản” qua đường link mà không phải lục lọi và lật sách tra tìm, mất giờ và cực nhọc. Mà thư viện giấy [gia đình hay nhà nước] chắc gì có đủ! Quan niệm hậu hiện đại về sự đồng sáng tạo của người đọc cũng mở ra khả tính mênh mông, được thể hiện đầy hiệu quả trên computer. Có thể gọi đó là đồng sáng tạo cả ở nghĩa bóng (tưởng tượng, suy diễn, mở rộng…) lẫn nghĩa đen (người đọc tự do tùy nghi bôi xóa, thêm bớt…).
Từ viết và đọc như thế, Website ảnh hưởng lớn đến cách nghĩ, cảm và hành động của con người thời đại. Ai hiện nay đủ dũng cảm từ chối nó?

7. Văn chương giấy và văn chương mạng cùng tồn tại.

Việt Nam qua ngàn năm sống trong nền văn chương bình dân (truyền miệng), và chỉ mới trải qua chưa đầy trăm năm văn học chữ quốc ngữ (văn chương trên giấy), nên khi đối mặt với màn hình, họ dị ứng thì không có gì là lạ. Chẳng những coi văn chương trên mạng là “không chính thống”, “ngoài luồng”, mà không ít thành phần cả tác giả lẫn độc giả văn chương còn cho nó không phải LÀ tác phẩm nữa kia! Đó đích thị là thái độ bảo thủ, lạc thời. Chính thống hay trong luồng không liên quan gì đến phẩm chất đích thực của văn học cả. Có thể gọi đó là khái niệm giả! Thế ca dao truyền miệng không là tác phẩm sao? Hay toàn bộ tác phẩm văn học của dân tộc Chăm chưa bao giờ trải qua kĩ thuật in ấn, không là tác phẩm?
Tinh thần hậu hiện đại là thứ tinh thần giải- trung tâm hay phi tâm hóa, trong đó Internet đóng vai trò rất quan trọng, như một phương tiện hữu hiệu nhất. Văn chương không chọn hình thức tồn tại. Nếu ngày trước ca dao tồn tại vô ảnh trong “khẩu” được thì sáng tác hôm nay vẫn có thể có mặt vô hình trên màn hình. Không vấn đề gì cả.
Trong tương lai, chắc chắn hai hình thức văn chương giấy và văn chương mạng này cùng sống và hỗ trợ nhau. Ví dụ, bài tiểu luận dài, in báo giấy thì phải cắt để khớp với khung báo cho phép; ta có thể in nó trên cả hai dạng. Làm như vậy sẽ giải quyết được khó khăn khách quan trước mắt. Và cả lâu dài nữa, bởi đâu phải ai cũng thích ngồi trước màn hình để thưởng thức thơ? Đưa sáng tác lên mạng thì nhanh hơn, nó kích thích sức sáng tạo năng động của tuổi trẻ. Làm xong, bắn lên, đọc ngay rồi vứt bỏ– đúng phong cách hậu hiện đại. Còn khi có tuổi, lúc tâm hồn bắt đầu lắng đọng hay chai cứng bảo thủ (biết đâu đấy!), chúng ta tìm về nguồn cội văn học trên giấy mà nhâm nhi thưởng ngoạn. Không sướng sao!?

8. Tương lai của văn chương mạng
Không thể chối cãi: số lượng người in sáng tác và đọc trên mạng là rất lớn, vượt trội so với văn chương giấy. Và, ngày càng tăng. Có người lưỡng cư cả hai địa phận, nhưng cũng có kẻ chỉ đăng kí hộ khẩu Website. Website phổ thông có đăng văn chương và cả Website chuyên văn. Và khi Website cá nhân rồi Blog ồ ạt ra đời, số lượng người truy cập chắc chắn đạt con số khổng lồ.
Chỉ còn vài trở ngại nho nhỏ: rằng ngày nay, đại đa số người Việt Nam là nông dân và công nhân nghèo đang sinh sống ở khu vực chưa phát triển, chưa đủ điều kiện sắm máy vi tính hay nối mạng. Họ ít điều kiện tiếp cận với Internet. Trong lúc đó, cầm tờ báo Văn nghệ hay tập truyện ngắn trong tay thì họ có thể nằm ngửa ra đọc bất kì đâu. Trở ngại này sẽ được giải quyết ngay khi đất nước giàu lên. Còn khi chúng ta chưa nhìn ra nhược điểm nào khác của văn chương mạng, trong khi nó có quá nhiều ưu điểm. Sợ duy nhất là báo mạng đột ngột thay Ban biên tập, ông/bà chủ mới nổi hứng xóa bỏ các bài đã từng đăng trước đó (như đã từng xảy ra ở vài Website) khiến kẻ làm việc nghiên cứu gần như mất trắng tài liệu tham khảo và… mất hứng luôn.
Nhưng với lối làm ăn như thế, cư dân mạng sẽ nghỉ chơi với nó, đó là điều chắc chắn

Nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh: Biết chữ quốc ngữ chưa chắc là biết tiếng Việt

 

LTS. Trước thực trạng sử dụng tiếng Việt tùy tiện, cẩu thả hiện nay, nhất là trên mạng xã hội, nhiều ý kiến cho rằng cần sớm chuẩn hóa, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Tia Sáng ghi nhanh ý kiến của nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh về tiếng Việt hiện nay.


Nhà nghiên cứu Cao Tự Thanh. 

T góc độ của một nhà nghiên cứu, ông thấy tiếng Việt hiện nay đang trong tình trạng như thế nào? 

Là một giá trị phi vật thể, ngôn ngữ vận động và phát triển qua thực tế việc sử dụng của xã hội. Hệ thống giáo dục, hệ thống thông tin, các hoạt động ngôn ngữ – văn tự, việc nghiên cứu ngôn ngữ, chính sách ngôn ngữ của chính quyền… do đó đều tác động tới việc sử dụng ấy. Quan sát cách thức tác động sẽ thấy tình trạng của cái được tác động thôi.

Giống nhiều ngôn ngữ khác, tiếng Việt gồm hai bộ phận chủ yếu tức tiếng Việt văn học và tiếng Việt bình dân, giữa hai bộ phận này luôn có sự liên thông cũng như sự khác biệt. Ở Việt Nam hiện nay, mạng xã hội là nơi trình hiện tập trung và toàn diện nhất tình hình nói trên.

Cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội vài mươi năm nay, tiếng Việt có những bước tiến đáng ghi nhận nhưng đồng thời cũng có nhiều biểu hiện suy thoái đáng quan tâm, trong đó nổi bật là tình trạng hiểu sai và dùng sai tiếng Việt phổ biến trong mọi tầng lớp xã hội và ở mọi khu vực giao tiếp xã hội, trên mọi lãnh vực hoạt động xã hội.

 

Ông nghĩ thế nào về mệnh đề “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt?”

Nhiều người khi đọc thấy ở đâu đó một câu, một từ mà mình không hiểu thì nói diễn đạt như thế là không trong sáng. Với bộ phận người đọc ấy thì rất nhiều văn bản pháp luật, khoa học, triết học, văn học cổ… sẽ trở thành không trong sáng. 

 

Trước hết, từ trong sáng ở đây chỉ sự chính xác về nội hàm và sự phù hợp về phong cách. Một văn bản chính trị hay hành chính có thể viết “Phải đưa ra biện pháp hữu hiệu để trừng trị, chế tài những kẻ tham nhũng” chứ không thể viết “Phải tìm cách chơi cho bọn tham nhũng sặc máu”, mặc dù cách diễn đạt sau rất dễ hiểu.

 

Thứ hai, như đã nói ở trên, tiếng Việt gồm hai bộ phận chính vẫn được gọi là tiếng Việt văn học và tiếng Việt bình dân, trong đó tiếng Việt bình dân một mặt luôn góp phần làm giàu thêm tiếng Việt văn học nhưng mặt khác thường vận động một cách tự phát và phi qui chuẩn. Tiếng Việt văn học thì khác, nó không những là đại diện cho trình độ và năng lực phát triển ở những không gian, thời gian xác định mà còn là nơi tích lũy những tinh hoa, kế tục mạch truyền thừa của tiếng Việt trong lịch sử, luôn là hệ thống đóng vai trò chuẩn mực của tiếng Việt toàn dân. Nói giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt theo tôi do đó chủ yếu là nói tới sự trong sáng của bộ phận tiếng Việt văn học. 

Ngoài việc các bộ phận địa phương (phương ngữ) phải dần dần trở thành tài sản toàn dân, một thước đo khác của sự phát triển ngôn ngữ phải là việc bộ phận ngôn ngữ văn học chi phối, tác động tới ngôn ngữ bình dân mạnh hơn là ngược lại. Nhưng tiếng Việt hiện nay thì khác, nhiều văn bản quan phương, văn chương báo đài vốn thuộc bộ phận tiếng Việt văn học tức ngôn ngữ viết lại là những tấm gương xấu trong việc sử dụng tiếng Việt cho đúng và cho hay. Gần đây ở Sài Gòn có một tờ báo đăng một bài nhan đề Đưa Củ Chi lên thẳng thành phố, mới nhìn cứ tưởng đưa nông sản gì đó ở đâu đó về Sài Gòn không thông qua trung gian, đọc xong mới hiểu đó là “Nâng huyện Củ Chi lên cấp hành chính ngang với thành phố”, suýt chảy máu mắt, nghĩ mà thương những người nước ngoài mới học tiếng Việt. 

 

Chắc nhiều người cũng còn nhớ vài vụ tương tự. Như cách nay vài năm một cơ quan truyền thông ở Sài Gòn mở cuộc thi Tiếng hát gì đó, Ban tổ chức trưng một tấm bảng đại khái là “Ở đây có thu âm hộ/thí sinh”, ngắt làm hai hàng. Hay trong một hội nghị về du lịch ở Hà Nội, nhiều người cứ nhắc đi nhắc lại phương châm làm sao cho khách du lịch “Vào sâu, ở lâu, ra chậm”. Mới đây còn có một bài báo giật tittre “Gangstes Mỹ xả súng, 20.000 người mất mạng”, là nói đạn bắn trúng dây cáp quang làm 20.000 người mất kết nối truyền hình và Internet. Việc khôi hài không đúng chỗ như vậy cho dù có chơi chữ cao minh cũng là giỡn hớt vô duyên. Tiếng Việt văn học suy thoái vì vậy có khi không phải vì trình độ hiểu biết mà vì ý thức trách nhiệm của những người hoạt động văn tự nữa.

 

Nói rộng ra thì sự hiểu biết và ý thức về cả quốc sử, quốc ngữ lẫn quốc văn ở Việt Nam hiện nay đều dưới trung bình so với cái mức cần thiết để xây dựng kinh tế, phát triển văn hóa, tổ chức xã hội và bảo vệ đất nước. 

 

Ông nói rõ hơn về sự khác biệt giữa quốc ngữ và quốc văn được không?

Được chứ. Quốc ngữ là tiếng Việt, bao gồm các thành phần và yếu tố về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và phong cách trình hiện qua sự phát triển hay vận động của hai bộ phận ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết.

Về từ vựng, tiếng Việt có quá nửa số từ đơn là từ gốc Hán được Việt hóa ở nhiều bình diện và mức độ khác nhau, ở đây gọi là từ Việt Hán. Về từ pháp và ngữ pháp, tiếng Việt là một ngôn ngữ nhị nguyên, có khi theo kiểu thuần Việt có khi theo kiểu Hán ngữ, điều này có nhiều tác động tới phong cách tiếng Việt.


Một lớp học tiểu học ở Phúc Yên thời Pháp thuộc. Nguồn ảnh: Tư liệu của TS. Nguyễn Thụy Phương chụp Tạp chí L’Asie Nouvelle.

Quốc văn thường dùng với nhiều cấp độ, thấp nhất dùng chỉ bộ phận văn chương trong ngôn ngữ viết, cao nhất thì có thể mang ý nghĩa như quốc học.

Cần nói ngay rằng Việt Nam có hai nền quốc văn khác nhau và hai nền quốc học khác nhau, thời phong kiến khác từ thời Pháp thuộc trở đi, đó là vì Việt Nam đã dùng hai hệ công cụ tức chữ viết khác nhau và trong những điều kiện lịch sử cũng như hoàn cảnh quốc tế khác nhau. Dĩ nhiên tiếng Việt trong hai giai đoạn này vẫn là tiếng Việt, cùng có một số khó khăn như nhau.

 

Theo ông, những khó khăn đó là gì? 

Thì như đã nói ở trên, do sự tác động không tích cực hay chưa đủ mức của nhiều hệ thống xã hội khác. Nhưng một trong những khó khăn quan trọng nhất mà ai cũng thấy của tiếng Việt xuất phát từ vấn đề không có hệ thống chữ viết hoàn toàn phù hợp để làm hệ công cụ phát triển tối ưu.

Trước thời Pháp thuộc Việt Nam dùng chữ Hán làm chữ viết chính thức, loại văn tự này không thể ăn khớp hoàn toàn với các hiện tượng, quá trình và lãnh vực của xã hội Việt Nam. Trên cơ sở chữ Hán, người Việt cũng đã tạo ra chữ Nôm, nhưng không đủ để lấp bằng khoảng trống ấy. Không lạ gì mà dưới thời phong kiến, tiếng Việt văn học bị hạn chế rất lớn, ví dụ văn xuôi tiếng Việt gần như giống hệt với khẩu ngữ chứ không tinh tế đẹp đẽ như văn vần.

Từ thời Pháp thuộc trở đi người Việt dùng chữ quốc ngữ Latin ghi âm thì các quá trình ngữ âm vẫn còn tiếp diễn, gây ra tình trạng không thống nhất giữa các địa phương, chỉ riêng miền Bắc đã có tới ba cách ghi duộm, nhuộm, ruộm để ghi âm một từ. Bên cạnh đó, bộ phận tiếng Việt văn học mới lại phát sinh với nhiều khó khăn và phát triển với nhiều khiếm khuyết, tình hình này diễn ra trước hết trên địa bàn Nam Kỳ. Những người đi đầu trong hoạt động phổ biến và sử dụng chữ quốc ngữ ở Nam Kỳ từ Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của trở đi chủ yếu là các trí thức Tây học chứ không có căn bản Hán học vững chắc, ngay việc sử dụng mảng từ Việt Hán cũng đã có vấn đề. Chẳng hạn trong thư gởi một người tên Lê Ngọc Chất khoảng 1888, Trương Vĩnh Ký tự xưng là “bản chức” nhưng cuối thư thự danh là “Nam Trung ẩn sỹ”, thứ văn chương ấy giống như đem đầu trâu ghép vào mõm ngựa, quả thật rất không giống ai. Nhìn rộng ra toàn Việt Nam, chủ trương phế bỏ Hán học của người Pháp thời Pháp thuộc còn làm giảm vốn liếng từ vựng và năng lực ngôn ngữ của những người không biết chữ Hán, đưa tới sự lẫn lộn trong việc hiểu và dùng từ Việt Hán và từ thuần Việt. Sau đây là một ví dụ.

Trong kinh nghiệm ngôn ngữ của nhiều người Việt hiện nay, từ thương hại gần như hoàn toàn đồng nghĩa với thương xót. Nhưng thương hại vốn là một từ Việt Hán, là một động từ, có nghĩa là làm cho bị thương, làm hại. Vì có yếu tố thương đồng âm nên qua chữ quốc ngữ nó đã chập làm một với thương xót trong mảng từ thuần Việt, có lẽ trước tiên là trong tiếng Việt bình dân nhưng sau đó đã lọt vào tiếng Việt văn học. Rõ ràng từ thương hại này tuy mang hình thức Việt Hán nhưng hoàn toàn không phải từ Việt Hán. Hay nhiều người dùng chữ tường tận như tận tường (biết rõ, biết hết), nhưng không chú ý đến từ pháp nên không thấy tận tường là theo ngữ pháp Hán ngữ chứ tường tận là theo ngữ pháp Việt ngữ, tức đó là một từ Việt Hán “giả cầy”. Cho nên tôi vẫn nghĩ rằng không phải bất cứ người Việt Nam hay nước ngoài nào biết chữ quốc ngữ cũng biết tiếng Việt.

 

Dường như ông có cách nhìn riêng về chữ quốc ngữ và lịch sử chữ quốc ngữ? 

Trước nay những người ham tranh cãi thường xông vào những chuyện lông gà vỏ quít, ví dụ vụ đặt hay bỏ tên đường Alexandre de Rhodes năm trước. Từ điển Việt Bồ La mà De Rhodes soạn có chữ Pháp nào đâu, vì vào thế kỷ XVII thì xứ Avignon quê ông ta vẫn chưa thuộc nước Pháp, người Pháp thế kỷ XIX nhập nhằng chuyện quốc tịch của ông ta để kể công khai hóa của họ, phải nhìn kỹ chứ. Mà thứ chữ quốc ngữ người Pháp chủ trương phổ biến ở Việt Nam là của các giáo sỹ Dòng Sai, cụ thể là Taberd, khác xa chữ quốc ngữ của De Rhodes và của các giáo sỹ Dòng Tên, đâu thể vơ đũa cả nắm rồi khen bừa chửi bậy. Nhưng nếu hiểu ghi nhớ de Rhodes là để ghi nhận bước đầu quan trọng trong việc tiếp xúc và giao lưu với phương Tây về mặt văn tự của xã hội Việt Nam thì đã làm sao, đúng là những kẻ ở không chỉ sợ thiên hạ không đại loạn mới hay kiếm chuyện ầm ĩ…


Sách Tập đọc của học sinh thế hệ 1980-1990.

Nhìn từ góc độ chức năng, chữ quốc ngữ trước thời Pháp thuộc là công cụ truyền đạo và thông tin trong nội bộ cộng đồng Thiên chúa giáo, đến thời Pháp thuộc trở thành công cụ hành chính và văn hóa trong tay người Pháp đồng thời từng bước trở thành công cụ của người Việt Nam trong quá trình hiện đại hóa tuy rất vòng vèo và trắc trở của xã hội Việt Nam, rồi từ 1945 là công cụ văn tự của nước Việt Nam mới. Trong Hội nghị về ngôn ngữ ở Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam ngày 25/1/1966, Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng phát biểu “Đời phát triển thì tiếng phát triển”. Xã hội Việt Nam phát triển thì tiếng Việt mới phát triển, tiếng Việt phát triển thì hệ công cụ của nó là chữ quốc ngữ phải phát triển. Không có sự giao lưu, tiếp nhận thành tựu khoa học kỹ thuật, công nghệ thương mại, hành chính tư pháp, triết học văn chương… phương Tây rồi thế giới từ thời Pháp thuộc đến nay thì xã hội Việt Nam phát triển được à? Không có quá trình phổ biến chữ quốc ngữ từ Đông Kinh nghĩa thục đến Hội Truyền bá chữ quốc ngữ (Bắc Kỳ) rồi Bình dân học vụ sau Cách mạng Tháng Tám, không có quá trình vận động cải cách chữ quốc ngữ từ sau Thế chiến Thứ nhất trở đi, không có quá trình dịch thuật ra chữ quốc ngữ của mấy mươi thế hệ người Việt từ thời Pháp thuộc đến nay thì chữ quốc ngữ lại song hành với tiếng Việt được à? Chữ quốc ngữ có ưu thế dễ học dễ nhớ nên dễ phổ cập hơn chữ Hán chữ Nôm, mà cũng chỉ đến thế, chứ làm gì có được khả năng làm thay đổi tư duy của người Việt Nam như có người từng khẳng định. Lúc Minh Trị duy tân nửa sau thế kỷ XIX, người Nhật có đổi chữ viết đâu. Đó là một mặt của vấn đề.

Mặt kia thì chữ quốc ngữ được dùng như công cụ cai trị và nô dịch của ngoại nhân từ thời Pháp thuộc dĩ nhiên nhằm tạo ra một thứ quốc văn khác, không nhằm kế thừa quốc văn và quốc học truyền thống của Việt Nam. Cùng với những đặc trưng và khiếm khuyết tự thân của nó, chữ quốc ngữ khó mà nối tiếp trọn vẹn nền quốc văn và quốc học truyền thống, nhưng đó là việc của con người, đâu phải của công cụ. Trước 1945 người Bắc đọc văn Nam, người Nam đọc báo Bắc có khi vỡ đầu, chữ quốc ngữ ở Việt Nam thời ấy chỉ mới là chữ viết của các phương ngữ, điều đó cũng do con người mà cụ thể là người Pháp, vì họ căn bản đâu cần quan tâm tới sự thống nhất của tiếng Việt ở Việt Nam.

Tôi cố gắng nhìn chữ quốc ngữ và lịch sử chữ quốc ngữ như nó có thôi.

Hiện nay rất nhiều người có ý kiến về việc sử dụng tiếng Việt cho chuẩn, ông nghĩ gì về điều này?

Thứ nhất, muốn sử dụng tiếng Việt cho chuẩn thì trước hết phải hiểu đúng từ vựng trên cả ba phương diện từ nghĩa, từ pháp và từ nguyên. Đây là điều mà các từ điển tiếng Việt hiện có đều chưa đạt được trọn vẹn, nên những người quan tâm tới tiếng Việt còn có rất nhiều việc phải làm, những người hoạt động văn tự còn có rất nhiều điều cần lưu ý. Ví dụ nhiều người hay viết “Năm 1964 đế quốc Mỹ ném bom miền Bắc Việt Nam”, đọc qua giống như bình thường nhưng thật ra chẳng ra chương pháp gì cả. Chuyện đó là Chính phủ Mỹ chủ trương, không quân Mỹ thực hiện, danh phải chính thì ngôn mới thuận, chứ đế quốc là ai, chủ nghĩa đế quốc là ai mà có thể đi ném bom!

Thứ hai, chuẩn ngôn ngữ có nhiều cấp độ, ví dụ không ai viết hay nói “Bị quân ta tấn công, quân giặc chống trả rất kiên cường”, vì tuy không sai về từ nghĩa tức đúng chuẩn từ vựng lại không đúng về thái độ, tức chuẩn phong cách, chuẩn tình thái. Nói thêm cho vui, ví dụ ai đó nói “Ông A là một học giả lớn” thì còn phải xem y có thật lòng khen người ta hay không, chứ nếu y nói “Ông A là một học giả bự” thì chắc chắn là y không có ý định ấy đâu. “Bất cứ danh từ nào cũng có thể bị xuyên tạc bởi một tính từ”, điều này đặc biệt đúng với tiếng Việt, ví dụ “cái nghĩa địa nên thơ”, “sự nhạo báng trọng thể” vân vân. Tiếng Việt có hình thức ngữ pháp lỏng lẻo hơn các ngôn ngữ Ấn Âu, phong cách và tình thái vì vậy cũng là những công cụ biểu đạt. Những cái khuôn ngữ pháp cứng nhắc đơn điệu trong nhà trường hiện nay dường như không hề lưu ý tới các yếu tố này, nên không lạ gì mà tiếng Việt thuộc hệ thống giáo dục càng ngày càng rơi sâu vào tình trạng suy kiệt tiềm năng.

Thứ ba, tiếng là tiếng mà chữ là chữ. Việt Nam hiện nay dùng chữ quốc ngữ, bản thân chữ quốc ngữ có yêu cầu chính tả của nó, nhiều người lại lẫn lộn chuẩn chính tả với chuẩn ngôn ngữ. Ví dụ thông thường thì người ta nói một hơi “Mẹ chuẩn bị bánh trái quần áo cho tôi đi đường”, ai nghe cũng hiểu bánh trái quần áo là thức ăn vật dùng nói chung. Nhưng nếu câu ấy được văn bản hóa thì nhất định nhiều tòa báo hay nhà xuất bản sẽ sửa thành “Mẹ chuẩn bị bánh, trái, quần, áo cho tôi đi đường”, cụ thể hóa bánh trái quần áo thành một bản thống kê, những dấu phẩy máy móc có vẻ đúng chuẩn chính tả nói trên đã làm câu ấy vi phạm chuẩn ngôn ngữ – từ vựng trong tiếng Việt. □

 

Nhóm PV thực hiện

Vì lý thuyết chỉ là màu xám



Vì lý thuyết chỉ là màu xám

Chỉ có thái độ chủ động đón nhận sự khác biệt trong quan điểm, và luôn biết lấy thực tiễn làm thước đo-để điều chỉnh nhận thức, mới là hành xử đúng đắn trong cuộc sống này!

“Mọi lý thuyết đều là màu xám 

Chỉ có cây đời mãi mãi xanh tươi.“

Đó là những lời thơ trong tác phẩm “Faust” của đại thi hào Johann Wolfgang (von) Goethe (1749-1832). Nó như muốn nhắc nhở con người, cần phải biết cảnh giác với mọi hiểu biết, cũng như áp dụng lý thuyết, thậm chí kể cả với những điều được coi là chân lý. Tại sao lại như vậy? Và có cái gọi là chân lý tuyệt đối, hay chân lý khách quan hay không?

Trở về với cuộc đối thoại diễn ra vào ngày 14/7/1930 gữa hai thiên tài Albert Einstein (1879-1955)-nhà vật lý lý thuyết và Rabindranath Tagore (1861-1941)-một triết gia, nhà thơ, người cũng từng đoạt giải Nobel như Einstein, bàn về tính khách quan của chân lý, đã để lại cho nhân loại nhiều suy ngẫm-học hỏi (xem bài “Einstein và Tagore: Đối thoại về tính khách quan của chân lý”, Tia Sáng, 20/08/2017). Tuy vậy, trước đó rất lâu, các nhà toán học đã đặt câu hỏi rằng, các chân lý trong toán học có khách quan hay không? Rồi có thể chứng minh tính khách quan của các chân lý trong toán học hay không? Và từ định lý Bất toàn-năm 1931 của Kurt Friedrich Gödel (1906-1978), người ta rút ra rằng, nói chung, việc chứng minh cho tính khách quan của các chân lý toán học là không thể. Như vậy, hóa ra xét đến cùng, để nhận thức chân lý không thể thiếu vắng vai trò của “đức tin”!

Bởi thế, những ai đã nhận thức được điều này thường sẽ lảng tránh những tranh luận tự do về quan điểm lý thuyết. Không phải là vì họ sợ tranh luận, mà do họ ý thức được rằng, mọi cuộc tranh luận quan điểm lý thuyết  một cách tự do, cho dù giữa những người cùng có năng lực nhận thức cao-có tâm sáng và biết phục thiện, cũng sẽ không thể có phân định đúng sai. Bởi một trong hai người, đều có cái “quyền” không tin-không chấp nhận cái lý thuyết cũng như cách lập luận mà đối phương sử dụng trong lập luận của họ.


Tranh minh họa. Internet.

Xem ra mọi cuộc tranh luận lý thuyết đều chỉ có thể ngã ngũ khi những người tranh luận, có cùng nhân sinh quan và thế giới quan, và cùng chấp nhận một hệ tiên đề hay những giả thuyết ban đầu nào đó. Cũng giống như những người học trò tranh cãi về những điều bị giới hạn trong khuôn khổ các giả định và quy tắc mà bài giảng từ thầy của họ đã định ra. Và tất nhiên khi các tiên đề, các giả thuyết, hay các giả định… không còn đúng nữa, thì các luận điểm tranh cãi cũng tức khắc trở nên vô nghĩa.

Cũng xin nói thêm rằng, khi người ta không ý thức được giới hạn chủ quan của lý thuyết mà họ tin vào, thì các cuộc tranh luận sẽ trở thành những cuộc “so găng” của những định kiến, và thường có kết thúc tồi tệ. Thậm chí đôi khi các đối tượng còn thóa mạ nhau, bất chấp cả đạo lý. Cái điều mà đã từng diễn ra không ít, nhất là trên các trang mạng xã hội.

Câu nói của nhà toán học nổi tiếng George Polya (1887-1985): “Thật ngu xuẩn nếu chỉ khư khư ôm lấy giả thuyết của mình” như nhắc nhở con người ta nhiều điều. Nhưng vì nhiều lý do khác nhau, khiến việc từ bỏ định kiến của con người, không thể dễ dàng. Vì thế mà biết bao kẻ bị nhồi nhét bởi những lý thuyết lỗi thời, hay giáo điều, vẫn cứ ôm lấy những lý thuyết đó, như một thứ chân lý tuyệt đối, thậm chí còn bảo vệ điên cuồng bằng bạo lực với những ai chống lại nó.

Ở một nền giáo dục bị sai lệch, không có tinh thần “khai phóng”, sẽ tạo ra những lớp người học vẹt chỉ tin vào những thứ họ được học-được dạy. Do thiếu được giáo dục tư duy phản biện, họ trở nên mông muội-cuồng tín theo những quan niệm của các ông thầy dạy, mà không cần biết rằng, chính cái chỗ dựa-được họ coi là nền tảng ấy, cũng chẳng có gì đảm bảo là đúng đắn-khách quan cả. Đã thế họ còn mang thái độ ghẻ lạnh với những quan điểm khác biệt, và nguy hại hơn nữa khi họ máy móc áp dụng lý thuyết giáo điều hạn hẹp của mình vào thực tiễn đời sống xã hội, góp phần làm xã hội suy thoái.

Rõ ràng chỉ có thái độ chủ động đón nhận sự khác biệt trong quan điểm, và luôn biết lấy thực tiễn làm thước đo-để điều chỉnh nhận thức, mới là hành xử đúng đắn trong cuộc sống này! Bởi “cây đời” là thực thể của tự nhiên-chúng tồn tại khách quan, còn lý thuyết là của con người, được tạo lập bởi con người-không thể không mang dấu ấn chủ quan, nhằm muốn phản ánh bản chất cái thực thể khách quan kia. Do vậy dẫu lý thuyết có sâu-rộng đến mấy, cũng luôn có nguy cơ bị lạc hậu trước thực tiễn cuộc sống. Chính vì thế, mà từ lịch sử của loài người cho thấy, biết bao lý thuyết đã phải lần lượt ra đi, nhường chỗ cho những nhận thức mới.

Mặc dù “từ bỏ thành kiến không bao giờ quá muộn” như  Henry David Thoreau (1817-1862)-nhà văn, nhà thơ, nhà tự nhiên học, nhà sử học, nhà triết học, nhà địa hình học mẫu mực người Mỹ, đã khuyến cáo, nhưng tiếc thay “người ta chỉ nghe thấy điều mình hiểu”- cái mà Goethe đã cảnh báo. Hơn thế nữa con người còn bị dẫn dắt bởi những tham vọng bất kham-cái khuyết tật vốn có của loài người, mà tạo hóa đã ký gửi. Vì thế mà thời đại nào cũng có thể xuất hiện những thế lực muốn thống trị và dẫn dắt xã hội, dựa trên những học thuyết phản động-lỗi thời, xa rời bản chất tự nhiên. Do vậy việc loại bỏ thành kiến, loại bỏ những tư tưởng hủ bại, luôn là một cuộc chiến dai dẳng-khốc liệt trong xã hội loài người.

Bởi những lý do trên, nhân loại tiến bộ luôn dùng mọi biện pháp, nhắc nhở, giáo dục, răn dạy hậu thế, và đặc biệt cảnh tỉnh họ-thông qua những bài học lịch sử về mối nguy cơ của những thế lực muốn đóng khung chân lý. Cùng với đó, là tạo lập những hệ thống ngăn chặn hiệu quả để “cây đời mãi mãi xanh tươi“ theo dòng chảy của tạo hóa.         


 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Blogger Templates