SƯU TẬP NHỮNG KIẾN THỨC CẦN THIẾT CHO GIÁO VIÊN ÂM NHẠC VIỆT NAM THỜI 4.0

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

Thứ Hai, 2 tháng 8, 2021

Câu chuyện thương hiệu ( Brand Story)

 

1. Brand Story là gì?

Brand Story đơn giản là câu chuyện kể về chính thương hiệu của bạn: kể từ những ngày hồng hoang, doanh nghiệp mới ra đời, quá trình bạn đeo đuổi mục tiêu, cho đến lúc nó phát triển thành công và rực rỡ như hôm nay.

Cũng giống như trong sách báo, phim ảnh vậy, khi bạn kể những câu chuyện hấp dẫn, lôi cuốn, tự khắc, khách hàng sẽ ghi nhớ bạn là ai, nhận diện được thương hiệu của bạn. Quan trọng hơn, họ thực sự đồng cảm và quan tâm tới thương hiệu như những người bạn thân thiết.

Câu chuyện Apple Steve Jobs

Ví dụ:

Bạn có biết câu chuyện về một người đàn ông, cùng người bạn thân của mình xây dựng cơ đồ từ chiếc garage tại nhà riêng. Trải qua biết bao nhiêu thử thách, tự mình chống chọi với những gã khổng lồ trong ngành công nghệ, bị đuổi khỏi chính công ty mình dày công vun đắp, rồi quay trở lại, thay đổi hoàn toàn cách mà con người sử dụng các thiết bị di động như ngày nay.

Đúng vậy, đó chính là câu chuyện về Apple và người chủ của nó – Steve Jobs.

Đúng vậy, câu chuyện về Apple và Steve Jobs chắc chắn truyền nhiều cảm hứng và khiến bạn trở nên đồng cảm với thương hiệu đó hơn.

2. Các bước xây dựng câu chuyện thương hiệu hấp dẫn

Bạn đã có được hình dung cụ thể về Brand Story, giờ là lúc để tìm hiểu các bước xây dựng một câu chuyện thương hiệu hấp dẫn:

Làm nổi bật những nút thắt

Hãy thử nghe một câu chuyện kể sau, thử xem nó có đọng lại trong bạn điểm gì đáng lưu ý:

Chuyện kể một cô bé có chiếc khăn quàng màu đỏ đang đi lang thang trong rừng.

Nhiệm vụ của cô bé là đem thức ăn đến cho người bà của mình ở sau cánh rừng. Trên đường đi, cô gặp những con sói. Nhưng thay vì bị nó tấn công, cô chỉ thấy chúng chạy qua chạy lại, thỉnh thoảng có chu một hai tiếng.

Sau 30 phút vượt rừng, cô cũng đến được nhà bà ngoại. Bà rất cảm kích cô bé và thưởng cô bé một bữa cơm ngon miệng. Cô bé vui lắm, vì hôm nay đã làm được một việc tốt. Hết chuyện!

Đúng là đó là một câu chuyện đầy đủ cấu trúc mở – thân – kết, nhưng bạn có cảm thấy nó có gì đó sai sai?

Đó là vì những nút thắt của câu chuyện không được đẩy lên cao trào. Đúng là cô bé quàng khăn đỏ phải đi qua một khu rừng, nhưng chẳng có điều gì xảy ra cả, vì cô có phải đương đầu với lũ sói và được anh thợ săn cứu giúp đâu. Đó là chưa kể chi tiết đắt giá nhất của câu chuyện: Cuộc ghé thăm của con sói tới nhà người bà cũng không được tận dụng ở đây.

nút thắt cao trào trong brand story

Một câu chuyện không có cao trào, kịch tính là một câu chuyện hời hợt, dễ nghe dễ quên. Bằng ví dụ trên, bạn hoàn toàn có thể khiến Brand Story của mình trở nên kịch tính hơn. Như, doanh nghiệp phải đương đầu với biết bao nhiêu thử thách: đối thủ nặng ký, thị trường khó tính, những lần thất bại,…

Đừng lầm tưởng, việc kể ra những khó khăn, thất bại sẽ khiến người đọc có cái nhìn tiêu cực về bạn. Bởi gian nan sinh thử thách, bạn càng chân thành bao nhiêu, khách hàng sẽ càng đồng cảm và trân trọng bạn bấy nhiêu.

Cách bạn vượt qua thử thách

Việc tạo ra nút thắt là chưa đủ, bạn cần phải đưa ra giải pháp để giải quyết vấn đề nan giải bạn từng vượt qua. Thử lấy ví dụ với câu chuyện Cô bé quàng khăn đỏ ở trên nhé:

Tình huống: Cô bé quàng khăn đỏ đi vào rừng, đem đồ ăn đến cho bà ngoại đang bị ốm.

Nút thắt: Sói xấu xa biết được, liền tiếp cận cô bé. Nó giả danh làm người lành hỏi cô bé đang đi đâu. Cô bé thật thà trả lời đang đưa đồ ăn cho bà và chỉ sói nơi bà ngoại đang ở. Sói rất khôn ngoan. Nó dụ cô bé hái thêm vài bông hoa tặng bà, trong khi lẻn vào nhà bà ngoại để ăn thịt bà.

Sau khi ăn thịt bà ngoại, sói gian ác đóng giả làm bà ngoại để ăn thịt cả cô bé. Cuối cùng thì cô bé cũng đến nhà bà. Dù nhận ra ngoại hình bà có gì đó khang khác, nhưng cô bé vẫn làm ngơ và bỏ qua. Chính vì sự cả tin, nên cô cũng bị con sói ăn thịt nốt. Sau khi no căng bụng, sói lăn đùng ra ngủ.

Giải pháp: Một tiếng động lớn từ bên ngoài ngôi nhà bà ngoại. Thì ra anh thợ săn đã hay tin. Anh phá cửa, giao chiến với sói gian ác. Sau một hồi giằng co, anh thợ săn đã giết được con sói và giải cứu hai bà cháu. Vì vết thương quá nặng, sói không qua khỏi và chết.

Giải pháp cho câu chuyện thương hiệu

Rõ ràng, câu chuyện trở nên mạch lạc và hấp dẫn hơn nhiều, phải không? Vấn đề của bạn ở đây là cần cân bằng yếu tố cảm xúc (qua nút thắt và giải pháp) với nhận diện thương hiệu của mình.

Emotional Branding – Cách xây dựng thương hiệu cảm xúc

3. 5 bí quyết kể câu chuyện thương hiệu hấp dẫn

Nếu bạn muốn Brand Story mình xây dựng trở nên cuốn hút hơn, hãy lưu tâm tới 5 bí quyết kể câu chuyện thương hiệu sau từ ThiCao:

Phải có ý nghĩa

Trong một thế giới có hàng ty tỷ những nhãn hàng đang giành giật sự chú ý của khách hàng từng chút một, bạn dường như mất phương hướng trong việc kể một câu chuyện thương hiệu thực sự lôi cuốn. Lý do nào để bào chữa cho điều đó? Bởi thương hiệu của bạn đang tập trung kể một câu chuyện vô nghĩa, không ai quan tâm.

Từng mảnh ghép trong content của bạn đều nhằm mục đích thu hút sự chú ý của người đọc. Trước hết, nó phải là vấn đề mà người đọc đang quan tâm đã. Việc trả lời những câu hỏi sau là cần thiết để giúp bạn xây dựng Brand Story hấp dẫn:

  • Tại sao tôi lại kể câu chuyện này?
  • Qua góc kể của tôi, câu chuyện có gì đặc biệt?
  • Thông điệp mà tôi muốn truyền tải tới người nghe là gì?
  • Giá trị mà người nghe có thể có được khi nghe câu chuyện tôi kể là gì?

Gần gũi với từng cá nhân

Câu chuyện thương hiệu của bạn có thể hài hước, truyền cảm hứng, hoặc đem lại nhiều kiến thức bổ ích. Nhưng nếu bạn muốn nó đi vào trái tim của độc giả, bạn cần gắn kết nội dung câu chuyện với chính họ.

Thương hiệu có thể làm thay đổi cuộc đời của độc giả như thế nào khi sử dụng chúng? Tại sao người nghe phải dừng lại để lắng nghe câu chuyện của bạn chứ? Điều này chỉ có thể thực hiện được khi câu chuyện bạn kể gần gũi với chính bản thân người nghe.

Phải cảm động

Để đi vào lòng người nghe, câu chuyện đó nhất định phải lay động cảm xúc mạnh mẽ từ người nghe.

Ví dụ: Doanh nghiệp của bạn đang cung cấp phần mềm gửi mail tự động hóa. Nghe thì thật khô khan và máy móc. Nhưng tại sao bạn không lồng ghép khía cạnh cảm xúc trong câu chuyện kể của mình? “Công cụ của chúng tôi giúp công việc của bạn trở nên nhẹ nhàng hơn, giúp bạn bớt căng thẳng và có nhiều thời gian hơn cho gia đình và những người bạn yêu thương”

Phải đơn giản

Một trong những sai lầm khi kể Brand Story, đó là nói quá nhiều, lồng ghép thừa thãi các chi tiết không cần thiết.

Đơn giản là tốt nhất, người đọc không thể kiên nhẫn để đọc một câu chuyện dài quá một tờ giấy A4. Những câu chuyện phức tạp cũng làm độc giả đau đầu, vì họ đã phải lo toan ty tỷ thứ trong cuộc đời này.

Tóm lại, Brand Story của bạn nên tập trung vào 1 vấn đề, diễn giải nó một cách đơn giản và ngắn gọn. Bạn nên nhớ: Người đọc cũng chỉ là người bình thường, không phải là chuyên gia.

Phải chân thực

Một câu chuyện thương hiệu hấp dẫn, lôi cuốn sẽ chẳng có nghĩa lý gì, nếu nó chỉ dựa trên những điều bịa đặt. Như con người chẳng hạn, bạn dành niềm tin cho những người bạn chân thành, hay trao nó cho những kẻ dối trá, lươn lẹo? Chính bạn sẽ là người trả lời câu hỏi đó.

Hãy chắc chắn rằng, từng chi tiết, từng dẫn chứng trong câu chuyện phải đảm bảo đúng sự thật.

4. Ví dụ về Brand Story

Giờ là lúc chúng ta tìm hiểu những ví dụ điển hình trong việc xây dựng một câu chuyện thương hiệu hấp dẫn, lôi cuốn. Hãy cùng ThiCao tìm hiểu 3 case điển hình dưới đây:

Unthinkable Media

Unthinkable Media là một agency chuyên sản xuất nội dung podcast cho các doanh nghiệp B2B tại Hoa Kỳ. Mục tiêu của doanh nghiệp này là tạo ra những nội dung có tính giải trí cao, thu hút sự chú ý của khách hàng.

Unthinkable Media

Hãy cùng lắng nghe brand story của Unthinkable Media:

Tình huống: Là một người làm Marketing và kinh doanh, chúng tôi mong muốn thu hút mọi sự chú ý từ khách hàng của doanh nghiệp bạn. Để đạt được điều đó, chúng tôi phấn đấu nỗ lực hết sức mình.

Nút thắt:

Ngày nay, với sự phát triển của công nghệ, khách hàng có rất nhiều sự lựa chọn. Thời đại này doanh nghiệp không còn là người có quyền lực cao nhất trong mối quan hệ thương mại nữa, mà là khách hàng. Khách hàng có quyền (và đủ năng lực) để chọn cho mình những trải nghiệm họ cảm thấy hài lòng và thích thú nhất. Thật chẳng đơn giản để chúng tôi có thể thu hút sự chú ý từ họ.

Giải pháp:

Chúng tôi cần có cách tiếp cận mới. Thay vì tập trung vào tăng trưởng traffic và số lượng người tiếp cận nội dung, chúng tôi tập trung vào phát triển subscriber và cộng đồng khán giả theo dõi nội dung. Nỗ lực không ngừng nghỉ của chúng tôi là tạo nên những nội dung thật đặc sắc. Khách hàng dừng chân là chưa đủ, họ còn phải lắng nghe và yêu thích những nội dung sáng tạo của chúng tôi.

Grado Labs

Grado Labs là một doanh nghiệp gia đình chuyên cung cấp các sản phẩm tai nghe và các thiết bị về âm thanh nổi tiếng tại Mỹ. Doanh nghiệp này nổi tiếng vì truyền thống sản xuất các thiết bị âm thanh lâu đời, được làm hoàn toàn bằng thủ công. Tại sao họ không lựa chọn phương thức quảng bá thương hiệu như cách mà Beats, Sony hay Bose vẫn thường xuyên làm?

Grado Labs

Tình huống: Âm nhạc là một phần tất yếu của cuộc sống. Thiếu âm nhạc, cuộc đời như mất đi những mảng màu rực rỡ và sự thú vị vốn có. Chúng tôi tin rằng với chất lượng sản phẩm mình cung cấp, quý khách sẽ có những trải nghiệm âm nhạc thật dễ chịu, thoải mái và tràn ngập cảm xúc.

Nút thắt: Ở một thị trường, nơi các doanh nghiệp chi tiền khủng cho hoạt động quảng cáo, hay thiết kế nên những sản phẩm có hình dáng, mẫu mã hiện đại, lý do gì khiến chúng tôi không chạy theo những trào lưu đó?

Giải pháp: Âm thanh là ưu tiên số một. Với những người thợ lành nghề, và những sản phẩm được làm hoàn toàn bằng thủ công, chúng tôi ưu tiên sản xuất những sản phẩm có chất lượng tốt nhất cho khách hàng. Với những sản phẩm thiết bị âm thanh có giá thành phù hợp, chúng tôi có thể cung cấp cho quý khách những dịch vụ chất lượng, và truyền nguồn cảm hứng bất tận của âm nhạc vào trong những sản phẩm.

Gìn giữ giá trị cốt lõi và đem lại trải nghiệm tốt nhất cho khách hàng là những gì Grado Labs muốn truyền tải trong Brand Story của họ.

Drift

Drift là nền tảng Marketing giúp doanh nghiệp kết nối với đối tượng khách hàng có nhu cầu. Thông qua các công cụ tương tác do chính doanh nghiệp thiết kế, Drift khiến cả thế giới ngạc nhiên khi chứng minh: Tương tác và đối thoại trực tiếp với khách hàng cho tỷ lệ chuyển đổi cao hơn sử dụng mẫu form có sẵn để thu thập thông tin.

Drift

Dưới đây là câu chuyện thương hiệu mà Drift muốn truyền tải tới khách hàng:

Tình huống: Mục tiêu của Marketing là truyền tải thông điệp tới khách hàng với những phẩm chất, tính cách như một con người thực thụ. Và chúng tôi đeo đuổi phương châm đó: tạo ra những nội dung có ích và educate khách hàng. Tất nhiên, đổi lại, khách hàng trao cho chúng tôi sự tin tưởng bằng hành động mua hàng.

Nút thắt: Nhưng trước khi nhận ra đâu là điều đúng đắn, chúng tôi làm theo lề thói cũ: Với nguồn contact quý giá từ khách hàng, chúng tôi gửi email và yêu cầu họ điền theo mẫu. Chẳng ai muốn điền form cả, và thế là đối tượng tiếp cận sẽ mãi mãi không thể trở thành người quan tâm, và hành vi chuyển đổi không bao giờ xảy ra.

Giải pháp: Chúng tôi loại bỏ hết tất cả các mẫu form. Điều duy nhất chúng tôi làm hiện giờ, là liên kết khách hàng, quan tâm tới họ như một con người, với những trải nghiệm Marketing chân thật nhất.

Chủ Nhật, 1 tháng 8, 2021

Khi máy tính viết nhạc

 

20/06/2021 08:30 -

Phải chăng đến một lúc nào đó các buổi hòa nhạc sẽ biểu diễn âm nhạc do trí tuệ nhân tạo sáng tác?


Liệu phần mềm máy tính có thể sáng tác những bản nhạc xứng tầm Chopin hoặc Cream hay không còn là một ẩn số. Ảnh: assets.
 
Ngày nay, dường như bất kỳ ai sở hữu máy tính đều có thể trở thành nhà soạn nhạc. Chỉ với vài nốt ban đầu của một bản nhạc, một phần mềm thương mại như Magenta do Google phát triển có thể tạo ra một giai điệu vui vẻ và êm tai. Êm tai, song không phức tạp. Ít nhất, đó là quan điểm của Gerhard Widmer, giáo sư tại Đại học Johannes Kepler, thành phố Linz, Áo.
 
Theo tiến sĩ Widmer, “thứ mà các phần mềm này tạo ra có lẽ có một số tính chất thống kê nhất định. Tuy không nghịch tai, nhưng nó không phải là âm nhạc thực thụ… Phần mềm sẽ tạo ra một thứ giai điệu kéo dài ba ngày vì nó chẳng có khái niệm gì về điều nó muốn làm. Nó không biết rằng mọi sự cần một kết thúc, một mở đầu, và một khoảng ở giữa.” Ông cho rằng mình có thể làm tốt hơn thế. Ông muốn dùng trí tuệ nhân tạo để khám phá xem việc đùa giỡn với những kỳ vọng của thính giả ảnh hưởng đến cảm nhận về âm nhạc của họ như thế nào, và sau đó sử dụng kiến thức này để tạo ra một phần mềm có thể sản xuất ra thứ âm thanh gần với Beethoven hơn là “Baa Baa Black Sheep”. Điều đó có nghĩa là cung cấp cho máy tính khả năng nhận biết những sắc thái tinh tế mà hiện giờ nó chưa thể phát hiện, nhưng có thể học được với sự hỗ trợ của các kỹ thuật mới nhất. Để đạt được mục tiêu này, Tiến sĩ Widmer đang thực hiện dự án “Whither music?” - tựa đề được mượn từ chuỗi bài giảng tại Đại học Harvard năm 1973 của Leonard Bernstein, một nhà soạn nhạc nổi tiếng thế kỷ 20.
 
Khi con người nghe một bản nhạc, tiềm thức của họ dự đoán nốt nhạc kế tiếp là gì. Một thủ thuật các nhà soạn nhạc sử dụng là đùa giỡn với những kỳ vọng này - đôi khi đáp ứng những gì được mong đợi và đôi khi cố tình rẽ ngoặt bất ngờ. Nhạc công nâng sự thao túng cảm xúc lên mức cao hơn bằng cách thêm vào biểu cảm - chẳng hạn, bằng cách nhấn âm vào một câu hát cụ thể hoặc chuyển sang nhịp staccato, khiến nó khác biệt so với câu hát trước đó. Do vậy, một điều mà tiến sĩ Widmer đang làm là hướng dẫn máy tính sao chép họ.
 
Để làm được điều này, ông và đồng nghiệp đã thu thập một số lượng bản thu khổng lồ được ghi âm trên các nhạc cụ thiết kế riêng, điển hình là Bösendorfer 290 SE, một mẫu đàn piano hòa tấu sản xuất vào thập niên 1980, được lắp đặt cảm biến nhằm đo lực và thời điểm nhấn phím đàn của nghệ sĩ với độ chính xác cao. Tâm điểm của bộ sưu tập là tổng hợp các buổi biểu diễn hầu như toàn bộ các tác phẩm piano độc tấu của Chopin trên cây đàn 290 SE do Nikita Magaloff, nghệ sĩ piano hòa tấu huyền thoại và chuyên gia về Chopin, biểu diễn. Các buổi biểu diễn này được ghi lại từ chuỗi sáu buổi hòa nhạc mà Magaloff tham gia ở Vienna, ngay trước khi ông qua đời vào năm 1992.
 
Phần mềm của nhóm nghiên cứu lấy dữ liệu từ các bản thu âm này và các bản thu âm khiêm nhường hơn, và so sánh chúng với bản nhạc gốc của nhà soạn nhạc. Nó tìm kiếm những điểm không trùng khớp giữa cả hai - ví dụ như những chỗ nhạc công thả chậm nhịp điệu vài mili giây hay nhấn mạnh vào một nốt nhạc hơn so với bản nhạc yêu cầu. Bằng cách phân tích hàng nghìn diễn tấu và so sánh chúng với phiên bản số hóa của bản nhạc gốc do các nhà soạn nhạc sáng tác, phần mềm học cách nhận biết những gì mà nhạc công lựa chọn nhấn mạnh, và do đó, những gì họ cho là đặc biệt thú vị đối với thính giả.
 
Các thuật toán khác cũng đang được hướng dẫn về quy tắc soạn nhạc. “[Các mô hình phần mềm hiện có] dùng tất cả các nốt nhạc từng được chơi trước đây để dự báo nốt nhạc kế tiếp, một quá trình chẳng có chút gì liên quan đến cách con người viết nhạc,” tiến sĩ Widmer giải thích. “Soạn nhạc là một quá trình lên kế hoạch mang tính cấu trúc. Chúng tôi muốn tạo ra các mô hình dự đoán đồng thời ở nhiều cấp độ.” Nhóm nghiên cứu đang thiết kế và đào tạo các mô-đun riêng lẻ về các cấu phần khác nhau của âm nhạc: giai điệu, nhịp điệu, vòng hòa thanh,... - với ý định kết hợp chúng thành một chương trình có thể học từ dữ liệu tổng thể về bản nhạc và diễn tấu.
 
Sau khi hoàn tất, phần mềm soạn nhạc đại tài từ dữ liệu lớn này sẽ quyết định không chỉ đâu là nốt nhạc kế tiếp, mà còn tại sao lại như vậy và nên chơi nốt đó như thế nào. “Thay vì nói rằng, ‘theo suy luận thống kê, nốt tiếp theo có khả năng là C’, phần mềm sẽ nói, “tôi tin rằng bốn ô nhịp tiếp theo sẽ mang hơi hướm của vòng hòa thanh IV-I-V [vòng hợp âm phổ biến trong âm nhạc phương Tây], bởi chúng ta đã bắt gặp vòng hòa thanh kiểu này trong ngữ cảnh tương tự ở phần trước của nhạc phẩm’.”
 
Phần mềm kiểu này có thể được ứng dụng để giải quyết các vấn đề khác bên ngoài sáng tác nhạc. Các thuật toán “gợi ý” hiện nay gặp khó khăn trong việc tạo ra các playlist nhạc khớp với sở thích cụ thể của người nghe. Một bài báo mới đây cho thấy chúng khá rành việc gợi ý các bản nhạc pop cho người nghe có gu đa dạng, nhưng không giỏi đề xuất âm nhạc cho người thích một thể loại cụ thể, chẳng hạn như heavy metal hay rap. Một phần mềm hiểu về kỳ vọng của thính giả sẽ hoàn thành công việc này tốt hơn. Một chương trình nắm được sở thích nghe nhạc của người dùng có thể khám phá ra những điều kỳ thú ẩn giấu trong âm nhạc của Skepta hay Slayer, từ đó đề xuất các bản nhạc mới mang phong cách tương tự.
 
Liệu phần mềm máy tính có thể sáng tác những bản nhạc xứng tầm Chopin hoặc Cream hay không còn là một ẩn số. Tiến sĩ Widmer tỏ ra nghi hoặc, nhưng thật khó để hiểu được tại sao. Nghệ thuật vĩ đại thường là sản phẩm của việc biết khi nào nên tuân thủ quy tắc và khi nào nên phá vỡ chúng. Đó chính xác là những gì ông đang dạy cho những cỗ máy của mình.
 
Anh Thư dịch

Giáo dục Mới tại Việt Nam: Những nhà tiên phong thể nghiệm

 GIÁO DỤC

20/11/2018 08:00 - Nguyễn Thụy Phương

Từ đầu thập niên 2000 đến nay, làn sóng Giáo dục Mới (Progressive Education hay Education Nouvelle) du nhập mạnh mẽ vào Việt Nam, bắt đầu bằng việc hàng loạt tác phẩm kinh điển của các nhà giáo dục được xuất bản ở Việt Nam, như Bí ẩn tuổi thơ (Maria Montessori), Kinh nghiệm và giáo dục, Dân chủ và giáo dục (John Dewey), Sự ra đời của trí khôn trẻ em (Jean Piaget),…

GS Nguyễn Phước Vĩnh Bang và vợ Lê Thị Tuất (giữa) cùng các đồng nghiệp. Ảnh lưu trữ gia đình GS Vĩnh Bang. 

Từ đầu thập niên 2000 đến nay, làn sóng Giáo dục Mới (Progressive Education hay Education Nouvelle) du nhập mạnh mẽ vào Việt Nam, bắt đầu bằng việc hàng loạt tác phẩm kinh điển của các nhà giáo dục được xuất bản ở Việt Nam, như Bí ẩn tuổi thơ (Maria Montessori), Kinh nghiệm và giáo dục, Dân chủ và giáo dục (John Dewey), Sự ra đời của trí khôn trẻ em (Jean Piaget),… Song song với những ấn bản này là sự ra đời của các trường mầm non hay tiểu học tư thục ứng dụng các chương trình đào tạo giáo viên theo quan điểm Giáo dục Mới, nổi lên mạnh mẽ nhất là những trường Montessori, Wardolf/Steiner, Reggio Emilia hay Jean Piaget. Tuy nhiên, không phải đến bây giờ những tư tưởng và việc thực hành giáo dục theo phương pháp Giáo dục Mới (GDM) mới du nhập vào Việt Nam cùng quá trình mở cửa và hội nhập kinh tế văn hóa. Thực ra, Giáo dục Mới dành cho trẻ em Việt đã từng có mặt ở đất nước chúng ta cách đây hơn 70 năm bằng tinh thần canh tân của một nhóm nam nữ trí thức xuất thân từ phong trào hướng đạo. 

Giáo dục Mới - một thuyết nhật tâm trong sư phạm

GDM là một quan điểm đặt trẻ em vào trung tâm của hệ thống giáo dục và coi trẻ em như một chủ thể vận động trong sự phát triển tự nhiên của chúng trên bình diện thể chất, tinh thần và trí tuệ. Quan điểm này đã được nhen nhóm vào thế kỷ 18, đặc biệt thông qua ngòi bút của Jean-Jacques Rousseau trong cuốn Emile hay là về giáo dục (1762), thể hiện một tinh thần tiên phong và khai phóng vì ông cho rằng cần phải có phương pháp giáo dục tôn trọng trẻ em và bản chất của trẻ. Tư tưởng này của Rousseau chỉ thực sự thiết lập và phát triển thành một tư tưởng giáo dục, một phong trào canh tân sư phạm mang tầm quốc tế từ cuối thế kỷ 19 trở đi và để đến đầu thế kỷ 20, người ta bắt đầu định danh đó là “thế kỷ của trẻ em”, như tiêu đề cuốn sách của Ellen Key (1899), một thế kỷ hướng đến sự am hiểu và bảo vệ trẻ em. Trên phương diện thực hành sư phạm, chúng ta chứng kiến một loạt mô hình trường học kiểu mới, mang tên trường học chủ động, được đưa vào hoạt động tại châu Âu và Mỹ: tại Pháp, Edmond Demolins lập Ecole des Roches (1899), Cecil Reddie mở Abbotsholme School (1889) tại Anh, Gustav Wyneken mở trường Wikerdorf (1906) ở Đức, tại Ý Maria Montessori mở Casa dei Bambini (1904), ở Thụy Sĩ, Édouard Claparède lập Maison des Petits (1913),… Phương pháp dạy ở những trường học kiểu mới này hướng đến việc học thông qua thực hành và khả năng tự quản (self-government). Thời kỳ vàng son của phong trào canh tân sư phạm này diễn ra vào giai đoạn giữa hai cuộc Thế chiến thông qua sự thiết chế hóa phong trào ở tầm quốc tế với sự ra đời của Văn phòng Quốc tế Trường học Mới (Bureau international des Ecoles nouvelles, 1899), Liên minh Quốc tế vì nền Giáo dục Mới (Ligue internationale pour l’Education Nouvelle, 1921) nơi hội tụ những nhà giáo dục, nhà khoa học và giới trí thức. Cú đòn giáng vào phong trào khiến nó khó lòng gượng dậy, đó chính là Thế chiến Thứ hai. Trường học đóng cửa, dân cư ly tán khiến cho những thể nghiệm và nghiên cứu buộc phải dừng lại. Tuy nhiên, tên tuổi và tư tưởng của những người sáng lập, khởi xướng vẫn còn ở lại với chúng ta như Ovide Decroly, Maria Montessori, Célestin Freinet, Édouard Claparède, John Dewey, Adolphe Ferrière, Roger Cousinet,… 

GDM thực sự là một thuyết nhật tâm của Kopernik trong ngành sư phạm vì nó “dám” đảo ngược và đổi chiều tư duy giáo dục truyền thống. Trường học phải thích ứng trước nhu cầu và mối quan tâm, sở thích, hứng thú của học sinh, nhà trường phải là nơi vừa học vừa hành và môi trường hợp tác và tương tác giữa học sinh với nhau và giữa giáo viên với học sinh. Giáo dục phải tự nhiên, gắn với đời thực, chuẩn bị hành trang vào đời, giáo dục phải dạy lòng vị tha và tôn trọng sự khác biệt. Đồng thời, phong trào này là một cuộc tái tư duy và tái định nghĩa về mục tiêu của giáo dục, về quan niệm về trẻ em, về chức năng của nhà trường, vai trò của người dạy và về phương pháp và giáo cụ sư phạm.




Học sinh trường Bách Thảo năm 1946. Ảnh lưu trữ gia đình GS Vĩnh Bang.

Hướng đạo và thiện nghĩa

Đương thời với phong trào sư phạm quốc tế này, tại Hà Nội, đầu thập niên 1940, những thể nghiệm GDM đầu tiên đã được tiến hành. Chính phong trào hướng đạo và hoạt động thiện nghĩa là hai khởi nguồn về nhân lực, tài lực cho mô hình mẫu giáo của GDM. Về bản chất, cội rễ của tinh thần hướng đạo là đào tạo một cách toàn diện thể chất và nhân cách của trẻ nhỏ. Nói một cách khác, GDM du nhập vào Đông Dương tìm thấy ở hướng đạo một mảnh đất màu mỡ để thể nghiệm và phát triển. Tuy nhiên, GDM có hiện thực hóa được hay không thì phải nhờ đến trợ lực vật chất và tài chính của những nhà thiện nghĩa như một số nhà tư sản người Việt thành đạt: Bạch Thái Bưởi [1], vợ chồng ông Nguyễn Sơn Hà, Trương Văn Bền, Trịnh Đình Kính… Thành viên của hai giới này đều hoặc là trí thức hoặc là doanh nhân, đều thuộc tầng lớp trí thức bản địa am hiểu văn hóa hay kỹ nghệ phương Tây, thấu hiểu thực trạng kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa nước nhà. Kiến thức và tinh thần nhân văn khiến cho họ, dù vẫn phải sống trong cảnh bị trị, đã tìm cách cải thiện tình hình hay canh tân một lĩnh vực bằng chính khả năng và vốn liếng của mình. Giáo dục, giáo dưỡng trẻ em, thế hệ tiếp nối tương lai, đó vừa là mục tiêu vừa là tầm nhìn của những trí thức này. Có lẽ cuốn sách Người thầy, ra mắt độc giả năm 1944, của trưởng tràng Hoàng Đạo Thúy, không những lập ngôn cho mục đích và hoạt động của phong trào hướng đạo nói riêng và giới trí thức nói chung, đó là vì sự nghiệp “trồng người”, mà còn xác định vị trí và vai trò của trí thức trẻ, đó là “chúng ta” “làm thầy” [2].

Tầng lớp tinh hoa trí thức và doanh nhân Việt lúc đó thực sự tiệm cận với cách giáo dục đương thời của phương Tây. Những thể nghiệm giáo dục này tại phương Tây là nhằm chuẩn bị đào tạo nên một thế hệ công dân mới đủ khả năng kiến thiết lại các quốc gia bị tàn phá và hằn thù nhau sau hai cuộc Đại chiến. Còn ở Việt Nam, những thể nghiệm này trong ánh chiều tà thời kỳ thuộc địa chắc hẳn là mong mỏi của tầng lớp tinh hoa Việt nhằm đào tạo nên những thanh thiếu niên Việt toàn diện chuẩn bị cho nền độc lập mà lúc đó họ đã dự cảm nó đang đến gần.

Từ lớp mẫu giáo thể nghiệm...

Ở thời điểm đó, không có cái “nôi” nào tụ hội những người yêu trẻ, vì trẻ, gần trẻ và thanh thiếu niên bằng các hội hướng đạo. Tại Đông Dương, đặc biệt ở Bắc kỳ, các nữ đoàn trưởng hướng đạo đa phần là giáo viên tiểu học. Vì lẽ đó, một cách tự nhiên, họ đầu tư công sức vào sự nghiệp giáo dục và giáo dưỡng trẻ em. Một trong những người đầu tiên khởi xướng mở các lớp mẫu giáo thể nghiệm theo mô hình GDM là nữ đoàn trưởng Nguyễn Thị Khang, phu nhân của chủ xưởng gỗ nội thất Trịnh Hữu Ngọc [3]. Tháng 5-1943, bà Nguyễn Thị Khang đệ đơn xin chính quyền thành phố Hà Nội cho phép sử dụng không gian Ấu trĩ viên4 của thành phố Hà Nội làm nơi thử nghiệm giáo dục cho lớp mẫu giáo mà bà đứng ra tổ chức. Bà tập hợp quanh mình chừng một chục nữ giáo viên mà bà gọi là “thực tập sinh giữ trẻ” và khoảng 40 cháu từ 3 đến 7 tuổi. 

Bà Trịnh Nhật Ánh, một “cô bé” học sinh 7 tuổi thời đó kể lại một thời mà đối với người phụ nữ giờ đã bát tuần coi rằng “đấy là cái thời đi sâu vào ký ức”: 

Lớp mẫu giáo mượn địa điểm ở nhà Tế Sinh, tức là gần Văn Miếu bây giờ. Lớp có nhiều đồ gỗ đẹp lắm, ông [Hữu Ngọc] cho đóng mỗi đứa một cái bàn cái ghế. Trẻ em dưới 3 tuổi, có cái ghế bô, có nắp đậy, để các cháu tự đi. Nếu bé thì chưa học chữ vội mà học tô màu cắt dán các hình, các hoa. Có các cô cho học thể dục nhịp điệu. Có một cô dạy múa dạy hát. Khoảng 3-4 chục cháu thôi vì cũng là thể nghiệm. Giờ giấc kỷ luật, ngày học hai buổi. Không có bán trú, trưa về nhà ăn, chiều quay lại học. Bà Nguyễn Thị Khang thì không dạy nhưng chuẩn bị giáo trình cho các cháu mẫu giáo như vẽ các hình hoa trên bìa cứng rồi tô các màu cắt ra để chỉ cho các cháu xem hình dáng, màu sắc. Học lớp vui vì lớp ít người, được cô giáo nói chuyện với từng em, chứ trước đây đi học ở trường các bà sơ, đông trẻ em, sợ lắm, có dám mở mồm nói cái gì đâu.(Phỏng vấn bà Trịnh Nhật Ánh, con gái ông Trịnh Hữu Ngọc, 10-2017, thành phố Hồ Chí Minh).

Những phụ huynh là bạn bè thân quen của vợ chồng ông bà Trịnh Hữu Ngọc, bản thân họ cũng là hướng đạo sinh, như doanh nhân Phạm Đỗ Nhật Chương, Ngô Bích San, Thẩm Hoàng Tín (về sau là thị trưởng của Hà Nội), bác sỹ Nghiêm Thị Thuần và vài doanh nhân như Nguyễn Sơn Hà và Phạm Đỗ Bính. Họ thường gửi một lúc hai đến ba người con vào lớp học này. Năm ngàn đồng bạc, một phần ngân sách ban đầu để mở lớp học này, do Nguyễn Sơn Hà, doanh nhân, kỹ nghệ gia, chủ hãng sơn Résistanco, gửi tặng. Lớp học thể nghiệm này phải tạm dừng trong năm 1944, do các gia đình phải đi tản cư. Tuy diễn ra không lâu, quy mô và phạm vi nhỏ hẹp, đối tượng không rộng rãi nhưng sự thể nghiệm này mang ý nghĩa khai mở cho ngành mẫu giáo Việt Nam và khẳng định sự đóng góp của hai giới tinh hoa, hướng đạo và thiện nghĩa, cho sự nghiệp giáo dục mới mẻ này. 

... đến trường tư thục Giáo dục Mới đầu tiên của Việt Nam

Trong hai năm 1943 - 1944 hoạt động của lớp mẫu giáo thể nghiệm này, một cặp đôi đang yêu nhau, bà Lê Thị Tuất và ông Nguyễn Phước Vĩnh Bang, đôi bạn thân tín của vợ chồng ông Hữu Ngọc, dưới sự hướng dẫn của bà Khang đã giúp họ thực hiện một ước vọng lớn hơn vài năm sau. Ngay sau khi chính phủ Hồ Chí Minh tuyên bố độc lập, hai vợ chồng Lê Thị Tuất và Vĩnh Bang mở một trường mẫu giáo tư thục ngay trung tâm Hà Nội ở đường Tống Duy Tân cũ, nay là phố Ngọc Hà. Trường mang tên Trường Mẫu giáo và Cơ bản Bách Thảo vì nằm ngay sát vườn Bách Thảo. Ông Vĩnh Bang thuật lại: Từ bỏ sự nghiệp nghệ thuật – hội họa – để dấn thân vào một nghề phụng sự trẻ em. Lập và điều hành trường học mới đầu tiên Bách Thảo tại Hà Nội vào năm 1945-1946, với 15 cộng sự và gần 300 trẻ em từ 4 đến 12 tuổi. (Trích lý lịch học thuật của Vĩnh Bang, Lưu trữ gia đình, Pháp).

Ông bà Vĩnh Bang quy tụ một đội ngũ nữ giáo viên mà ông gọi là “hướng dẫn viên”. Đây hẳn là một ẩn ý của ông vì ông chú thích từ này trong tiếng Pháp là từ “guide”, nó còn mang nghĩa thứ hai là “nữ hướng đạo sinh”. Về cơ sở vật chất, trường được trang bị khá đầy đủ, như lời kể của cháu ruột ông Vĩnh Bang, một “cậu bé” từng học tại đó mấy năm: 

Có cả bể bơi, ngoài sân rộng làm sân chơi cho trẻ con, có một góc cỏ làm sân bóng đá. Ông Bang cho đặt làm xích đu và bập bênh. Bàn ghế lớp học đều do ông đặt đóng riêng. Có phòng ăn rộng, hình như là từ cái garage ô tô thì phải, có chỗ ngủ buổi trưa.
 (Phỏng vấn ông Nguyễn Phước Bảo Hòa, học sinh của trường).

Về cách thức vận hành của trường: Học sinh được các hướng dẫn viên đưa đi đón về trên tàu điện, cha mẹ chỉ việc đến đúng bến tàu điện để đón con về. Các buổi chiều trẻ con thường được sang chơi hay tập thể dục trong vườn Bách Thảo. Học, tìm hiểu về cây cối, thực vật, hoa cỏ,… Chạy thể dục quanh hồ và trèo lên núi nhỏ. Tôi được học đạo đức (morale), nghĩa là dạy lễ phép, lịch sự. Thời đó, dạy rất kỹ về vệ sinh thân thể như rửa tay chân, đi ngủ sớm, biết lễ phép, không được đánh chửi nhau,… Lớp học của tôi chừng 15 trẻ. Toàn trường cũng phải có đến 40-50 trẻ. (Phỏng vấn ông Nguyễn Phước Bảo Hòa).

Đây quả là một thành quả nghề nghiệp đáng nể của đôi vợ chồng trẻ. Cùng lúc, họ vừa là nhà làm giáo dục vừa là doanh nhân để vận hành một ngôi trường. 

Điều làm chúng tôi, những người làm giáo dục sau thế hệ của ông bà 70 năm, cảm phục và cũng là phát hiện thú vị cho hậu thế, đó là việc chúng tôi khám phá được trong lưu trữ gia đình của ông Vĩnh Bang một cuốn sổ tay trong đó ông ghi chép và giải thích chi tiết mục đích, chương trình dạy và học, tổ chức và cách thức vận hành của trường, phân tích các phương pháp dạy, nêu ra những suy tư, băn khoăn, những câu hỏi hay những đúc kết kinh nghiệm giúp cho việc giảng dạy được cải thiện. Cuốn sổ thực sự như một quyển giáo án chuẩn bị lý thuyết sư phạm và cơ sở thực tiễn để mở trường, điều hành trường và giảng dạy. Những dòng lập thuyết và định nghĩa đầu tiên trong cuốn sổ tay ấy dần hé lộ cho độc giả mục tiêu tối thượng của giáo dục mẫu giáo. Trường mẫu giáo là những nhà giáo dục đầu tiên các trẻ trai và gái cùng được săn sóc, đòi hỏi những sự săn sóc để cho thể, tâm, trí cùng nảy nở và phát triển. (…) Nhà trường (…) có quyền và bổn phận giúp các bà mẹ hoặc thay thế để săn sóc mỗi khi trẻ đòi hỏi. (…).Nhà trường nhận trẻ nhà giàu cũng như trẻ nhà nghèo, những trẻ khỏe mạnh cứng cáp cũng như những bé ốm yếu, những trẻ sạch sẽ, nhanh nhẹn, thông minh cũng như những em đầy di truyền tai hại, những trẻ đã chịu cuộc đời khổ sở, mất cả lòng tin (…). Nhưng bất luận trẻ nào, nhà trường cũng cố làm cho các trẻ tập cuộc sống hợp đoàn, cố hiểu để trọng luật chung, chung sức trong lúc tập học cũng như lúc chơi đùa, chú ý đến công việc, gắng sức làm cho khéo đẹp với tất cả thông minh, nhẫn nại, bền bỉ và vui vẻ.

Ông dành nhiều trang đề cập đến phương pháp sư phạm, chú trọng đến sự tự do, cá tính ở trẻ trong quá trình giáo dục. Giáo dục trẻ không chỉ là rèn luyện, dạy bảo mà còn khơi gợi, đánh thức tiềm năng:(…) Biết lợi dụng những năng khiếu của chúng, trẻ sẽ tiếp xúc mà hiểu sự vật chung quanh. Sự hiểu biết ấy phải luyện cho trẻ quen phát biểu. (…) Để điều khiển sự phát triển của trẻ phải dựa vào những phương pháp hoạt động kể cả về đức dục. Và nhớ rằng cho trẻ thu nhận những môn giáo khoa từ lúc nào trẻ đã nhận được ngoại vật và trí tuệ đã xây đắp.

Ông thực sự là một nhà sư phạm có tinh thần canh tân, có tư duy phản biện và có ý thức xã hội. Hoạt động giảng dạy đối với ông không chỉ gói gọn trong địa hạt giáo dục mà còn là trách nhiệm xã hội. Thật đáng tiếc, do chiến tranh bùng nổ, trường Bách Thảo phải đóng cửa vào tháng 12-1946, khép lại một ý hướng khai mở thực hành giáo dục mầm non của vợ chồng ông Vĩnh Bang và bà Lê Thị Tuất cùng những cộng sự của họ. Sau đó, ông bà sang Geneva tu nghiệp và sau này, ông Vĩnh Bang trở thành nhà tâm lý học sư phạm hàng đầu của Thụy Sĩ, là cánh tay phải của Jean Piaget. Giới đại học đánh giá đóng góp của ông: 

Người giảng viên hài hòa giữa sự chính xác thực nghiệm, trí tưởng tượng và sự giản dị, nhà trí giả và “nhà ngoại giao của ngành tâm lý học” tại đại học, Bang đã góp phần vào sự phát triển của lý thuyết Piaget theo hướng chuẩn xác hơn mà vẫn truyền đến cho sinh viên của mình sự tôn trọng “tính khác biệt của trẻ em. (…) Đặc biệt ông có công lao rất lớn làm biến đổi theo chiều sâu và hiện đại hóa Trường Tâm lý học và Giáo dục học. Giáo sư Vĩnh Bang là người mở và phát triển ngành học phương pháp học tâm lý và tâm lý sư phạm. Ông cũng là người thúc đẩy và chỉ đạo việc nghiên cứu ứng dụng các kết quả cơ bản của tâm lý phát sinh vào việc giảng dạy ở phổ thông. (Rita Hofstetter, Marc Ratcliff, Bernard Schneuwly, Một trăm năm cuộc đời 1912-2012, trường Đại học Tâm lý học và Giáo dục học kế thừa Viện Rousseau và thời đại Piaget, Genève, Georg Editeur, 2012, tr.99 và Nhật báo Tribune de Genève, ngày 5-10-1988, tr.23).

Kết luận

Dưới danh nghĩa mẫu giáo tư thục đầu tiên của nền độc lập và của GDM tại Việt Nam, sự ra đời và tồn tại, dù ngắn ngủi trong khoảng một năm, của Bách Thảo hàm chứa nhiều ý nghĩa. Thứ nhất, GDM du nhập được vào Việt Nam là nhờ hai mạng lưới hướng đạo và thiện nghĩa, bên góp nhân lực và kiến thức, bên góp tài lực và các mối quan hệ. Họ đưa việc chăm sóc và bảo vệ trẻ em tại Việt Nam dưới thời thuộc địa được thay đổi về chất. Tầng lớp tinh hoa Việt nỗ lực tìm kiếm phương cách đào tạo những nhi đồng, thiếu niên Việt toàn diện để chuẩn bị cho nền độc lập mà lúc đó họ đã dự cảm nó đang đến gần. Thứ hai, GDM và phong trào nữ hướng đạo như dòng hợp lưu tạo nên diện mạo mới phong trào nữ quyền tại Việt Nam dưới thời thuộc địa. Sự gặp gỡ này không chỉ nâng cao vai trò xã hội và nghề nghiệp của nữ giáo viên mà còn đóng góp về mặt nhân lực cho hệ thống mầm non tiểu học còn non trẻ của Việt Nam buổi đầu độc lập. Thứ ba, nền giáo dục mầm non của Việt Nam độc lập đã tiếp thu về mặt nhận thức và phương pháp của Giáo dục Mới.     

Những thể nghiệm sư phạm này tại Việt Nam bị ngắt quãng bởi nhiều thập niên. Ngày nay, nó du nhập và phát triển trở lại, quy mô và phong phú hơn. Chúng ta hi vọng rằng nhu cầu chăm lo của các phụ huynh cho con em mình bắt nhịp được với mong muốn giáo dục và giáo dưỡng của những nhà thực hành giáo dục để cho trẻ em trở thành những người được thụ hưởng thực sự chứ không đơn thuần chỉ là đối tượng tiêu dùng sản phẩm giáo dục từ những người cung cấp dịch vụ giáo dục. Có như vậy, hẳn là những nhà tiên phong cách đây 70 năm sẽ mãn nguyện vì sự nghiệp của họ được các thế hệ sau tiếp nối. □ 

-------------

*TS, Nghiên cứu viên Đại học Paris Diderot & Đại học Geneva

Chú thích: 

1 Bạch Thái Bưởi giúp Nguyễn Quý Toàn và Trịnh Văn Hội gây dựng, ở Hà Nội, Trường Thể dục đầu tiên tại Đông Dương vào năm 1919. Ông còn mở cơ sở in, xuất bản Đông Kinh ấn quán và tờ Khai hóa nhật báo để cổ động phong trào thực nghiệp.

2 Hoàng Đạo Thúy, Nghề thầy, Hà Nội, NXB Khoa học Xã hội, tái bản, 2016, tr. 10.

3 Trịnh Hữu Ngọc (1912-1997): Chủ xưởng mộc Mémo lừng danh đầu thế kỷ 20. Ông là tác giả hơn 600 tác phẩm hội họa và thiết kế đồ gỗ có giá trị cao, truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ nghệ sỹ về sau.

4 Được khánh thành ngày 15-6-1935, đây là công viên (có thu phí vào cửa) dành cho trẻ em, thiếu nhi, thiếu niên của thành phố Hà Nội. Công viên bao gồm một bể bơi, một sân khấu, quầy nước và nhiều sân bãi trò chơi. Ngày nay, nó chính là vị trí của Cung Văn hóa Thiếu nhi.

5 Mina Audemars (1883-1971), Louise Lafendel (1872-1971): Hai nhà giáo dục người Thụy Sĩ, sáng lập ra Maison des Petits vào năm 1913, lấy cảm hứng từ trường Casa dei Bambini của Maria Montessori.

6 Hội Tâm lý – Giáo dục học Việt Nam, tài liệu đã dẫn, tr.18.

Thế giới năm 2021: Dự báo xu hướng giáo dục

 

03/03/2021 07:00 - Nguyễn Thụy Phương

Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, năm 2021 và những năm tới đây, giáo dục toàn cầu phải đối mặt với những hệ quả và thách thức nào? Các hệ thống giáo dục quốc gia sẽ phải chuẩn bị những chính sách và biện pháp ra sao?

Đảo lộn toàn cầu

Đây là hai hiện tượng nổi bật nhất xảy ra đồng loạt tại các hệ thống giáo dục quốc gia trong năm 2020, năm đầu tiên của đại dịch Covid-19, mà chỉ cần theo dõi truyền thông thì độc giả có thể dễ dàng nhận thấy: đóng cửa trường để dạy và học tại gia, công cụ và phương tiện dạy - học thông qua các nền tảng trực tuyến. Chính phủ các quốc gia, đặc biệt thuộc khối OECD, áp dụng những biện pháp ngắn hạn sau nhằm trợ giúp hệ thống giáo dục : trang bị thiết bị học trực tuyến, thiết kế nội dung chương trình và thời lượng học, trang bị thiết bị bảo hiểm và vệ sinh, và trợ giúp tài chính cho nhà trường và học sinh. Điểm nổi bật tích cực nhất là khả năng thích ứng và cải tiến phương pháp sư phạm và công nghệ dạy học nhanh đến bất ngờ và trên diện rộng. Tuy nhiên, ẩn dưới bề mặt này là thực trạng bất bình đẳng, học sinh thuộc nhóm xã hội bình dân hay nghèo túng thì không được trang bị công cụ trực tuyến (máy tính hay đường truyền tốt) cũng không được phụ huynh chăm chút, động viên nên bị gạt bên lề và dẫn đến kết quả học tập suy kém. Vấn đề nổi cộm thứ hai liên quan đến sức khỏe tinh thần. Thời gian cấm túc dài mười mấy tuần khiến cả học sinh lẫn giáo viên phải đối mặt với khả năng tập trung, tự chủ trong việc học và những biểu hiện bất ổn về tinh thần (tuy nặng nhẹ khác nhau). Nhiều quốc gia như Pháp, Ý, Anh, Mỹ đã trải qua hai lần cấm túc nhưng vẫn bị dự báo là có thể thêm lần cấm túc thứ ba vào đầu năm 2021.

 

Số học sinh bị ảnh hưởng bởi Covid-19

% / tổng số học sinh

Số quốc gia đóng cửa trường học

28/05/2020

997,684,919

57%

129

28/12/2020

158,486,270

9.1%

12

Chất lượng giáo dục giảm, tăng trưởng kinh tế giảm 

Theo đánh giá của các chuyên gia của OECD, việc học hành bị gián đoạn ảnh hưởng xấu đến chất lượng, kết quả học tập, từ đó làm giảm kỹ năng của người đi học mà yếu tố này lại gắn với hiệu suất làm việc. Hệ quả trực tiếp là tổng sản phẩm nội địa (GDP) có thể giảm xuống dưới 1,5% trong những thập niên tới1. Kinh tế nội địa và thương mại liên quốc gia giảm tốc nên những lĩnh vực như giáo dục sẽ bị “soi xét” lại trong mức độ ưu tiên về đầu tư tại mỗi quốc gia. Chi tiêu công cho giáo dục trong trung và dài hạn chắc chắn bị cắt giảm, điều này đã bắt đầu thể hiện ở ngay năm 2020. Theo báo cáo của ba tổ chức quốc tế UNESCO, UNICEF và World Bank, 64% các quốc gia khẳng định đã giảm ngân sách công cho giáo dục trong năm 2020 và tiếp tục cắt vào năm 2021 nhắm vào quỹ lương, việc này đồng nghĩa không tuyển dụng thêm giáo viên trong những năm tới. Nguồn đầu tư tài chính đến từ khối tư nhân cho giáo dục cũng hiếm hơn vì kinh tế yếu và thất nghiệp tăng. Như vậy, tác động của khủng hoảng lên đầu tư giáo dục thể hiện ở hai cấp độ. Thứ nhất là giảm chi tiêu công kèm với đó là giá thành chi tiêu tăng trong suốt cơn dịch. Thứ nhì là các nguồn tài chính vốn có dành cho giáo dục sẽ giảm đáng kể. Các chuyên gia của International Institute for Educational Planning (thuộc UNESCO) dự đoán đòn gánh đầu tư cho giáo dục sẽ nghiêng nhiều về phía hộ gia đình vì nhà nước - đầu kia của đòn gánh, không còn đủ sức nâng đỡ. Nguy cơ về bất bình đẳng, vì thế, càng nhãn tiền hơn, gia đình khá giả thì con cái tiếp tục được đầu tư học hành và ngược lại. “Trên toàn thế giới, những bất bình đẳng tiếp cận giáo dục sẽ còn là cái hố được đào sâu hơn và cơn khủng hoảng về giáo dục toàn cầu sẽ gay gắt hơn”1. Điều này sẽ kìm hãm mục tiêu quan trọng nhất của phát triển bền vững do UNESCO đề ra: mọi trẻ em đều được tiếp nhận một nền giáo dục chất lượng.

Trước thực trạng này, giáo dục với tư cách là phương tiện tạo nên bình đẳng giới có nguy cơ thất bại vì học sinh nữ sẽ chịu thiệt thòi nhất (không được đến trường, ép tảo hôn, lao động tại gia…) khi giáo dục không được đầu tư đúng mức, đặc biệt tại những nước nghèo hoặc đang phát triển.

Tiếp tục thích ứng và biết xử thế đúng bối cảnh là hai điều kiện cần thiết để đáp ứng được những đòi hỏi của từng địa phương và đảm bảo các nhu cầu học tập, sức khỏe và an toàn của mỗi học sinh. (UNICEF-UNESCO-World Bank).

Bài toán đau đầu giữa nhu cầu tăng đầu tư cho giáo dục trong khi tăng trưởng kinh tế chật vật ở giai đoạn hậu đại dịch, giáo dục sẽ nằm ở đâu trong nấc thang ưu tiên của nhà nước so với những lĩnh vực khác như y tế, kinh tế, thương mại?

Tiếp đà cải cách sư phạm

Từ quan điểm thuần túy sư phạm hay giáo học pháp, việc dạy - học từ xa vốn chỉ nhận được sự nghi ngại, thậm chí phản đối, từ các phía giáo viên, gia đình và nhà quản lý giáo dục từ nhiều năm nay ngay cả khi các nền tảng trực tuyến đã nở rộ. Thực ra, việc đưa công nghệ và công nghệ số thành công cụ giảng dạy có cả một chu trình lịch sử của nó, từ thiết bị nghe nhìn, video, bảng điện tử hay gần đây nhất là máy tính, tablet… Nhưng chỉ trong vòng 3-6 tháng, chúng ta chứng kiến một hiện tượng chưa từng xảy ra trong lịch sử giáo dục của nhân loại: các loại màn hình (máy tính, smartphone) trở thành giao diện sư phạm chính thức. Khủng hoảng thường là thời điểm tạo nên khả năng đổi mới sáng tạo để cải tiến những thiếu sót bất cập chứ không đơn thuần chỉ là trở về với “trạng thái bình thường” của quá khứ.

Các hệ thống giáo dục nên tiếp tục hoàn thiện và cải cách công cụ, phương tiện, phương pháp, dịch vụ học trực tuyến (online platforms, broadcast media (TV/radio), paper-based take-home packages…), và cũng nên đánh giá, so sánh hai phương pháp trực diện (offline) và trực tuyến (online) đến chất lượng giảng dạy và kết quả học tập cũng như sự tương tác giữa thầy và trò. Việc này sẽ giúp nâng cao trình độ sử dụng công nghệ và khả năng học tự lập của học sinh, giúp các thế hệ học sinh tiếp thu được các kỹ năng cần thiết trong cuộc sống và công việc tương lai như tương tác, hợp tác, tương thuộc, tương hỗ...

Để công cuộc này thành công thì vai trò và sứ mệnh của giáo viên chiếm phần quan trọng. Giáo viên phải là tác nhân và tác giả của những đổi thay không chỉ trong việc áp dụng công nghệ mà còn trong tư duy và sáng tạo sư phạm. Các nhà hoạch định và quản lý giáo dục phải rất chú trọng đến sự kết nối giữa giáo viên và phụ huynh để tạo nên mối liên hệ tin cậy trong việc đồng hành và theo dõi học sinh. Để tạo sức bật, tiếp tục đổi mới và tăng cường khả năng ứng phó, hơn bao giờ hết các hệ thống giáo dục phải tăng cường năng lực quản lý trong những thay đổi. Có thể chính trong cơn biến này, chúng ta sẽ biết nắm bắt để làm cho chương trình, môi trường, phương tiện dạy và học thích ứng hơn nữa với nhu cầu của những thập niên tới.

Các chính phủ phải nhìn nhận sự canh tân đổi mới như một chính sách chiến lược dựa vào nền tảng nghiên cứu được đầu tư tài chính đúng mức và vững chắc về phương pháp luận. Trên thực tế, đổi mới và nghiên cứu cho giáo dục hiện đang là mảng yếu và thiếu. Đơn cử, ngân sách nghiên cứu cho y tế công của các quốc gia thuộc khối OECD cao gấp 17 lần so với ngân sách nghiên cứu cho giáo dục. Cột mốc đại dịch này là lời kêu gọi các chính phủ phải thay đổi chính sách vì không có đổi mới sẽ không có cải thiện, vì không có chất lượng giáo dục tốt sẽ không có nguồn nhân công chất lượng cao, và hệ quả trực tiếp là nền kinh tế quốc dân sẽ luôn ở tầm trung, không bứt phá nổi. 


Sau Tết Nguyên đán 2021, học sinh hơn 20 tỉnh thành đã phải học trực tuyến nhưng việc học trực tuyến cũng khiến nhiều gia đình ở các vùng nông thôn, gia đình không có điều kiện kinh tế gặp nhiều khó khăn khi không thể trang bị riêng cho con phương tiện học tập hoặc không thể kèm con học. 

Điều hòa và cân đối trong thách thức 

Trường học bị đảo lộn, vậy thì chúng ta phải tư duy lại về trường học trên phương diện chính sách và quản lý để sao cho các hệ thống giáo dục quốc gia tiếp tục thích ứng và kịp thay đổi trước thời cuộc. Điều hòa và cân đối vừa là một tâm thế quản trị vừa là kỹ năng kiểm soát của những nhà hoạch địch và quản lý các nền giáo dục.

Trước hết, chúng ta phải cân bằng những câu thúc giữa thời lượng chương trình vốn có với đổi mới chương trình. Có hai xu hướng trên thế giới: nhóm quốc gia đặt trọng chương trình cơ bản vì nó là nền tảng cho sự tiếp nhận kiến thức và thi cử của học sinh, nhóm quốc gia kia ưu tiên phát triển các kỹ năng nhận thức, xã hội, cảm xúc và sức khỏe tinh thần (well-being) của học sinh. Tuy nhiên, theo khảo sát của OECD2, có một độ chênh giữa quan điểm của đại diện chính phủ với quan điểm của giáo viên: chính phủ tập trung vào việc dạy-học căn bản, còn giáo viên nhấn mạnh đến việc tăng khả năng tự lập của học sinh. Để thỏa hiệp được hai điều này thì chúng ta cần phải tính toán sao cho việc xây dựng, cải cách và áp dung chương trình mới sẽ không làm quá tải cho cả học sinh và giáo viên tùy theo mức độ vùng miền, loại trường, điều kiện vật chất… Ngoài ra, giáo viên đáng nhận được ủng hộ và hỗ trợ vì nghề đi dạy ngày nay không giới hạn ở việc truyền đạt kiến thức mà họ còn phải quan tâm đến sức khỏe tinh thần của học sinh. Những phương pháp đổi mới nâng cao năng lực giáo viên như phát triển bản thân, khai vấn, cố vấn (personal development, coaching, mentorat) quả thực là cấp thiết.

Một trong những điểm then chốt ngay trong năm học mới là đánh giá kết quả học tập của học sinh và trong những năm sau, tiếp tục theo dõi lộ trình học tập của các lứa học sinh. Phương thức tiến hành đánh giá - kiểm tra - theo dõi và trách nhiệm của các bên giữa nhà trường, học sinh và phụ huynh phải được phối hợp chặt chẽ. Cuộc khủng hoảng này giúp chúng ta nhận ra rằng tập thể (giáo viên, ban giám hiệu, phụ huynh, cộng đồng) cùng đồng tình và đồng lòng là quan trọng biết chừng nào. Một quy chế mới chỉ có thể được thi hành đúng và đạt mục đích khi các nhà trường áp dụng một cách tích cực, thậm chí sáng tạo. Cấp lãnh đạo nên đề cao và khích lệ khả năng tự chủ, sáng kiến vượt qua khó khăn của mỗi cơ sở giáo dục. Vì nếu áp đặt cứng nhắc từ cấp cao sẽ dễ gây nên lộn xộn, lúng túng trong áp dụng và cảm giác “không tuân phục” của cấp dưới.

Mỗi quốc gia phải tự đưa ra danh sách những ưu tiên trong các biện pháp trước mắt và các chính sách trung và dài hạn về đầu tư và quản lý cho hệ thống giáo dục của mình. Trong bối cảnh này, tài năng quản lý và điều phối của các nhà lãnh đạo phải được thể hiện qua việc cân đối giữa nhu cầu và khả năng, giữa kiên định và linh hoạt. 

Vaccine đã được tìm ra không có nghĩa là hạn dịch đã chấm dứt. Những gì đang chờ đợi chúng ta trước mắt vẫn là thử thách và bất định. Một lần nữa, trong chiều dài lịch sử nhân loại, thời khắc đại dịch này là lời kêu gọi cho sự thích ứng mới để đổi mới sáng tạo và dấn thân vì những mục tiêu phát triển bền vững. Xây dựng một xã hội có sức bền và sức bật tốt hơn chính là trách nhiệm của thế hệ chúng ta để tạo thành di sản cho con cháu trong những thập niên tới!

Tài liệu tham khảo

- Andreas Schleicher, The impact of COVID-19 on education - Insights from Education at a Glance 2020, OECD
- What have we learnt ? Overview of findings from a survey of ministries of education on national responses to COVID-19, UNESCO, World Bank & UNICEF
- Anticipated impact of COVID-19 on public expenditures on education and implication for UNESCO work, 2020
- Fernando M. Reimers, Andreas Schleicher, Schooling disrupted, schooling rethought. How the Covid-19 pandemic is changing education, OECD’s report, 2020
- Education and COVID-19: Focusing on the long-term impact of school closures, OECD’s report, 2020
Chú thích: 
Andreas Schleicher, The impact of COVID-19 on education - Insights from Education at a Glance 2020, OECD
Fernando M. Reimers, Andreas Schleicher, Schooling disrupted, schooling rethought. How the Covid-19 pandemic is changing education, OECD’s report, 2020

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Blogger Templates