SƯU TẬP NHỮNG KIẾN THỨC CẦN THIẾT CHO GIÁO VIÊN ÂM NHẠC VIỆT NAM THỜI 4.0

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

Chủ Nhật, 1 tháng 8, 2021

Chuyển đổi số trong giáo dục: Những thách thức và nguy cơ

 

05/02/2021 07:00 - Đỗ Thị Ngọc Quyên

Vài năm trở lại đây, người ta nhắc ngày càng nhiều đến ‘chuyển đổi số’ (digital transformation), nhất là ở các ngành kinh tế, kinh doanh, dịch vụ. Còn trong giáo dục, phải đến khi đại dịch Covid-19 bùng phát trên phạm vi toàn cầu làm đình trệ mọi hoạt động kinh tế xã hội, học sinh, sinh viên không thể đến trường, chuyển đổi số mới thực sự trở thành một quá trình mà kết quả của nó có thể là một diện mạo giáo dục hoàn toàn mới, với phương thức, cách thức, phương pháp, kĩ thuật, công cụ và phương tiện mới.


Các em học sinh vùng sâu vùng xa phải lên đỉnh đồi để bắt sóng học trực tuyến. Ảnh: Dân Trí


1. Giáo dục mở - học liệu mở - khoa học mở

 

Chuyển đổi số hẳn không phải là câu chuyện mới chỉ của ngày hôm qua. Từ hai thập kỷ qua khi công nghệ thông tin, mạng Internet được sử dụng rộng rãi trong đào tạo, giáo dục, chuyển đổi số đã được đặt ra, nhưng phần nào còn mơ hồ, bởi chưa thực sự có những lý do để bắt buộc phải thực hiện nó.


Những tiến bộ về CNTT và sự thâm nhập của mạng Internet đã dẫn tới những sáng kiến về giáo dục mở với sự xuất hiện của các khóa học trên các nền tảng trực tuyến MOOCs như Coursera, Udemy, edX, về học liệu mở với sự ra đời của các chương trình ứng dụng học tập, kiểm tra thích ứng (adaptive learning and assessment apps) như Acellus, IXL, Mathletics, và khoa học mở với các cơ sở dữ liệu nghiên cứu khoa học trực tuyến chia sẻ miễn phí (Open Access databases). Sự ra đời và ngày càng phát triển về cả thị trường và công nghệ cho những nền tảng này cho thấy ‘giáo dục số’ có lý do để tồn tại, và hoàn toàn có tiềm năng là tương lai của giáo dục. Tuy nhiên, khi vẫn còn có lựa chọn khác, giáo dục theo phương thức truyền thống vẫn còn có thể, thì vẫn còn có lý do để từ chối chuyển đổi, giáo dục trực tuyến vẫn chỉ là phụ thêm khi có hoặc thiếu một số điều kiện.


Nhưng…

 

2. Thiên tai, dịch bệnh quy mô lớn ± Covid- 19

 

Năm 2020 chứng kiến những diễn biến có thể nói là chưa từng có trong lịch sử thế giới hiện đại. Nhiều hoạt động xã hội bị đình trệ trên phạm vi cục bộ địa phương, quốc gia và toàn cầu do đại dịch Covid-19. Khi giáo dục đã từ lâu là nhu cầu đương nhiên được đáp ứng, chúng ta bỗng dưng phải đối mặt với câu hỏi ‘làm sao để được giáo dục’. Triển khai được hoạt động giáo dục không chỉ là vấn đề cá nhân, mà còn là sự sống còn đối với các nhà trường và các cơ quan quản lý và sự vận hành xã hội. Khi giáo dục trực tiếp tại trường lớp là không thể, vấn đề chuyển đổi số trở thành giải pháp cứu cánh ở nhiều cấp từ vi mô đến vĩ mô. Đương nhiên trong hoàn cảnh này, chuyển đổi số không thể hời hợt, bề ngoài mà phải toàn diện, đầy đủ, chuẩn xác… để có thể đem lại kết quả mong muốn. 


Vậy…

 

3. Chuyển đổi số trong giáo dục là chuyển đổi những gì? 

 

Một câu hỏi lớn đặt ra là chuyển đổi số trong giáo dục bao gồm sự chuyển đổi ở lĩnh vực, khía cạnh nào và mức độ ra sao. Câu trả lời không giống nhau đối với các cá nhân, các tổ chức và các quốc gia, bởi lẽ xuất phát điểm của chuyển đổi số là rất khác nhau. Có một điểm chung là chuyển đổi số phải cho phép giáo dục được thực hiện toàn diện và đầy đủ mà không có gặp mặt, giao tiếp trực tiếp, có nghĩa rằng phương thức chuyển tải giáo dục thay đổi. Đào tạo trực tuyến rõ ràng không phải là điều mới mẻ, lạ lẫm, nhưng đào tạo trực tuyến trong hoàn cảnh hoàn toàn không có lựa chọn tiếp cận trực tiếp dẫn đến thay đổi ở nhiều khía cạnh khác,  đòi hỏi nhiều điều kiện mới. 


Dễ thấy nhất là những thay đổi về các yếu tố đầu vào. Để giáo dục trực tuyến có thể, toàn bộ đầu vào cho quá trình giáo dục phải được số hóa, trong đó quan trọng nhất là học liệu, tài liệu, sách giáo khoa. Toàn bộ dữ liệu về người học cũng cần phải số hóa để thực hiện quy trình quản lý người học và thực hiện đánh giá quá trình cũng như kết quả học tập. Một trong những vấn đề lớn nhất của đào tạo trực tuyến là tính xác tín của quá trình đào tạo. Làm thế nào để đảm bảo việc đào tạo, đánh giá, kiểm tra, công nhận kết quả và cấp bằng và chứng chỉ cho đúng đối tượng? Làm thế nào để xác thực danh tính của người học, người thi? Những công nghệ mới nhất đã hỗ trợ việc này nhưng việc đảm bảo tính nghiêm ngặt của việc thi cử truyền thống vẫn còn để ngỏ.


Hơn nữa, khi phương thức đào tạo thay đổi, trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ đào tạo và giáo dục cũng thay đổi. Chuyển đổi số không đơn giản chỉ là số hoá các nguồn tài liệu mà còn bao gồm việc chuyển đổi phần cứng, kéo theo việc quản trị các nguồn lực dành cho giáo dục, đào tạo cũng thay đổi.


Thứ hai, quá trình giáo dục có những thay đổi căn bản. Phương thức thay đổi dẫn đến phương pháp, kỹ thuật sư phạm truyền thống không còn hiệu quả. Cách thức thực hiện, triển khai phương pháp bắt buộc phải thay đổi, đòi hỏi sự sáng tạo, linh hoạt trong vận dụng và sử dụng các thiết bị, tính năng của công nghệ sao cho việc giảng dạy đạt kết quả kỳ vọng. Chuyển đổi số không chỉ là số hóa bài giảng, hay ứng dụng các phần mềm vào soạn bài dạy, mà còn là sự chuyển đổi toàn bộ cách thức, phương pháp giảng dạy, kỹ thuật quản lý lớp học, tương tác với người học sang không gian số, khai thác công nghệ thông tin để tổ chức giảng dạy thành công. Công việc này đòi hỏi phải có sự nghiên cứu và ứng dụng khoa học tâm lý học thần kinh (neuroscience), trí tuệ nhân tạo AI vào thiết kế nội dung cũng như công cụ thực hiện giảng dạy, tận dụng thế mạnh của công nghệ để thực hiện cá nhân hoá chương trình giáo dục, điều không thể thực hiện được khi đào tạo trực tiếp truyền thống với sĩ số học sinh đông (50-60 học sinh/lớp) như ở các thành phố lớn ở Việt Nam. Bên cạnh đó, toàn bộ dữ liệu về quá trình học tập của học sinh cũng được theo dõi và lưu trữ bằng công nghệ chứ không phải thông qua hệ thống hồ sơ sổ sách thông thường.


Tiếp đó, về kết quả đầu ra, chuyển đổi số phải đảm bảo việc kiểm tra, đánh giá được thực hiện trong quá trình giáo dục, kể cả đánh giá kết quả đào tạo. Không chỉ kết quả đánh giá được số hoá, mà quá trình đánh giá cũng phải được triển khai, thực hiện bằng ứng dụng công nghệ trên máy tính. Giáo viên cần tập trung vào công việc giảng dạy, và cần được giải phóng khỏi các công việc hành chính, giấy tờ như làm sổ sách, sổ điểm, học bạ, quản lý hồ sơ học tập của người học.


Cuối cùng, về môi trường giáo dục, cần có hệ thống chính sách cấp hệ thống và cấp cơ sở giáo dục phù hợp để đào tạo trực tuyến được công nhận hợp pháp. Việc xây dựng và ban hành chính sách đòi hỏi sự nghiên cứu kỹ lưỡng và khoa học nhưng về cơ bản không phải là thách thức lớn. Thách thức chủ yếu nằm ở việc thực thi chính sách, bởi lẽ để chính sách đi vào đời sống, cần phải có hệ thống các công cụ giám sát, quản lý và đảm bảo chất lượng giáo dục trực tuyến để đảm bảo tính giá trị của hình thức đào tạo này. Tức là các thiết chế tạo điều kiện cho giáo dục (enablers) cần phải được chuyển đổi sang số hóa cả về cách thức thực hiện, từ khâu lấy dữ liệu đầu vào cho đến khâu trích xuất dữ liệu đầu ra.


Tóm lại, chuyển đổi số trong giáo dục là một quá trình xảy ra mà sự thay đổi không nằm ở đối tượng tham gia vào quá trình giáo dục hay các bên liên quan mà nằm ở phương thức thực hiện giáo dục. Sự thay đổi về phương thức tất yếu dẫn tới những thay đổi về phương pháp, cách thức, kỹ thuật thực hiện giảng dạy, đào tạo. Phần lớn các yếu tố đầu vào cũng thay đổi để phù hợp với phương thức và những phương pháp và kỹ thuật mới, sản phẩm đầu ra cũng vì thế mà có thể thay đổi tương ứng. Khi thực hiện chuyển đổi số, có thể nói toàn bộ cái cách giáo dục, đào tạo được tổ chức, thực hiện và quản lý thay đổi. Trải nghiệm giáo dục khác sẽ khiến cho một số năng lực, kỹ năng đầu ra của người học không còn, nhưng đồng thời một số năng lực, kỹ năng mới sẽ hình thành. Trọng tâm của chuyển đổi số là trải nghiệm của người học sẽ hoàn toàn thay đổi. Hiển nhiên tư duy quản lý giáo dục cần phải chuyển đổi, mở hơn và linh hoạt hơn để có thể hình dung và nắm bắt được những yếu tố vô hình. 

 

4. Chuyển đổi số: cần những gì để thành công?

 

Có thể thấy rằng việc chuyển đổi số tác động tới nhiều bên liên quan khác nhau trong đó trực tiếp và chịu tác động lớn nhất là người học và giảng viên, kế tiếp là đội ngũ hành chính văn phòng, đội ngũ quản lý, những người phải trực tiếp thao tác, vận hành hệ thống. Các nhà lãnh đạo và ra quyết sách cấp cao trong ngành giáo dục cũng cần phải thay đổi tư duy quản lý.


Trước nhất, chuyển đổi số đòi hòi hạ tầng công nghệ mới, trang thiết bị mới cho cả người học, người trực tiếp giảng dạy, cơ sở giáo dục và cơ quan quản lý. Đi kèm thiết bị phần cứng là các ứng dụng phần mềm, các nền tảng (platform) để toàn bộ mọi hoạt động giáo dục và quản lý của các cấp diễn ra trên đó. Nếu như ứng dụng CNTT vào giáo dục chủ yếu đề cập đến những chương trình, phần mềm riêng lẻ, tách biệt, chuyển đổi số yêu cầu tất cả những thứ riêng lẻ này phải tương thích và kết nối với nhau, tích hợp và ‘có thể tiếp cận được’ (accessible) trên cùng một nền tảng. Nền tảng này cho phép các hoạt động giảng dạy, quản lý, học tập, kiểm tra, đánh giá, thi cử, quản lý người học và việc giảng dạy, cũng như toàn bộ việc tương tác giữa người học với giáo viên và nhà trường cùng diễn ra. Đường truyền Internet ổn định là yếu tố đương nhiên cần phải có để platform này hoạt động.


Để vận hành một hệ thống như vậy đương nhiên đòi hỏi tư duy và năng lực quản lý của lãnh đạo ngành giáo dục cũng như lãnh đạo nhà trường phải thay đổi. Họ phải tìm ra cách thức nắm bắt những gì có thể trên không gian ảo, khai thác hiệu quả công nghệ cho mục đích này. Họ cần trang bị hiểu biết và tư duy số để có thể làm chủ công nghệ và hiểu rõ giới hạn của công nghệ.


Chuyển đổi số cũng không thể thành công nếu những người trực tiếp thực hiện việc đào tạo không có đủ kỹ năng sử dụng công nghệ. Giáo viên cần phải hình dung được họ sẽ ‘nhìn thấy’ học sinh của mình học tập như thế nào nếu không trực tiếp gặp mặt và họ có thể nắm bắt và đánh giá được những gì từ phía người học. Tất nhiên trong quá trình này họ luôn phải có sự hỗ trợ đồng hành của các nhân viên kỹ thuật và các chuyên gia công nghệ để đảm bảo việc giảng dạy diễn ra suôn sẻ, trôi chảy. Họ cũng cần có những kỹ năng mới để tổ chức hoạt động giảng dạy, ‘giữ’ được học sinh trong ‘lớp học’, duy trì sự chú tâm của học sinh vào các nhiệm vụ và hoạt động học tập. Họ là yếu tố hàng đầu và quan trọng nhất quyết định sự thành công của đào tạo trực tuyến và quá trình chuyển đổi số. 


Nhà trường truyền thống hầu như không có ‘định biên’ cho nhân viên IT. Nhưng khi triển khai đào tạo trực tuyến diện rộng, một số vị trí hành chính không còn, thay vào đó là nhu cầu lớn đội ngũ kỹ thuật viên. Tất nhiên các nhà trường luôn có giải pháp thuê ngoài dịch vụ này nhưng phân bổ chi thường xuyên thay đổi, dẫn tới việc thực hành quản trị và quản lý tài chính nhà trường cũng thay đổi theo. 


Yếu tố quan trọng tiếp theo quyết định ý nghĩa của chuyển đổi số là sự sẵn sàng tiếp nhận của người học.



Hình 1 Khung chuyển đổi số trong giáo dục cấp hệ thống.


Khi năm học 2019-2020 bị gián đoạn do dịch Covid-19, chúng tôi đã thực hiện một khảo sát về ‘mức độ sẵn sàng đối với học tập trực tuyến’ với giảng viên và sinh viên đại học. Kết quả khảo sát cho thấy người học có mức độ sẵn sàng để học trực tuyến thấp hơn rất nhiều so với giáo viên. Có tới trên 76% số sinh viên tham gia khảo sát (nhiều ngành và nhiều tỉnh, thành khác nhau) chưa sẵn sàng cho học tập trực tuyến, vì nhiều lý do. Bên cạnh những lý do kỹ thuật như trang thiết bị và hạ tầng viễn thông, có những vấn đề do phương pháp và kỹ thuật giảng dạy của giảng viên đã chưa thuyết phục được người học. Người học cần được chuẩn bị về tâm thế, tinh thần và kỹ năng, và được hỗ trợ để đảm bảo điều kiện hạ tầng thiết bị đủ để thực hiện học tập trực tuyến. Họ cũng cần được hướng dẫn về phương pháp học tập trực tuyến sao cho hiệu quả. 


Văn hóa giáo dục số, gồm các vấn về đề thái độ học tập, hiểu biết về đạo đức học thuật, tính tự giác, ý thức về học tập suốt đời (lifelong learning) cũng như cần được xây dựng phát triển trong cộng đồng người học và người dân nói chung. Đối với đào tạo trực tiếp, việc kiểm soát quá trình đào tạo phần lớn thuộc về cơ sở giáo dục và giáo viên, trong khi đối với đào tạo trực tuyến, người học cũng phải chia sẻ nhiệm vụ này.

Cuối cùng, về lâu dài để giáo dục trực tuyến có thể phát triển bền vững, nghiên cứu khoa học giáo dục và đào tạo sư phạm cần bổ sung các nội dung và trọng tâm nghiên cứu ứng dụng về giáo dục trực tuyến để hỗ trợ các nhà quản lý và giáo viên phát triển chuyên môn và năng lực.


Trên cơ sở những phân tích này, chúng tôi đề xuất khung định hướng chuyển đổi số cấp hệ thống trong giáo dục gồm 6 yếu tố. Khung này được phát triển có tham khảo khung chuyển đổi số cấp tổ chức do Bumann và Peter (2019) đề xuất (Hình 1)*.

 

5. Những thách thức: Ai có thể bị bỏ lại phía sau khi chuyển đổi số? 

 

Trước tiên, điều dễ thấy là chuyển đổi số đòi hỏi hạ tầng viễn thông phát triển ở một mức độ nhất định, mà yếu tố này liên quan nhiều đến mức độ phát triển kinh tế xã hội của mỗi địa phương. Do vậy, ngành giáo dục không thể đi một mình mà phải đồng hành, phối hợp với các ngành khác. Việc này có thể là thách thức đáng kể bởi họ vốn quen hoạt động và vận hành độc lập. 


Thêm vào đó, khi chuyển đổi số phụ thuộc rất lớn vào các yếu tố bối cảnh, nó là cơ hội cho nhóm đối tượng này, cho địa phương hay quốc gia này lại là thách thức cho đối tượng khác, địa phương và quốc gia khác. Cách thức và quá trình chuyển đổi không có một công thức chung, đòi hỏi lãnh đạo ngành cần phải đề ra chiến lược, giải pháp và lộ trình chuyển đổi riêng cho mình mà không có nhiều sự tham khảo từ kinh nghiệm và thực tiễn từ các ngành khác, các quốc gia khác.


Thứ ba, chuyển đổi số trong giáo dục được kỳ vọng sẽ giúp tối đa hóa hiệu quả đào tạo. Tuy nhiên nếu bài toán về hạ tầng mạng, thiết bị và giải pháp công nghệ không được đáp ứng, bài toán về chuyển đổi năng lực của giáo viên không được giải quyết, trải nghiệm học tập ‘số’ đối với cả giáo viên và người học có thể trở thành thảm họa. Một loạt các nguy cơ hiển hiện như hành vi học tập có thể bị lệch lạc, hoạt động giáo dục không được kiểm soát; chất lượng giáo dục bị thả lỏng. Sẽ rất nguy hiểm nếu như chúng ta ‘đánh rơi’, để lạc mất người học trong không gian ảo mênh mông. 


Vấn đề thứ tư, chuyển đổi số sẽ liên hệ thế nào với câu chuyện bất bình đẳng trong giáo dục. Ta thường nghĩ việc số hóa hoạt động giáo dục sẽ đem lại ‘sự bình đẳng số’ (digital equity) nhờ ưu thế tiếp cận công nghệ không giới hạn không gian và thời gian. Tuy nhiên việc này cũng có thể đào sâu hơn nữa sự bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục giữa các vùng miền và học sinh có điều kiện kinh tế xã hội (SES) khác nhau. Những học sinh không được tiếp cận hạ tầng viễn thông tốt ở miền núi hoặc vùng nông thôn sẽ có nguy cơ bị bỏ lại phía sau, không chỉ trong tiếp cận giáo dục chất lượng cao mà còn cả giáo dục căn bản như các nguồn tài liệu, học liệu quan trọng cho việc học tập. Những học sinh xuất thân từ những gia đình khó khăn không có những thiết bị tối thiểu hoặc không đủ khả năng chi trả chi phí dịch vụ viễn thông cũng sẽ là đối tượng có nguy cơ tụt hậu. 


Học sinh khuyết tật (khiếm thính, khiếm thị hoặc các khuyết tật vận động cản trở thao tác, điều khiển thiết bị) cũng có nguy cơ lớn phải hứng chịu bất bình đẳng số do những vấn đề liên quan tới các yếu tố đầu vào (sách vở, tài liệu, ngôn ngữ, trang thiết bị…) lẫn quá trình giáo dục (thao tác điều khiển, giao tiếp với thiết bị, phần mềm, giáo viên…). Đơn cử việc số hóa tài liệu, học liệu cho nhóm đối tượng phải sử dụng hệ ngôn ngữ riêng như ngôn ngữ ký hiệu chắc chắn sẽ có nhiều hạn chế, không được ưu tiên, gây nhiều bất lợi, thiệt thòi cho nhóm người học này. 


Cuối cùng, chuyển đổi số tạo điều kiện phát triển các cộng đồng học tập chuyên nghiệp cho giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục trên quy mô rộng thông qua các diễn đàn trực tuyến. Ngoài ra còn có rất nhiều công cụ hay hỗ trợ giáo viên thiết kế tài liệu, xây dựng bài dạy. Đây được xem là cơ hội phát triển nghề nghiệp chuyên môn rất tốt cho đội ngũ giáo viên, nhưng những công cụ công nghệ này cũng khiến cho việc sao chép, nhân bản hồ sơ, giáo án, bài soạn, thậm chí cả việc đánh giá, nhận xét người học trở nên đơn giản và dễ dàng. Điểm thách thức lớn nhất đối với chuyển đổi số có lẽ là làm thế nào để đảm bảo việc học tập và giảng dạy cũng như các hoạt động giáo dục là thực chất. 


Có lẽ còn nhiều vấn đề nữa sẽ nổi lên trong quá trình thực hiện mà chúng tôi chưa lường hết trong phạm vi bài viết này. 

 

Kết luận

 

Trong giáo dục, chuyển đổi số là chuyển đổi toàn bộ những gì cần để có thể triển khai giáo dục trực tuyến. Không có một công thức dành riêng cho quá trình này, nhưng hoàn toàn có thể vận dụng các khung đánh giá hiệu quả giáo dục cũng như các khung đảm bảo chất lượng giáo dục để định hướng quá trình chuyển đổi. Vai trò lãnh đạo, tổ chức, điều phối, huy động nguồn lực cấp hệ thống sẽ là then chốt quyết định hình hài của giáo dục mới. Bên cạnh việc hướng đến đảm bảo hiệu quả giáo dục, cơ hội tiếp cận giáo dục bình đẳng cho mọi đối tượng người học, kể cả học sinh nghèo và khuyết tật, để không ai bị bỏ lại phía sau là một mục tiêu quan trọng mà chuyển đổi số phải đạt được.□

----------

Chú thích: 

* Bumann, Jimmy & Peter, Marc. (2019). Action Fields of Digital Transformation - A Review and Comparative Analysis of Digital Transformation Maturity Models and Frameworks.

Trường Cao đẳng sư phạm Đông Dương: Cái nôi của nền giáo dục Việt Nam hiện đại

 


17/06/2021 07:12 - Lê Xuân Phán

"Đào tạo người thầy giáo tốt, chúng ta được một thế hệ tốt". Là một trong những cái nôi đào tạo những trí thức lớn của Việt Nam như Hoàng Ngọc Phách, Dương Quảng Hàm, Đặng Thai Mai, Lê Thước…, Trường Cao đẳng Sư phạm (CĐSP) Đông Dương đã góp phần đưa nền giáo dục nho học vào dĩ vãng và đặt nền móng cho nền giáo dục hiện đại sau này.


Trường Cao đẳng Sư phạm (Ecole supérieure de pédagogie): Danh sách 14 thí sinh đã đậu kỳ thi tốt nghiệp (Khoá 1,  1917-1920)1. Ảnh: L’Écho annamite, n° 40, 12 juin 1920, p. 2. (Báo L’Écho annamite, số 40 ngày 12.06.1920.

Sự ra đời, mục tiêu và tuyển sinh của Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương

 

Trường CĐSP Đông Dương được ra đời năm 1917 để đào tạo giáo viên bản địa có đủ năng lực đảm bảo việc giảng dạy trong các trường trung học đệ nhất cấp và trường trung học sư phạm tại Đông Dương.2Lực lượng được đào tạo sẽ bổ sung cho sự thiếu hụt số lượng giáo viên đến từ Pháp.3 Khi thành lập trường này, Albert Sarraut đã có những tính toán rõ ràng. Đó không chỉ là hành động chính trị lấy lòng dân thuộc địa trong Thế chiến 1. Xa hơn, khi xóa bỏ hệ thống giáo dục truyền thống ở Đông Dương khỏi hệ thống giáo dục chính quy, trong đó có giáo dục nho học của Việt Nam, yêu cầu đặt ra bắt buộc phải phát triển giáo dục bằng tiếng Pháp, trong đó có giáo dục trung học. Việc này yêu cầu cần phải chuẩn bị nhân lực giáo viên tại chỗ, thay vì tuyển từ Pháp sang sẽ tốn kém hơn (phải trả lương cao hơn).


Trường gồm có hai ban: Văn học và Khoa học. Những năm đầu tiên, trong bối cảnh đại chiến thế giới, trường đã gặp nhiều khó khăn, cụ  thể là thiếu giảng viên và phương tiện giáo dục. Ban đầu giảng viên là những viên chức làm việc trong hệ thống học chính công tại Đông Dương hoặc tại Trường Viễn Đông bác cổ ở Hà Nội. Sau có thêm các giáo viên đến từ Trường Trung học Albert Sarraut tại Hà Nội và một vài giáo sư đến từ Pháp.


Phần lớn sinh viên CĐSP là người Việt Nam. Số lượng sinh viên người Lào, Campuchia rất ít. Trường bắt đầu giảng dạy vào tháng 10/1917, có 20 sinh viên cho năm đầu tiên của khóa 1.Lần đầu tiên tuyển sinh, trường chỉ xét tuyển thay cho thi tuyển. Cho đến tận năm 1922, trường chỉ nhận những sinh viên là những người có bằng trung học đệ nhất cấp, trung học sư phạm, trong đó có những người đang làm giáo viên tiểu học. Kể từ năm học 1923, trường vào thời kỳ quá độ trong tuyển sinh, tức là nhận cả sinh viên có bằng trung học đệ nhất cấp và tú tài. Vào lúc khai giảng năm học 1923, đã có một vài tú tài bản xứ vào học, cụ thể là có 6/22.Theo ông Nguyễn Khánh Toàn (sinh viên khoá 1923-1926), một số sinh viên đã có trình độ nho học vững, nhất là các sinh viên Nghệ Tĩnh (Nghệ An, Hà Tĩnh).6


Năm học 1932-1933, trường được tổ chức lại theo Nghị định ngày 24/7/1932. Trường trở thành trường cao đẳng thực sự khi chỉ tuyển học sinh đã có bằng tú tài.7 Nhưng không may mắn, theo chính quyền giải thích, vì lý do thiếu hụt ngân sách, trong bối cảnh khủng hoảng toàn cầu, kể từ năm học 1931-1932 số lượng tuyển sinh rất hạn chế, giảm xuống còn 4 vào năm 1931 và tương tự vào năm 1932.8 Năm học 1934-1935, trường không tuyển thêm sinh viên mới nữa. Những sinh viên đang học sẽ tiếp tục cho đến hết khóa, khi đó trường sẽ dừng hoạt động.9

 

Hoạt động giáo dục

 

Theo chương trình đào tạo được quy định trong Nghị định ngày 24/7/1932 của Toàn quyền về tổ chức lại trường Sư phạm, gồm có ba năm học với các môn sau10:


- Những môn chung cho hai ban: Tâm lý học ứng dụng giáo dục; Xã hội học ứng dụng giáo dục; Giáo dục học đại cương; Quản lý học đường và bổn phận nghề nghiệp; Vệ sinh học đường; Ngữ âm học và biểu đạt ngôn từ.


- Những môn Ban Văn học: Ngôn ngữ và Văn chương Pháp; Nghiên cứu tác phẩm; Thực hành sư phạm (làm bài luận, bài thuyết trình, bài giảng ); Ngôn ngữ và Văn chương Đông Dương; Cổ văn Viễn Đông; Lịch sử; Địa lý.


- Những môn Ban Khoa học: Toán học; Vật lý; Hóa học; Thực hành Sinh học; Thực vật học; Địa chất và Khoáng học, Thiên nhiên học. (Các môn học cả lý thuyết và thực hành).


Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi chỉ có thể tìm thấy hồi ký của một số cựu sinh viên Ban Văn học của Trường CĐSP Đông Dương, mà không tìm  thấy hồi ký của các vị là cựu sinh viên Ban Khoa học. Cho nên vẫn còn thiếu đi phần đánh giá của cựu sinh viên ban này.



Số sinh viên (theo ban) của Cao đẳng Sư pham Đông Dương qua các năm học, thời kỳ 1917-1935. Nguồn : Gouvernement général de l’Indochine, Rapports au Conseil de gouvernement (1917-1936).


Chúng ta biết rằng giáo dục nho học truyền thống ở Việt Nam không có trường chuyên biệt để đào tạo giáo viên. Khi Trường CĐSP Đông Dương được thành lập, ngoài những môn chuyên ngành của từng ban, còn có những môn học thuộc về nghiệp vụ sư phạm, khoa học giáo dục, khoa học sư phạm dành cho tất cả sinh viên của trường, có cả lý thuyết và thực hành. Đây là một sự tiến bộ rất lớn. Những môn nghiệp vụ này đã thu hút cả những sinh viên người châu Âu tại Đông Dương đến học để cải thiện năng lực sư phạm.


Trường CĐSP không chỉ đào tạo nhân sự Đông Dương cho lành nghề. Trường còn nâng cao trình độ cho nhân sự là người Âu bằng việc đảm bảo cho họ một lý thuyết nghề nghiệp, cái mà họ vẫn còn hoàn toàn thiếu. Ngoài những sinh viên đến học đều đặn, tất cả là người Đông Dương, năm học này, Trường CĐSP còn có 13 phụ nữ châu âu dự thính tự do của các môn Tâm lý học và Sư phạm học, trước đó vào năm học 1917-1918 có 9 người.11


Theo ông Hoàng Ngọc Phách, triết học là môn thực sự mới mẻ: “Những môn học ở đây (CĐSP) như văn, sử, địa, chúng tôi đã học ở trung học, không có gì mới lạ lắm, chỉ là sâu rộng hơn mà thôi, nhưng môn triết thì thật mới”.12 Đồng thời ông và nhiều người thời kỳ ấy cũng đã thấy được những giá trị của văn học Pháp: “Lúc bấy giờ, nhiều người trong chúng tôi đều nhìn thấy ở văn học Pháp một tư tưởng tiến bộ và rất nhiều tiếng nói phong phú, đa dạng, có lợi cho phát triển văn học Việt Nam. Có người đã nói: Thực dân xâm lược pháp thì nên đánh đuổi đi, nhưng văn học Pháp thì nên giữ lại”.13


Còn trong hồi kí của ông Đặng Thai Mai, sinh viên khóa 8, 1924-1927, ta có thể thấy một chương trình giảng dạy văn chương toàn diện: "Hồi ấy, khóa học của Trường Sư phạm chỉ kéo dài trong ba năm, mỗi năm mỗi lớp chỉ tiếp nhận trong ngoài hai mươi sinh viên, và chương trình học một tuần trong ngoài hai mươi giờ. Về khoa văn, ngoài giáo trình giáo dục học, chúng tôi còn phải giải quyết một thời khóa biểu khá nặng: Việt văn, Pháp văn, Triết học, Giáo dục học, Địa lý, Lịch sử. (….). Trọng điểm cố nhiên là văn học phương Tây, thời kỳ cổ điển Hy-La đến thế kỷ XX. Văn học phương Đông được giảng kèm qua giáo trình văn học Việt Nam, qua lịch sử văn hóa Ai Cập, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản. Lịch sử văn học phương Tây gồm hai bộ phận, văn bản học và lịch sử văn học. Giáo trình bộ môn văn học được phối hợp với hai bộ môn triết học và lịch sử chính trị thế giới”.14


Qua các bài giảng của các giáo sư, sinh viên có dịp tiếp xúc với sự phong phú của các học thuyết, hệ tư tưởng chính trị xã hội phương tây. Dù chưa mang tính hệ thống, nhưng trong bối cảnh thuộc địa, việc tiếp xúc này là một dịp tốt để mở mang tư tưởng. Ông Đặng Thai Mai còn cho biết: "Giáo sư lịch sử của chúng tôi hồi ấy là một đảng viên Đảng Xã hội. Giáo trình của ông đã chịu ảnh hưởng khá rõ rệt của học thuyết mác xít. Giáo sư triết học cũng tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Paris và đã dày công nghiên cứu trong nhiều năm về tư tưởng phương Tây. Chúng tôi đều hết sức khâm phục lối lập luận độc đáo và sâu sắc của ông, đặc biệt trong khi trình bày và phê phán các trường phái triết học Pháp, Anh, Mỹ”.15


“Chúng tôi cũng lấy làm lạ là giáo trình hai năm đầu của ông về luân lý học đều thấm nhuần ít nhiều quan điểm mác xít và nhiều câu kết luận của một số chương trong giáo trình không hề ngần ngại công kích chế độ tư bản và tư tưởng bảo thủ. Nhưng đến năm thứ ba thì sau nhiều bài giảng, ông có vẻ như ủng hộ khá mạnh giáo lý Thiên chúa giáo. Một bạn đã bạo dạn hỏi ông về sự chuyển hướng ấy. Ông đã trầm ngâm và thở dài trước khi trả lời: "Rồi đây bạn sẽ hiểu, chỉ có niềm tin là cứu được chúng ta trong những cơn thử thách đau đớn nhất của cuộc đời". […] Tôi nhớ lại câu nói của Goethe về tư tưởng Hy-La "Đã ngồi dưới cái bóng râm ấy thì cũng khó thoát ra khỏi một cách nguyên vẹn". Nhận xét ấy lại càng đúng khi nghĩ đến ảnh hưởng của đạo Gia tô đối với tư tưởng, nghệ thuật châu Âu. Không mấy nhà văn, nhà tư tưởng phương Tây là không ảnh hưởng của tôn giáo”.16


Giáo sư Đặng Thai Mai còn dành những lời tốt đẹp và biết ơn cho nhà giáo Bùi Kỷ, một giáo sư người Việt Nam duy nhất của trường: "Nhà trường đã dành cho Việt văn một tuần bốn giờ dưới sự hướng dẫn của cụ Bùi Kỷ. Cụ đã đậu cử nhân rồi phó bảng. Trong thời gian theo đòi Hán học, cụ cũng đã sang Pháp du học mấy năm và đã làm quen ít nhiều với phương pháp dạy văn học phương Tây. Tóm lại cụ là người thời ấy gọi là "Hán Pháp tinh thông". Với cụ Bùi Kỷ, trường Cao đẳng Sư phạm trong thời gian ba năm, chúng tôi có thể học tập và nghiên cứu văn học Việt Nam một cách có hệ thống. (…)17 Với cụ Bùi Kỷ, chúng tôi bắt đầu chú ý đến văn thơ thời kỳ đầu của nhà Lý, nhà Trần, thời kỳ mà, theo ý cụ, nho giáo chưa chiếm được địa vị độc tôn và học khoa cử chưa phải là khuôn vàng thước ngọc của học thuật nước nhà. Giáo trình văn học của cụ Bùi trong ba năm học ấy cố nhiên chưa có thể là hoàn toàn đầy đủ, chẳng hạn, chúng tôi chưa có dịp nghiên cứu văn học nước nhà từ nửa thế kỷ XIX về sau này. Dầu sao, giáo trình của cụ Bùi Kỷ đối với chúng tôi là những dịp thu hoạch khá phong phú để tiếp tục tìm tòi suy nghĩ sau ngày ra trường”.18



Số sinh viên (theo nước) của Cao đẳng Sư pham Đông Dương qua các năm học, thời kỳ 1917-1935. Ảnh: Gouvernement général de l’Indochine, Rapports au Conseil de gouvernement (1917-1936).


Tuy nhiên, mối quan hệ giữa giáo sư với sinh viên không phải lúc nào cũng yên ả trong bối cảnh xã hội thực dân thời ấy. Như trường hợp bà giáo hướng dẫn khóa luận tốt nghiệp của Hoàng Ngọc Phách. Sinh viên Hoàng Ngọc Phách bày tỏ trong khóa luận rằng xã hội có những định kiến, nhất là về tình yêu, ông phê phán chế độ gia trưởng và cho rằng thực dân cũng muốn duy trì điều này để phục vụ cho việc cai trị. Đương nhiên sau đó bà giáo không đồng ý và thuyết phục chàng sinh viên trẻ nên viết lại nếu muốn luận văn được thông qua để đậu tốt nghiệp. Ông đành phải nghe lời, nhưng tư tưởng chống lại những định kiến của gia đình và xã hội trong tình yêu đôi lứa đã được ông bày tỏ trong tác phẩm Tố Tâm của ông.


Trường hợp của sinh viên Nguyễn Khánh Toàn cũng là một ví dụ nữa về xung đột học đường thời thuộc địa. Trong một bài kiểm tra, ông bác bỏ học thuyết triết học đơn thuần chỉ phục vụ triết học (triết học vị triết học). Ông chủ trương học thuật phải có tính thực dụng, nghĩa là để làm việc gì có ích cho xã hội, đại khái như việc phục vụ công việc giải phóng đất nước khỏi ngoại bang. Khi bày tỏ quan điểm như vậy, ông đã bị giáo sư dạy triết chất vấn. Thực ra, trước đó đã có sự kiện Nguyễn Khánh Toàn đọc bài diễn văn chống Pháp ở hội quán sinh viên khi đón Toàn quyền Varrenne đến đây, một bài diễn văn “đốt nhà” (nảy lửa). Cuối cùng ông vẫn được cho thi tốt nghiệp nhưng bị đánh trượt mặc dù luôn là sinh viên đạt học bổng và đã học tới những môn học cuối cùng. Họ sợ rằng nếu đuổi học ông thì tạo bầu không khí căng thẳng bất bình. Nhưng nếu cho ông đỗ, ông sẽ trở thành giáo sư dạy học trung học nhưng có đầu óc chống Pháp công khai. Nên họ chọn cách cho ông trượt tốt nghiệp để êm chuyện.19 Rồi khi rời trường ông đã chọn con đường hoạt động cách mạng, bôn ba nhiều nơi, sau thành một giáo sư đỏ và cơ duyên lại đưa ông gắn bó với ngành sư phạm khi đảm trách chức Thứ trưởng Bộ Giáo dục sau này, đồng thời cũng là một nhà nghiên cứu khoa học xã hội. Những căng thẳng, xung đột học đường đó chúng ta có thể hiểu được. Nhưng cũng không vì thế phủ nhận những giá trị của trường mang đến cho người học.


Về phương pháp giáo dục, ý kiến đánh giá nhìn chung cho thấy ngoài việc giảng dạy trên lớp, các giáo sư còn nhấn mạnh việc tổ chức tự học, tự nghiên cứu. Theo ông Đặng Thai Mai, “Để bổ sung cho giáo trình, các giáo sư đã phân công cho sinh viên một số đề tài để làm thuyết trình. Hồi ấy thư viện Trung ương được trang bị khá đầy đủ và tương đối kịp thời để cung cấp báo chí và thư tịch mới xuất bản bên Pháp. Chương trình được bố trí khá hợp lý”.20

Qua tìm hiểu cho thấy, những khóa đầu, sinh viên được làm khóa luận tốt nghiệp ra trường. Ngày nay có thể tìm thấy trong tạp chí Hội Trí tri21đăng bài luận tốt nghiệp của cụ Lê Thước là sinh viên khóa hai của trường, về lịch sử giáo dục nho học22.


Việc cho sinh viên làm khóa luận tốt nghiệp (bằng tiếng Pháp) có tác dụng rất tốt để bồi dưỡng phương pháp nghiên cứu. Đáng tiếc là việc làm khóa luận tốt nghiệp ở những khóa sau này đã không còn có trong chương trình đào tạo. Tuy nhiên, các giáo sư vẫn rất chú ý đến việc bồi dưỡng phương pháp tự học, phương pháp nghiên cứu cho sinh viên. Điều này đã góp phần trang bị cho sinh viên, nhất là ban văn học, khi ra trường có thể thực hiện công việc nghiên cứu. Đôi dòng dưới đây của giáo sư Đặng Thai Mai như một tóm lược súc tích về những gì đã thu hoạch được khi là sinh viên của trường : “Đối với chúng tôi, mấy năm học ở trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội phải nói là đã được đánh dấu bằng những thu hoạch đáng giá. Về phần Việt văn, Hán văn cũng như về Pháp văn, ngoài các mục đích thiết thực là bồi dưỡng cho giáo viên chuyên môn phụ trách giảng dạy văn học và văn học sử ở các trường trung học, nhà trường cũng chú ý hướng dẫn sinh viên về phương pháp nghiên cứu. Các giáo sư luôn luôn luôn chú ý đến vấn đề phương pháp nghiên cứu về cả hai phương diện: tính nghệ thuật và tính lịch sử. Giảng văn cũng là dịp chúng tôi làm quen với những thủ tục cơ bản như là sưu tầm tài liệu, lên bảng thư mục, tìm hiểu những vấn đề đã được đặt ra trong công trình nghiên cứu của các nhà phê bình lớp trước để rồi, trên cơ sở đó rút ra một đề tài nghiên cứu cùng với quan điểm của mình. Về phần tôi, tôi thấy rằng đây là điểm thu hoạch quan trọng bậc nhất trong mấy năm theo học ở trường Cao đẳng Sư phạm”.23



Tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách thể hiện suy nghĩ của ông về những định kiến của xã hội (cũng là điều mà chính quyền thực dân muốn duy trì để dễ bề cai trị) về tình yêu đôi lứa. Đây là điều ông ấp ủ từ khi còn học ở Trường CĐSP Đông Dương. Ảnh: Nhã Nam. 


Khóa đầu tiên của trường với 20 sinh viên đầu vào đã có 14 sinh viên tốt nghiệp vào năm 1920, trong đó có bốn người ban sư phạm văn và 10 nguời ban sư phạm khoa học. Theo báo cáo của chính quyền, những bài luận tốt nghiệp của khóa đầu này được khen gợi cả về nội dung và văn phong.24


Kết luận

 

Vai trò của người giáo viên rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục của nhà trường. Chính quyền Pháp tại Đông Dương đã có biện pháp cụ thể, hiệu quả để nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, trong đó có việc đào tạo giáo viên trung học. Kể từ năm 1920, thời điểm khóa đầu tiên của Trường CĐSP Đông Dương có sinh viên tốt nghiệp, lực lượng giáo viên trung học đệ nhất cấp đã được tăng cường. Qua việc nghiên cứu hồi ký của những cựu học sinh trung học cơ sở của thời kỳ này, cụ thể là của trường Trung học Bảo hộ (Trường Bưởi-Chu Văn An), Quốc học Huế, Trung học Pétrus Ký và Quốc học Vinh, chúng tôi thấy rằng những giáo viên được đào tạo từ trường CĐSP Đông Dương đều trở thành những giáo viên được học sinh kính trọng và ngưỡng mộ về năng lực và phẩm hạnh của họ. Một số giáo viên được đào tạo từ CĐSP Đông Dương ra cũng đã tham gia và góp phần vào nâng cao chất lượng giáo dục tư nhân, như trường trung học tư Thăng Long ở Hà Nội khi đó chẳng hạn. Một số thầy được đào tạo từ trường CĐSP Đông Dương, sau này là những nhà trí thức nổi tiếng có nhiều đóng góp cho khoa học và giáo dục nước nhà như các thầy Dương Quảng Hàm, Lê Thước, Đặng Thai Mai, Phạm Thiều, Cao Xuân Huy, Ca Văn Thỉnh, Hoàng Minh Giám, Nguyễn Lân….


Tuy nhiên, mục đích lập ra nhà trường chỉ để đào tạo các giáo viên trung học đệ nhất cấp thời đó (tương đương như trung học cơ sỏ, cấp hai sau này). Vì thế nội dung chương trình còn chưa thể so được với các trường sư phạm cao cấp bên Pháp, nơi mà không chỉ đào tạo giáo viên mà còn cả cán bộ khoa học ở trình độ cao. Chúng ta thấy điều này thể hiện rõ ràng nhất ở ban khoa học. Tuy có giảng dạy về toán, lý, hóa, nhưng nội dụng, chương trình, thời gian, phương pháp chưa đủ liều lượng để tạo ra các giáo viên kiêm các nhà khoa học. Thực tế rất khó để tìm thấy nhà khoa học tự nhiên nào đã tốt nghiệp từ đây ra. Còn bên ban văn học, ngoài nhờ sự đào tạo của nhà trường, còn nhờ khả năng tự học, tự nghiên cứu thêm về sách báo. Các thầy từ ban văn học đi ra, nhiều thầy còn có vốn văn hóa nho học truyền thống nữa. Nghiên cứu khoa học xã hội dù sao cũng có mặt thuận lợi hơn bên nghiên cứu khoa học tự nhiên (đôi khi không cần phải có những phòng thí nghiệm như khoa học tự nhiên), khi có vốn ngôn ngữ cổ, ngoại ngữ (tiếng Pháp) cộng với tiếng mẹ đẻ và cả phương pháp nghiên cứu tài liệu đã được học trong trường, cộng vói trình độ phương pháp tư duy nhất định thì có thể đi vào nghiên cứu ở một số lĩnh vực như lịch sử, văn học, văn hóa, lý luận giáo dục, triết học, tư tưởng…□

-------

Chú thích

1 Trong danh sách khóa đầu này, có tên các thầy giáo sau này đã trở lên nổi tiếng: Dương Minh Thới, Dương Quảng Hàm, Nguyễn Văn Nhỏ, Nguyễn Gia Tường, Vũ Tiến Sáu.

2 Gouvernement général de l’Indochine, Rapports au Conseil de gouvernement (tome 2), 1926, p.488.

Gouvernement général de l’Indochine, Rapports au Conseil de gouvernement, 1930, p.362.

4 Gouvernement général de l’Indochine, Rapports au Conseil de gouvernement (tome 2), 1919, p.200.

Gouvernement général de l’Indochine, Rapports au Conseil de gouvernement 1926, tome 2, p.489.

Nguyễn Khánh Toàn,Tuyển tập, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2010, tr.31, 32.

7 Direction générale de l’Instruction publique, Annales de l’Université de Hanoi (tome 1), 1933, Arrêté de réorganisation de l’École supérieure de pédagogie de Hanoi, p.98;  Gouvernement général de l’Indochine,Rapports au Conseil de gouvernement 1933, p.108.

Gouvernement général de l’Indochine, Rapports au Conseil de gouvernement 1932, p137; Rapports au Conseil de gouvernement1933, p.108.

Gouvernement général de l’Indochine, Rapports au Conseil de gouvernement, 1935, p.106.

10 Gouvernement général de l’Indochine – Direction de l’Instruction publique, Annale de l’Université de Hanoi, Tome 1, Hanoi, Imprimerie d’Extrême-Orient, p.98-104.

11 Gouvernement général de l’Indochine, Rapports au Conseil de gouvernement (tome 2), 1919, p.200.

12 Hoàng Ngọc Phách, Tuyển tập, op.cit, p.186-188.

13 Hoàng Ngọc Phách, Tuyển tập, op.cit, p.192,193.

14 Đặng Thai Mai, Hồi ký: Thời kỳ thanh thiếu niên, Nxb. Tác phẩm mới, Hà  Nội, 1985, tr.285.

15 Đặng Thai Mai, Hồi ký: Thời kỳ thanh thiếu niên, Nxb. Tác phẩm mới, Hà  Nội, 1985, tr.285

15 Đặng Thai Mai, Hồi ký: Thời kỳ thanh thiếu niên, Nxb. Tác phẩm mới, Hà  Nội, 1985, tr.286

17 Đặng Thai Mai, Hồi ký: Thời kỳ thanh thiếu niên, Nxb. Tác phẩm mới, Hà  Nội, 1985, tr.292.

18 Đặng Thai Mai, Hồi ký: Thời kỳ thanh thiếu niên, Nxb. Tác phẩm mới, Hà  Nội, 1985, tr.294.

19 Nguyễn Khánh Toàn, Tuyển tập, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2010.

20 Đặng Thai Mai, Hồi ký: thời kỳ thanh thiếu niên, Nxb. Tác phẩm mới, Hà  Nội, 1985, tr.285

21 Hội có tên tiếng pháp là la Société d’enseignement mutuel du Tonkin, khi dịch sang tiếng Việt lấy tên là Hội Trí tri.

22 Bulletin de la Société d’enseignement mutuel du Tonkin. Tome III, année, n° 4, L’enseignement des carractè res chinois, p.48

23 Đặng Thai Mai, Hồi ký : thời kỳ thanh thiếu niên, Nxb. Tác phẩm mới, Hà  Nội, 1985, tr.290-291.

24 Agence économique de l’Indochine, Communiqué de la presse indochinoise, 01/04/1921, p.11.

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Blogger Templates