SƯU TẬP NHỮNG KIẾN THỨC CẦN THIẾT CHO GIÁO VIÊN ÂM NHẠC VIỆT NAM THỜI 4.0

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

Thứ Hai, 2 tháng 11, 2020

Về thể chế phát triển giáo dục trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế

 PGS.TS Trần Quốc Toản

Hội đồng lý luận Trung ương

 

           Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã xác định một trong ba đột phá chiển lược là “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao”, để thực hiện đột phá chiến lược này phải “Đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế ”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 của BCH TW Đảng (khóa XI) đã nêu rõ “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ tư duy, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục - đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học”; “Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật khách quan”; “Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo. Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền”; “Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo. Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội; nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển giáo dục và đào tạo”; “Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo. Đẩy mạnh xã hội hóa, trước hết đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học; khuyến khích liên kết với các cơ sở đào tạo nước ngoài có uy tín. Có chính sách khuyến khích cạnh tranh lành mạnh trong giáo dục và đào tạo”; “Chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong giáo dục, đào tạo”. Việc nhận thức cho đúng, đầy đủ, sâu sắc và hệ thống những nội dung trên có ý nghĩa then chốt trong việc triển khai thực hiện thành công sự nghiệp “Đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam” và  Đột phá chiến lược về phát triển nguồn nhân lực mà Đại hội XI của Đảng đã xác định. Một trong những nội dung quan trọng cần nhận thức cho rõ là phải xây dựng và hoàn thiện Thể chế - cơ chế phát triển giáo dục - đào tạo phù hợp và hiệu quả trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, vì thể chế - cơ chế vừa đóng vai trò cơ sở nền tảng vừa đóng vai trò động lực chủ yếu cho sự phát triển giáo dục trong giai đoạn mới .   

I. Bản chất của hoạt động giáo dục trong điều kiện kinh tế thị trường

 

 

1. Giáo dục là phúc lợi xã hội và giáo dục là hàng hóa dịch vụ

  Hiện nay vẫn đang tồn tại hai nhận thức khác nhau (có khi đối nghịch nhau về hoạt động giáo dục, nhất là trong giáo dục đại học và giáo dục nghề), đó là nhận thức coi giáo dục chỉ như là một phúc lợi xã hội, và nhận thức coi giáo dục là hàng hóa dịch vụ.

Giáo dục là phúc lợi xã hội: quan điểm này được xét từ phương diện quyền và lợi ích của người học, lợi ích của xã hội. Trong đó mọi người dân đều có quyền được tiếp cận và hưởng thụ giáo dục như nhau; Nhà nước có nghĩa vụ đảm bảo và đáp ứng nhu cầu học tập của mọi người. Do đó giáo dục được xếp vào lĩnh vực sự nghiệp phúc lợi xã hội, được Nhà nước bao cấp hoàn toàn. Quan điểm này chưa đề cập tới lợi ích cá nhân khác nhau của mỗi người học và đi theo đó là trách nhiệm cá nhân đối với việc học tập; chưa đề cập tới cơ chế cung ứng giáo dục như thế nào cho có hiệu quả nhất trong điều kiện kinh tế thị trường.

   Giáo dục là hàng hoá dịch vụ: Nhận thức này cho rằng trong điều kiện kinh tế thị trường, giáo dục - đào tạo, nhất là giáo dục đại học, được coi là một lĩnh vực dịch vụ; dịch vụ giáo dục có những điểm giống và những điểm khác với hàng hoá dịch vụ (HHDV) thông thường khác. Do HHDV giáo dục có đặc điểm mang lại “lợi ích tràn xã hội”.... (lợi ích do giáo dục mang lại không chỉ cho riêng người học mà còn cho cả xã hội), cho nên HHDV giáo dục về cơ bản nói chung không phải là hàng hoá tiêu dùng (HHTD) cá nhân thuần túy, cũng không phải là HHTD tập thể thuần túy, mà về cơ bản là HHTD bán tập thể. Xét cả về lý luận và thực tế, HHDV giáo dục - đào tạo nói chung và nhất là giáo dục đại học không đáp ứng đầy đủ hoàn toàn các đặc tính cơ bản của HHDV công cộng thuần túy (HHDV công cộng thuần túy có hai đặc tính cơ bản là không có sự cạnh tranh - Non - rivalrous; và đặc tính không loại trừ - non - excludable). Giáo dục - đào tạo chứa đựng cả lợi ích công cộng và lợi ích cá nhân, tuy nhiên tương quan giữa lợi ích công cộng và lợi ích cá nhân ở các cấp bậc học là khác nhau. Tính chất công cộng, lợi ích công cộng thể hiện đậm nét và chiếm ưu thế ở các bậc học thấp, giáo dục cơ bản, giáo dục phổ cập bắt buộc (tại các cấp và các hình thức giáo dục này tính chất cạnh tranh và tính chất loại trừ yếu; thậm chí nếu là giáo dục bắt buộc sẽ không có cạnh tranh và không có loại trừ); còn tính chất cá nhân, lợi ích cá nhân tăng lên ở các bậc học cao, như giáo dục đại học và gắn với đào tạo nghề nghiệp, gắn với mục tiêu cá nhân đầu tư để có nghề nghiệp nhằm nâng cao thu nhập của mỗi cá nhân (đối với các loại hình đào tạo này tính chất loại trừ và tính chất cạnh tranh cao hơn nhiều). Chính vì vậy, xét về phương diện chung cung ứng HHDV, giáo dục - đào tạo về cơ bản không phải là HHDV công cộng thuần túy, mà là HHDV công cộng không thuần túyvà tính chất này ở các cấp bậc học và hình thức đào tạo có khác nhau.

Mức độ, quy mô và hình thức Nhà nước đáp ứng tính công cộng trong giáo dục - đào tạo (cũng chính là mức độ đảm bảo phúc lợi xã hội trong giáo dục - đào tạo), và việc phát triển hàng hóa dịch vụ giáo dục với quy mô và phạm vi nào phụ thuộc vào quan điểm, cơ chế chính sách và tiềm lực thực tế của mỗi nước, đồng thời cũng thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường, người học và xã hội trong phát triển giáo dục - đào tạo. Trên thế giới, xu thế phát triển chung coi giáo dục đại học là lĩnh vực mang tính hàng hóa dịch vụ cao, và do đó tiếp cận cơ chế thị trường sâu rộng hơn so với các cấp, bậc giáo dục phổ cập, giáo dục cơ bản, giáo dục bắt buộc. Do đó đối với giáo dục đại học, ở nhiều nước đầu tư công (của Nhà nước) thường có thể chiếm tỷ trọng ít hơn so với đầu tư công trong giáo dục phổ thông. Điều đáng lưu ý là tại một số nước đầu tư công cho giáo dục đại học chiếm tỷ trọng không cao hơn, thậm chí ít hơn so với đầu tư tư nhưng lại có nền giáo dục đại học có chất lượng thuộc loại hàng đầu thế giới, như Mỹ, Canada, Anh, Úc, Nhật Bản, Israel, Korea, New Zeland…     


 

Biểu đồ : Đầu tư tư và đầu tư công cho giáo dục ở các nước

 

2. Tác động của kinh tế thị trường - cơ chế thị trường đối với Giáo dục

1) Về lý luận và thực tiễn thấy rõ tác động của kinh tế thị trường lên giáo dục - đào tạo ở những mặt chủ yếu sau: 

(i)- Hình thành mục tiêu - tiêu chí giáo dục gắn với yêu cầu về nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực trình độ cao, chất lượng cao, tư duy sáng tạo, năng lực thực hành… đối với giáo dục đại học trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, đi vào phát triển kinh tế rti thức. 

(ii)- Hình thành các giá trị xã hội, giá trị văn hoá, giá trị con người thích ứng với đòi hỏi vai trò chủ thể phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng.

       (iii)- Hình thành nội dung, chương trình và phương thức giáo dục phù hợp với đòi hỏi của sự phát triển và thay đổi nhanh của nền kinh tế thị trường và của cách mạng KH - CN.  

       (iv)- Đòi hỏi giáo dục gắn trực tiếp hơn, hiệu quả hơn với nhu cầu phát triển mọi mặt của xã hội, gắn hữu cơ với cơ cấu và sự chuyển dịch của thị trường nhân lực quốc gia và quốc tế, nhất là thị trường nhân lực trình độ cao. 

       (v)- Hình thành thị trường HHDV giáo dục - đào tạo, tạo sự cạnh tranh trong giáo dục; quốc tế hóa quá trình giáo dục, nhất là giáo dục đại học được đẩy mạnh, hình thành các chuẩn, các tiêu chí giáo dục quốc tế, khu vực. 

       (vi)- Sự thay đổi vai trò của Nhà nước và vai trò của cơ chế thị trường trong phát triển giáo dục, thay đổi cơ chế phát triển giáo dục, thay đổi vai trò và trách nhiệm của các chủ thể tham gia hoạt động giáo dục (đa dạng hóa các chủ thể tham gia đầu tư và cung cấp dịch vụ giáo dục)…

        Những tác động trên có cả những mặt tích cực và những tác động tiêu cực.

Từ thực tiễn và sự phân tích có thể rút ra kết luận là các yếu tố và các quá trình của giáo dục, nhất là trong giáo dục đại học, đều vận hành trong điều kiện thể chế kinh tế thị trường; kinh tế thị trường - cơ chế thị trường tác động một cách khách quan, phổ quát, toàn diện lên tất cả các yếu tố, quá trình, các chủ thể tham gia giáo dục - đào tạo, với những mức độ khác nhau, có nhiều mặt tích cực nhưng cũng có những mặt hạn chế, tiêu cực, làm cho giáo dục trong điều kiện kinh tế thị trường có nhiều đặc điểm khác biệt so với giáo dục trong nền kinh tế bao cấp.  

   2) Cần nhận thức rõ các yếu tố, các quá trình giáo dục “đi” vào kinh tế thị trường với những cấp độ khác nhau. Xét một cách tổng thể có thể chia làm 3 cấp độ sau: cấp độ 1, không chấp nhận hay không được để tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, cơ chế thị trường; cấp độ 2, tham gia vào kinh tế thị trường, cơ chế thị trường với những mức độ hạn chế khác nhau, không hoàn toàn theo cơ chế thị trường; cấp độ 3, tham gia hoàn toàn vào kinh tế thị trường, cơ chế thị trường. Về thực chất đây là mối tương quan về vai trò giữa Nhà nước và Thị trường trong phát triển giáo dục đối với từng yếu tố và quá trình giáo dục khác nhau. Điều này được thể hiện rõ trong giáo dục đại học.

3.  Giáo dục trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa.

Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế là xu thế lớn, khách quan, sự phát triển của giáo dục - đào tạo thế giới và của Việt Nam cũng nằm trong xu thế chung đó, với những đặc điểm riêng, đồng thời có sự tương quan với tất cả các lĩnh vực khác. 

  1) Hội nhập quốc tế về giáo dục - đào tạo được thực hiện với nhiều cấp độ và hình thức; từ cấp độ toàn cầu với những quy định của WTO - GATS và UNESCO, đến cấp độ các khu vực, đến cấp độ giữa các quốc gia, giữa các cơ sở giáo dục - đào tạo đến cấp độ giữa các chuyên gia, cá nhân. Các hình thức hợp tác và hội nhập quốc tế rất phong phú và đa dạng, song có thể khái quát thành 2 loại: loại không vì lợi nhuận và loại vì lợi nhuận. Loại vì lợi nhuận thường được thực hiện theo khuôn khổ quy định của GATS với 4 hình thức chủ yếu: cung cấp dịch vụ giáo dục - đào tạo xuyên quốc gia; tiêu thụ ở nước ngoài; hiện diện cá nhân; hiện diện thương mại. Trong quá trình hợp tác và hội nhập quốc tế về giáo dục - đào tạo các nước, các chủ thể, các cơ sở giáo dục - đào tạo có những mục đích tương hợp với nhau nhưng cũng có những mục đích khác nhau, đặc biệt là về mặt lợi ích giữa các nước “xuất khẩu” và các nước “nhập khẩu” giáo dục - đào tạo. Chính vì vậy quá trình hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá về giáo dục - đào tạo chứa đựng cả 2 phương diện hợp tác và cạnh tranh với nhau giữa các khu vực, quốc gia, các cơ sở giáo dục - đào tạo. Hiện nay, xu thế hợp tác và hội nhập quốc tế mang tính lợi nhuận ngày càng phát triển mạnh và nổi trội hơn .

2) Quá trình hội nhập và hợp tác quốc tế về giáo dục - đào tạo mang lại những kết quả và tác động tích cực rất quan trọng, nhưng cũng tiếm ẩn những tác động tiêu cực không thể xem thường, nhất là đối với những nước ở “thế yếu” hơn, đặc biệt là về chất lượng hợp tác quốc tế có thể không đáp ứng yêu cầu, bị cạnh tranh mạnh về thị phần thị trường giáo dục, có thể làm tổn hại tới bản sắc và vị thế nền giáo dục quốc gia... Chính vì vậy, để hợp tác và hội nhập giáo dục - đào tạo có hiệu quả và chất lượng cần có một chiến lược đúng và hệ thống cơ chế, chính sách, giải pháp phù hợp.

 4. Vận dụng cơ chế thị trường trong phát triển giáo dục 

 Vận dụng cơ chế thị trường trong phát triển giáo dục - đào tạo được xem xét ở 3 cấp độ: cấp độ hệ thống giáo dục - đào tạo; cấp độ cơ sở giáo dục - đào tạo; và cấp độ các yếu tố, quá trình cụ thể của giáo dục - đào tạo.

          1) Đối với cấp độ hệ thống: Cho đến nay, trên thế giới chưa có nước nào coi nền giáo dục nội địa nước mình và đối với học sinh của nước mình là một ngành kinh tế - kinh doanh, dù đã coi giáo dục là ngành dịch vụ. Nhưng yếu tố kinh tế, hiệu quả đầu tư ngày càng được coi trọng hơn. Đồng thời, trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế từng phân hệ thống của hệ thống giáo dục - đào tạo lại được vận dụng cơ chế thị trường ở những cấp độ khác nhau. Ví dụ, hệ thống trường công hướng vào xuất khẩu giáo dục - đào tạo (tại chỗ hay đầu tư ra nước ngoài), hệ thống trường tư vận hành theo cơ chế thị trường, gắn mục tiêu giáo dục với mục tiêu kinh tế (lợi nhuận). Điều này được thể hiện rất rõ trong chiến lược phát triển giáo dục đại học của các nước tiên tiến nhằm giành và giữ thị phần cao trong thị trường giáo dục đại học quốc tế như Mỹ, Anh, Úc…; đồng thời một số nước mới phát triển, mới nổi, hoặc đang phát triển cũng có chiến lược phát triển giáo dục đại học với mục tiêu vươn lên thành trung tâm đào tạo nhân lực trình độ cao của khu vực và quốc tế, chiếm thị phần ngày càng tăng trên thị trường đào tạo nhân lực quốc tế như Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Hàn Quốc, Malayxia, Singapore…Hiện nay thị trường giáo dục đại học trên thế giới phát triển rất nhanh, với 4,3 triệu sinh viên du học [5] và tổng giá trị kinh phí lên tới khoảng hơn 90 tỷ USD/năm. Mỹ là nước chiếm thị phần lớn nhất, theo  Báo cáo thường niên của Viện Giáo dục quốc tế (Institute of International Education - IIE), các trường ĐH Mỹ đã đón đạt mức cao kỷ lục là 819.644 SV nước ngoài trong năm học 2012-2013, tức là tăng 7,2% so với năm trước [6]. Riêng chi tiêu của sinh viên quốc tế ở cả 50 bang đã đóng góp gần 24 tỷ USD vào nền kinh tế Hoa Kỳ. Ba nước tiếp tục có số lượng sinh viên đông nhất tại các trường của Mỹ là Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc, chiếm 49% tổng số sinh viên nước ngoài. 

Riêng Việt Nam, theo Báo cáo năm 2012, số lượng sinh viên Việt Nam đang học tập tại nước ngoài đã tăng lên con số 106.104 trong niên khóa 2011-2012, tại 49 nước [7]. Bộ Tài chính dự đoán người Việt Nam chi cho con em ra nước ngoài học với tổng số tiền lên đến khoảng 1-1,6 tỷ USD/năm. Tại Mỹ, số lượng sinh viên Việt Nam theo học niên khóa 2012-2013 là 16.098 người, tăng 3,4% so với niên học 2011-2012, tiếp tục xếp ở vị trí thứ 8 về số lượng sinh viên quốc tế học tại Mỹ. Năm 2013 có gần 100 trường ĐH, CĐ Hoa kỳ tham dự Triển lãm Giáo dục tại TP.HCM, Hà Nội và Đà Nẵng 

Tại châu Âu, hiện nay khẳng định Anh là nhà “lãnh đạo” giáo dục đại học quốc tế khi có đến 34.660 sinh viên Mỹ du học tại Anh năm học 2011-2012, tăng 4,5 lần so với các năm học trước đó. Điều này có nghĩa Anh là điểm đến hàng đầu tại nước ngoài của các sinh viên Mỹ [5].

           2) Đối với cấp độ cơ sở giáo dục - đào tạo : Trong điều kiện kinh tế thị trường, mức độ tiếp cận cơ chế thị trường cũng rất khác nhau. Có thể khái quát làm 4 loại cơ sở giáo dục - đào tạo sau: (a) - cơ sở công lập được bao cấp hoàn toàn; (b) - Cơ sở công lập hoạt động theo cơ chế tự chủ; (c) - Cơ sở ngoài công lập hoạt động theo cơ chế không vì lợi nhuận; (d) - cơ sở ngoài công lập hoạt động theo cơ chế vì lợi nhuận. Về nguyên tắc các loại cơ sở giáo dục đó dù khác nhau về chủ thể sở hữu và bản chất kinh tế, song phải giống nhau ở mục tiêu giáo dục - đào tạo. Trên thực tế cơ chế thị trường được vận dụng ở tất cả các loại hình trường trên với các cấp độ khác nhau. Hiện nay, trên thế giới đang có xu hướng phát triển mạnh các loại hình cơ sở giáo dục - đào tạo kết hợp nguồn lực và cơ chế hoạt động công lập và ngoài công lập, vì lợi nhận và không vì lợi nhận, nhằm phát huy có hiệu quả các mặt mạnh và ưu thế của các loại hình trong phát triển giáo dục, nhất là đối với giáo dục đại học.

3) Đối với cấp độ các yếu tố, quá trình giáo dục - đào tạo : Các yếu tố, quá trình giáo dục - đào tạo tham gia hoặc vận dụng cơ chế thị trường là rất đa dạng, có ý nghĩa khác nhau, có thể là trực tiếp, có thể là gián tiếp. Mức độ vận dụng cơ chế thị trường đối với các yếu tố, quá trình giáo dục - đào tạo phụ thuộc vào cấp bậc giáo dục đào tạo, loại hình cơ sở giáo dục - đào tạo nêu trên, vào đặc điểm, tính chất của các yếu tố, quá trình giáo dục, và vào chính sách cụ thể. Đối với giáo dục đại học trên thế giới tính chất bao cấp của Nhà nước ngày càng giảm đi (trừ các đối tượng chính sách), sự chia sẻ chi phí đào tạo từ phía người học và xã hội tăng lên, cũng có nghĩa là việc vận dụng cơ chế thị trường tăng lên. Ở đây không đơn giản là thiếu nguồn lực cho phát triển giáo dục đại học, mà còn xuất phát từ tính “lợi ích tư” trong giáo dục đại học và việc tạo động lực và hiệu quả trong phát triển giáo dục đại học.  

Việc vận dụng cơ chế thị trường trong giáo dục có những cấp độ khác nhau, không chỉ phụ thuộc vào tính chất đặc biệt chung của giáo dục trong điều kiện kinh tế thị trường, mà còn phụ thuộc rất quyết định vào trình độ thể chế kinh tế thị trường, vào chính sách và cơ chế phát triển giáo dục của mỗi nước.

 

 

II. Thể chế phát triển giáo dục trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế 

1. Khái niệm Thể chế

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa thể chế như sau:  Những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội buộc mọi người phải tuân theo.  Theo cách định nghĩa của Ngân hàng Thế giới thì thể chế là các quy định theo đó các cá nhân, công ty và nhà nước tác động lẫn nhau, "thể chế được nhìn nhận như là yếu tố chính quyết định sự phát triển lâu dài của một quốc gia”.

Thể chế là một khái niệm rộng, được định nghĩa bao quát, gồm những luật chơi chính thức hoặc phi chính thức tạo nên quy tắc ứng xử của con người, của các tổ chức. Xây dựng thể chế phù hợp là một trong các tiền đề - điều kiện cho phát triển hiệu quả bền vững. Một thể chế phù hợp, tiến bộ sẽ tạo động lực mạnh mẽ cho sự đổi mới và phát triển, nhưng một khi thể chế không còn phù hợp nữa thì nó có thể trở thành lực cản kìm hãm mọi sáng tạo, khát vọng, tâm huyết và hiệu quả hoạt động của các chủ thể. Bản thân Thể chế cũng không phải là bất biến, mà nó phải được liên tục đổi mới, hoàn thiện và phát triển cùng với sự phát triển và trình độ xã hội hóa cao hơn của xã hội. Nâng cao chất lượng thể chế là khâu đột phá trong chính sách phát triển

           Điều này cũng phù hợp với quan điểm của Đảng ta nêu trong Văn kiện Đại hội XI : “Coi hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá chiến lược”

Có thể nêu một cách rất khái quát Thể chế gồm cấu trúc hệ thống các chủ thể và cơ chế (quy tắc) chế đinh sự tương tác giữa các chủ thể trong quá trình hoạt động theo những mục đích xác định.Như vậy, Thể chế là một cấu thống nhất bao gồm các chủ thể tham gia (gọi là người chơi), các quy tắc chế định hoạt động và tương tác giữa các chủ thể (gọi là luật chơi), và nội dung hay môi trường trong đó các chủ thể và luật chơi vận hành (gọi là sân chơi).

1. Thể chế phát triển giáo dục

          Thể chế phát triển giáo dục là một phân hệ của thể chế phát triển kinh tế - xã hội chung của cả nước, với những đặc điểm riêng của lĩnh vực giáo dục. Xét về phương diện cấu trúc, Thể chế phát triển giáo dục bao gồm các yếu tố cấu thành chủ yếu sau :

1) Các chủ thể, các đơn vị tham gia vào hoạt động giáo dục và cung cấp dịch vụ giáo dục. Trong đó Nhà nước đóng vai trò định hướng - điều tiết chủ đạo. Vai trò của các Tổ chức xã hội và cộng đồng dân cư …

2) Hệ thống giáo dục; các hình thức tổ chức hoạt động giáo dục và liên kết hoạt động giáo dục, cung cấp dịch vụ giáo dục.

3) Hệ thống pháp luật và cơ chế vận hành nền giáo dục;  trong điều kiện hội nhập quốc tế thì đó còn là các cơ chế, quy tắc, “luật chơi” của quốc tế (song phương hay đa phương) 

4) Cơ chế thị trường và vai trò của cơ chế thị trường

Cơ chế phát triển giáo dục là cơ chế chế định sự tác động tổng hợp giữa các chủ thể, yếu tố, quá trình đảm bảo cho giáo dục - đào tạo phát triển theo định hướng và mục tiêu đặt ra . 

Trong điều kiện kinh tế thị trường, Thể chế phát triển giáo dục được hình thành trên cơ sở thay đổi và hình thành các chức năng mới của các chủ thể tham gia quá trình giáo dục.

   i) Sự thay đổi chức năng của các chủ thể:

   Trong cơ chế thị trường, cấu trúc và vai trò của các chủ thể tham gia vào quá trình Giáo dục - Đào tạo, đã có sự thay đổi đáng kể :

- Nhà nước : Tập trung vào 3 nhiệm vụ chủ yếu là quản lý Nhà nước; là người cung cấp tài chính lớn nhất; đồng thời đảm bảo các chính sách xã hội trong phát triển giáo dục.

- Đa dạng hoá các chủ thể và cơ chế cung cấp HHDV Giáo dục - Đào tạo (công lập, ngoài công lập, trong nước, ngoài nước, KVLN và VLN,…); Tăng cường vai trò tự chủ của các cơ sở giáo dục, đào tạo, nhất là đối với giáo dục đại học và giáo dục nghề.

- Đa dạng hoá các chủ thể cung cấp tài chính, nguồn lực cho Giáo dục - Đào tạo.

- Ví trí và vai trò của người học cũng có những thay đổi, trách nhiệm tăng lên (cả về học tập và chi phí).

- Vai trò của xã hội tăng lên đáng kể (vừa là chủ thể tham gia phát triển Giáo dục - Đào tạo, vừa là “đối tác”đóng góp với nhà nước về hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý, kiểm định giáo dục…).

- Trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế với sự thay đổi cấu trúc và chức năng của các chủ thể, từ lý luận và thực tiễn cho thấy đang phát triển mạnh xu thế kết hợp những mặt mạnh của Nhà nước với những mặt tích cực của cơ chế thị trường trong phát triển giáo dục

          ii) Hình thành cơ chế mới phát triển Giáo dục :

          Trong những năm qua trên thế giới đã hình thành và ngày càng phát triển rộng mô hình quản lý công mới (New public managerment) với bản chất là đặt sự vận động và phát triển của các lĩnh vực dịch vụ công trong mối tương tác giữa Nhà nước - Thị trường - Xã hội dân sự. Cơ chế phát triển Giáo dục có những nét chung với các lĩnh vực HHDV công cộng khác, nhưng cũng có những đặc điểm riêng do Giáo dục - Đào tạo không hoàn toàn là HHDV công cộng thuần túy. 

          Cơ chế phát triển Giáo dục - Đào tạo nêu trên được hình thành là một đòi hỏi khách quan, tuy nhiên nội dung cụ thể ở mỗi nước có khác nhau, và đối với từng cấp bậc học, loại hình đào tạo cũng khác nhau, tuỳ thuộc vào điều kiện, trình độ phát triển và chính sách cụ thể của mỗi nước. Đối với giáo dục đại học, do tính chất “công cộng thuần túy” của HHDV giảm đi và tính chất ‘lợi ích tư” tăng lên nên sự kết hợp giữa vai trò của Nhà nước với vai trò của Thị trường và vai trò của người học, của xã hội mạnh hơn so với trong giáo dục phổ cập bắt buộc.

 

  

III. Xây dựng và hoàn thiện thể chế - cơ chế phát triển giáo dục trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế 

1. Về mặt nhận thức

Để xây dựng và hoàn thiện thể chế - cơ chế phát triển giáo dục trong giai đoạn mới cần phải có những nhận thức, quan điểm phát triển giáo dục đúng, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Trong đó có những nội dung quan trọng sau:

1) Phải nhận thức đúng đắn bản chất, chức năng, tính chất của giáo dục vận động và phát triển trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, nhất là đối với giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp. Giáo dục - đào tạo vừa mang lợi ích công vừa mang lợi ích tư; vừa có tính chất phúc lợi xã hội vừa có tính chất hàng hoá dịch vụ; tính chất hàng hóa dịch vụ cao hơn đối với giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp.

2) Trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế sự tồn tại và phát triển thị trường đặc biệt hàng hoá dịch vụ giáo dục - đào tạo (thị trường không hoàn hảo) là khách quan với những đặc điểm và tính chất riêng, nhất là đối với giáo dục đại học.

3) Phải hình thành thể chế, cơ chế phát triển giáo dục - đào tạo có hiệu quả, thích ứng trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; đảm bảo vai trò chủ đạo của Nhà nước kết hợp có hiệu quả với vai trò của cơ chế thị trường, của xã hội; kết hợp có hiệu quả vai trò của yếu tố “công” và yếu tố “tư”; sử dụng và phát huy những mặt tích cực, hạn chế các mặt tiêu cực của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế.

4) Thực hiện ngày càng tốt hơn công bằng, bình đẳng về cơ hội học tập, các chính sách xã hội trong giáo dục - đào tạo, nhất là đối với những vùng khó khăn, người nghèo, người dân tộc ít người và các đối tượng chính sách, trong điều kiện đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

5) Phải đảm bảo chủ quyền quốc gia, bản sắc dân tộc, hiệu quả và chất lượng trong hợp tác và hội nhập quốc tế về giáo dục - đào tạo.

2. Thể chế - Cơ chế phát triển giáo dục trong điều kiện mới 

Từ những đặc điểm và tính chất của giáo dục - đào tạo, xin nêu thể chế tổng quát phát triển giáo dục - đào tạo Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế là: Nhà nước đóng vai trò chủ đạo kết hợp với cơ chế thị trường, cơ chế tự chủ của các cơ sở giáo dục đào tạo và vai trò của xã hội, đảm bảo cho giáo dục - đào tạo phát triển theo định hướng của Nhà nước, có hiệu quả và chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới, đảm bảo tốt hơn công bằng và bình đẳng xã hội trong giáo dục - đào tạo.

Trong thể chế - cơ chế phát triển giáo dục - đào tạo này, vai trò, chức năng của các chủ thể được phân định khách quan phù hợp.

1) Vai trò chủ đạo của Nhà nước được thể hiện trên các mặt chủ yếu sau:

(1) - Quản lý Nhà nước về phát triển giáo dục - đào tạo (cả đối với công lập và ngoài công lập), về sứ mạng, mục tiêu, chiến lược, quy hoạch phát triển giáo dục đào tạo, về quản lý chất lượng giáo dục - đào tạo. 

(2) - Ban hành khuôn khổ pháp lý cho sự vận động, hình thành và phát triển thị trường hàng hoá dịch vụ giáo dục - đào tạo, tạo sự cạnh tranh lành mạnh, hạn chế các tác động tiêu cực của cơ chế thị trường. 

(3) - Xây dựng khuôn khổ pháp lý và cơ chế, chính sách cho các cơ sở giáo dục - đào tạo thực hiện cơ chế tự chủ; Định hướng đổi mới và xây dựng mô hình nhà trường năng động, hiện đại, sáng tạo cho thế kỷ. 21. 

(4) - Là người cung cấp nguồn lực chủ yếu, lớn nhất cho giáo dục - đào tạo, nhưng có sự đổi mới trong phương thức cung cấp để nâng cao hiệu quả đầu tư các nguồn lực của nhà nước và của xã hội. 

(5) - Ban hành và thực hiện các chính sách đảm bảo công bằng, bình đẳng trong giáo dục - đào tạo; ưu tiên đầu tư cho phát triển giáo dục - đào tạo ở những vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc ít người, các đối tượng chính sách. 

(6) - Ban hành cơ chế chính sách hợp tác và hội nhập quốc tế về giáo dục - đào tạo đảm bảo mục tiêu đặt ra, có chất lượng và hiệu quả cao. Vai trò chủ đạo của Nhà nước được cụ thể hóa khác nhau đối với các cấp bậc học và loại hình đào tạo.

2) Vai trò của cơ chế thị trường

Vai trò của cơ chế thị trường được thể hiện trên các mặt chủ yếu sau: 

(1) - Đa dạng hoá các thành phần, các chủ thể tham gia phát triển giáo dục - đào tạo, cung ứng hàng hoá dịch vụ giáo dục - đào tạo, nhát là đối với đào tạo đại học và đào tạo nghề; 

(2) - Hình thành thị trường hàng hoá dịch vụ giáo dục - đào tạo (thị trường đặc biệt - thị trường không hoàn hảo); tạo sự cạnh tranh trong giáo dục - đào tạo. 

(3) - Thúc đẩy đổi mới và phát triển các mô hình nhà trường hiện đại - năng động - sáng tạo. Hình thành đa dạng các hình thức giáo dục - đào tạo, các cơ chế hoạt động của các cơ sở giáo dục - đào tạo: không vì lợi nhuận, vì lợi nhuận, bán vì lợi nhuận. Tạo sự kết hợp, hợp tác công - tư có hiệu quả trong phát triển giáo dục - đào tạo. 

(4) - Đòi hỏi gắn mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục - đào tạo với nhu cầu xã hội;

(5) - Thúc đẩy hội nhập, hợp tác quốc tế về giáo dục - đào tạo theo cơ chế thị trường.

3) Tự chủ của các cơ sở giáo dục – đào tạo

Cơ chế tự chủ của các cơ sở giáo dục - đào tạo được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau: 

(1) - Phải đảm bảo định hướng, mục tiêu, chất lượng giáo dục - đào tạo toàn diện của Đảng và Nhà nước đề ra; 

(2) - Tự chủ trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục - đào tạo. Tự chủ trong việc xây dựng tổ chức, biên chế, nhân sự; tự chủ về mặt tài chính, đảm bảo cân đối thu - chi và đầu tư phát triển. Thực hiện tự do học thuật và tự chủ quản trị phù hợp với cấp bậc, hình thức và trình độ giáo dục- đào tạo. 

(3) - Thực hiện trách nhiệm xã hội, trách nhiệm giải trình, công khai minh bạch đối với các cơ quan quản lý nhà nước, người học, xã hội; chuyên nghiệp hoá quản trị cơ sở giáo dục - đào tạo. 

(4) - Chủ động trong việc đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục - đào tạo, thực hiện có hiệu quả hợp tác và hội nhập quốc tế ; 

(5) - Xây dựng mô hình nhà trường hiện đại - sáng tạo cho thế kỷ 21. 

(6) - Vận dụng đúng đắn, hợp lý, có hiệu quả các công cụ của cơ chế thị trường trong quản trị - vận hành nhà trường; thực hiện sự cạnh tranh lành mạnh, nâng cao chất lượng cung ứng hàng hoá dịch vụ giáo dục - đào tạo. 

(7) - Thực hiện các chính sách xã hội trong giáo dục - đào tạo. Cơ chế tự chủ được thể hiện ở mức độ cao hơn cả là đối với giáo dục đại học và giáo dục nghề, trên hai phương diện : tự chủ quản trị và tự do học thuật sáng tạo KH - CN, đó là một trong những điều kiện cốt yếu để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực. 

4) Trách nhiệm của người học

Trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, trách nhiệm của người học và gia đình đã có những nội dung mới: 

(1) - Tự quyết định và tự chịu trách nhiệm về việc học tập của mình; 

(2) - Chịu trách nhiệm về chi phí học tập (ngoài phần được nhà nước hay xã hội hỗ trợ). 

(3) - Chấp nhận sự cạnh tranh về chỗ học, trường học, ngành học, nguồn tài chợ, chỗ làm việc, con đường thăng tiến…Điều này được thể hiện rất rõ đối với  giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường.  

5) Vai trò của xã hội

Vai trò của xã hội, trong đó có các nhà đầu tư, có ý nghĩa đặc biệt hơn, thể hiện ở các nội dung chủ yếu sau: 

(1) - Trở thành một “đối tác” chủ động, tích cực với Nhà nước và thị trường trong việc tham gia phát triển giáo dục - đào tạo: xây dựng pháp luật, cơ chế, chính sách; giám sát quá trình triển khai thực hiện trên thực tế. 

(2) - Đẩy mạnh xã hội hoá, huy động sự quan tâm, đầu tư các nguồn lực cho phát triển giáo dục - đào tạo; tham gia cung ứng hàng hoá dịch vụ giáo dục - đào tạo; thúc đẩy quá trình xây dựng xã hội học tập. 

(3) - Tham gia  thực hiện giám sát, đánh giá xã hội đối với quá trình phát triển giáo dục - đào tạo, đối với quản lý nhà nước; 

(4) - Đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, tham gia thực hiện các chính sách xã hội trong giáo dục - đào tạo. 

Đối với giáo dục đại học và giáo dục nghề, xã hội (theo nghĩa rộng, gồm tất cả các đợn vị sử dụng nhân lực) còn đóng vai trò rất quan trọng trong việc định hướng và đặt ra yêu cầu về chất lượng và cơ cấu đào tạo nguồn nhân lực.

Trên đây là Thể chế - cơ chế tổng quát liên kết hữu cơ giữa các chủ thể, các yếu tố tạo nên sức mạnh tổng hợp cho phát triển giáo dục - đào tạo trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Thể chế - cơ chế này cần phải được cụ thể hoá bằng hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách, giải pháp cần thiết và được vận dụng phù hợp với từng cấp bậc, hình thức giáo dục - đào tạo, điều kiện phát triển của từng vùng.

3. Vấn đề đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục - đào tạo trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

Vấn đề đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục – đào tạo cần phải được xem xét trong cách tiếp cận sau: Về mặt tổng quát, việc xây dựng được Thể chế - cơ chế phát triển giáo dục như nêu trên và thực hiện có hiệu quả là cơ sở nền tảng để giáo dục - đào tạo phát triển theo định hướng mà Đảng và Nhà nước xác định. 

 Trong định hướng chung về xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta nêu rõ phải xây dựng cơ chế để phát triển mạnh các lĩnh vực dịch vụ công (trong đó có giáo dục - đào tạo) tiếp cận với cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế, vận dụng đúng đắn, hợp lý, có hiệu quả những mặt tích cực của cơ chế thị trường phù hợp với đặc điểm của tường lĩnh vực. Đối với lĩnh vực giáo dục - đào tạo, một mặt phải quán triệt những nguyên tắc chung, định hướng chung nêu trên, đồng thời cần phải thấu suốt những đặc điểm riêng đó là: 

  • Mục tiêu của giáo dục - đào tạo là phát triển con người, phát triển văn hóa, “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”, do đó tiêu chí và nội dung giáo dục phải gắn với và phải hướng tới phục vụ đắc lực, có hiệu quả mục tiêu xây dựng đất nước “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới. 
  • “Sản phẩm của giáo dục” là những con người được đào tạo toàn diện có năng lực sáng tạo, tri thức, kỹ năng nghề nghiệp cao, được giáo dục sâu sắc về văn hóa, đạo đức, lối sống, lý tưởng, yêu gia đình yêu quê hương đất nước - tự tôn dân tộc, trách nhiệm xã hội,...trở thành chủ thể vững vàng của đất nước phát triển trong giai đoạn mới.
  • Phát triển một nền giáo dục khoa học, tiên tiến, hiện đại, đại chúng, vừa phát huy những gía trị tốt đẹp của dân tộc vừa tiếp thu những tinh hoa của thế giới – hội nhập quốc tế.
  • Đảm bảo quyền và lợi ích của mỗi người dân trong việc học tập, đảm bảo công bằng, bình đẳng xã hội trong giáo dục - đào tạo. Đồng thời phải xử lý hài hòa, có hiệu quả về quyền - lợi ích - nghĩa vụ giữa các chủ thể trong phát triển giáo dục - đào tạo.

Vấn đề đảm bảo tính định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục - đào tạo còn được chế định trong tổng hợp các mối quan hệ sau: 

(1) - Giáo dục là một phân hệ chịu sự chi phối, chế định của cả hệ thống lớn về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước đi theo con đường định hướng xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của nhà nước. 

(2) - Hệ thống giáo dục - đào tạo (cả công lập và ngoài công lập) phải thực hiện đường lối, chủ trương, mục tiêu phát triển giáo dục của Đảng và Nhà nước. 

(3) - Vận dụng có hiệu quả các mặt tích cực và hạn chế các tác động tiêu cực của cơ chế tại trường và hội nhập quốc tế trong phát triển giáo dục - đào tạo. 

(4) - Quán triệt các quan điểm, xây dựng và triển khai có hiệu quả cơ chế và các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. 

(5) - Xây dựng môi trường (môi trường xã hội, môi trường nhà trường, môi trường gia đình) thực sự là môi trường lành mạnh đối với giáo dục. 

Như vậy, chính mục tiêu phát triển đất nước, định hướng giá trị con người - giá trị xã hội cùng với hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách phát triển đất nước là cơ sở nền tảng cho định hướng phát triển giáo dục - đào tạo. Đồng thời định hướng đó được cụ thể hóa trong mục tiêu, tiêu chí giáo dục - đào tạo, thể hiện trong nội dung chương trình giáo dục - đào tạo và phương thức giá dục đáp ứng với đòi hỏi của giai đoạn mới. Cơ sở pháp lý để thực hiện chính là xây dựng và hoàn thiện Thể chế - cơ chế phát triến giáo dục - đào tạo với hệ thống đồng bộ luật pháp, cơ chế - chính sách phù hợp. 

 Đổi mới - phát triển - hoàn thiện và nâng cao năng lực của tất cả các chủ thể, phân định rõ chức năng của các chủ thể, đặc biệt là vai trò chủ đạo của Nhà nước, vai trò của các cơ sở giáo dục phù hợp với từng cấp bậc học, loại hình đào tạo và yêu cầu của giai đoạn mới, nhằm thực hiện có hiệu quả các chức năng như nêu trên là yếu tố quyết định để Thể chế - cơ chế phát triển giáo dục mới tạo được động lực mạnh mẽ cho quá trình đổi mới căn bản - toàn diện nền giáo dục nước ta, nhất là đối với giáo dục đại học. 

 

PGS.TS Trần Quốc Toản

Hội đồng lý luận Trung ương

Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông: "Mỗi người cần phải biết ba ngôn ngữ"

 


GDVN- Theo Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng, thế giới ngày nay, mỗi người cần phải biết ba ngôn ngữ, tiếng mẹ đẻ, tiếng Anh và ngôn ngữ máy lập trình coding. 

Ngày 31/10, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc ngành Giáo dục năm 2020. Tham dự Hội nghị tại điểm cầu Hà Nội có Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam cùng lãnh đạo nhiều Bộ ngành, cơ quan Trung ương. 

Tại hội nghị Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng đã có những chia sẻ liên quan đến sự thay đổi của giáo dục trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Theo Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng, giai đoạn Covid- 19 vừa qua, có tới gần 80% học sinh sinh viên học trực tuyến, tỷ lệ này cao hơn mức trung bình của các nước OECD là 67,15%, trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Điều này tạo niềm tin nếu chúng ta quyết tâm, Việt Nam có thể làm những điều đặc biệt.

Chương trình chuyển đổi số quốc gia mà Thủ tướng Chính phủ đã ký năm nay, coi chuyển đổi số lĩnh vực giáo dục là ưu tiên số 1. Bởi vậy, ngành giáo dục phải đi đầu về chuyển đổi số.

Bộ trưởng Hùng cam kết, Bộ Thông tin và truyền thông cũng như toàn ngành thông tin truyền thông cam kết đồng hành với Bộ Giáo dục và Đào tạo, bởi vì chuyển đổi số đầu tiên nên nhắm vào giới trẻ, để từ đó thúc đẩy toàn xã hội.

Thời gian tới, hai Bộ sẽ có buổi làm việc chuyên đề về chuyển đổi số ngành giáo dục đào tạo, tận dụng cơ hội của thách thức Covid-19 để đẩy nhanh chuyển đổi số, và coi đây như Covid trăm năm.

Cần thay đổi cách tiếp cận trong chuyển đổi số

Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng thông tin, Bộ Thông tin và truyền thông cũng đang tập trung chuyển đổi số. 

Hiện Bộ có một trường đại học là Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, mục tiêu biến trường đại học này thành một quốc gia số thu nhỏ. Mọi hoạt động của đại học sẽ lên môi trường số, từ quản trị đại học đến học tập, sinh học của sinh viên. Dự kiến, hết quý I năm 2021, tức là còn 5 tháng nữa sẽ hoàn thành.

Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng (Ảnh: Bộ Giáo dục và Đào tạo cung cấp)

Bộ trưởng Bộ thông tin và truyền thông nhấn mạnh dự kiến: "Sẽ mời Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ đến thăm, đánh giá, nếu thấy tốt sẽ nhân rộng ra các trường đại học khác".

Người đứng đầu ngành thông tin và truyền thông chia sẻ, chuyển đổi số ngành Giáo dục chủ yếu là thay đổi mô hình, thay đổi cách tiếp cận. 

Ví dụ, trước đây học chữ là chính, nay sinh viên cần làm nhiều hơn, thông qua làm để học. Bởi vậy cơ sở đại học cần nhiều phòng lab hơn. Đại học nên làm việc với doanh nghiệp để đưa phòng lab vào đại học. 

Trước đây giáo viên dạy là chính, để có nhiều giáo viên dạy giỏi là không dễ, các tỉnh vùng sâu vùng xa càng khó có nhiều giáo viên dạy giỏi. Nay giáo viên sẽ là người hướng dẫn nhiều hơn, giáo viên giỏi nhất sẽ làm bài giảng trực tuyến, và phổ cập đến tất cả các trường. Các giáo viên còn lại sẽ là người hướng dẫn công việc dạy học, vì thế sẽ thuận lợi hơn.

Đối với đại học thì có thể cho phép sinh viên học ở bất đâu, cách nào cũng được. Nhưng nếu thi đạt ở một tổ chức uy tín do Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định thì coi như hoàn thành môn học đó. Tức là chúng ta quản lý tốt đầu ra. 

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội triển khai đóng học phí qua ứng dụng ViettelPay
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội triển khai đóng học phí qua ứng dụng ViettelPay

Theo Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng, thế giới ngày nay, mỗi người cần phải biết ba ngôn ngữ, tiếng mẹ đẻ để giữ gìn văn hoá truyền thống, giữ cái gốc cái nền của nhà mình; tiếng Anh để hội nhập quốc tế và ngôn ngữ máy lập trình coding để giao tiếp người với máy. Bộ Giáo dục và Đào tạo cân nhắc nên đưa ba cả môn này thành ba môn học bắt buộc ở cấp phổ thông.

Hiện nay, học sẽ là học cả đời. Công nghệ, cuộc sống thay đổi nhanh, bắt buộc phải học cả đời, cũng như đào tạo lại, đào tạo nâng cao sẽ là nhu cầu thường xuyên. Bởi vậy, có lẽ chúng ta cũng nên cân nhắc rút ngắn thời gian học chính thức.

"Việt Nam có lợi thế là có nhiều doanh nghiệp công nghệ số mạnh, có thể phát triển các nền tảng số cho Bộ Giáo dục và Đào tạo. Bộ Giáo dục và Đào tạo hãy đặt ra các bài toán, Bộ Thông tin và truyền thông sẽ chỉ đạo các doanh nghiệp trong ngành thực hiện", Bộ trưởng Hùng bày tỏ. 

Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cũng đề xuất, Bộ Giáo dục và Đào tạo cân nhắc thay đổi một số quy định để chính thức hoá tỷ lệ học trực tuyến, thí dụ 15-30% ngay cả khi không còn Covid-19. Bởi học trực tuyến sẽ thúc đẩy nhanh chóng kỹ năng số của cả giáo viên, học sinh, cũng như thu hẹp khoảng cách chuyển đổi số giáo dục đào tạo giữa thành phố và vùng sâu vùng xa. 

"Chuyển đổi số giáo dục chủ yếu là thay đổi thể chế. Một cuộc cách mạng về thể chế, về mô hình đào tạo, về cách tiếp cận giáo dục đào tạo và về cách làm giáo dục đào tạo. Cuộc cách mạng về mô hình này được thúc đẩy và hỗ trợ bởi công nghệ số. Cuộc cách mạng công nghệ đã và đang thúc đẩy một cách mạng về thể chế, về mô hình mới", Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh. 

Thùy Linh

Chủ Nhật, 1 tháng 11, 2020

Từ ca sỹ trở thành lãnh đạo thành công tại Mỹ, cô gái Việt khẳng định: "Nếu học xong mà về Việt Nam luôn, thứ cầm theo chỉ là một tấm bằng



 Võ Vũ Thùy My (Maggie Vo) cho rằng, với tấm bằng đó sẽ chẳng làm được gì nhiều ngoại trừ giúp cho bản thân có được một công việc tốt

Thùy My là một trong hai thành viên góp vốn chính và hiện nắm toàn quyền điều hành quỹ Fuel VC. Cô từng tốt nghiệp trường Centre College ở Kentucky (Mỹ) với hai bằng toán học và tài chính, sau này giành được chứng chỉ CFA (một chứng chỉ 3 cấp độ do Hiệp hội quốc tế dành cho các nhà quản lý đầu tư chuyên nghiệp). Trước đó, My từng tham gia nhóm nhạc Tymyty cùng Thùy Trang, Thùy Lâm - Hoa hậu Hoàn vũ Việt Năm năm 2008.

Người Việt muốn thành công ở Mỹ?

Người ta nói, người Việt Nam muốn thành công ở Mỹ đều phải nỗ lực hơn người bản xứ nhiều lần?

Theo cảm nhận của tôi, những người sinh ra ở đây, nói tiếng Anh chuẩn, có gia đình, bạn bè, có kiến thức văn hoá xã hội, và sự tiếp cận với công nghệ thông tin từ rất sớm... thì họ đã có bàn đạp cao hơn My mấy bậc rồi. Giống như trong một cuộc đua, họ đã chạy trước 17 năm rồi mình mới bắt đầu chạy

Do đó mình không những phải nỗ lực chạy lâu hơn, mà còn phải học cách chạy nhanh hơn để đuổi kịp. Và quan trọng hết khi cạnh tranh với người bản xứ, người Việt Nam mình cần vận dụng những điểm thế mạnh của bản thân và điểm khác biệt của một người Á Châu để có thể tạo ấn tượng riêng và định ra những chiến lược mới mẻ khác. Vì nếu mình làm y như người bản xứ thì cơ hội thắng sẽ thấp hơn bởi họ đã có lợi thế do bắt đầu từ sớm.

Đối với chị thì sao? 

My tốt nghiệp năm 2009, đúng vào lúc xảy ra khủng hoảng tài chính nên rất khó kiếm việc làm, đặc biệt trong lĩnh vực đầu tư tài chính.

Năm đó, những sinh viên nước ngoài như My chỉ có vỏn vẹn 90 ngày để tìm kiếm việc làm, nếu không tìm được, sẽ phải rời khỏi xứ cờ hoa. Trong 90 ngày đó, My nhận một công việc phân tích tài chính ở Kentucky.

Vô tình trên chuyến bay từ New York về Kentucky, My ngồi cạnh một vị Giám đốc quỹ đầu tư tại Florida. My xin contact của ông ấy và giữ liên lạc với ông mỗi tuần. Sau đó không lâu, ông ấy khuyến khích My nên đi thi bằng CFA vì đó là điều kiện để được làm việc ở các quỹ đầu tư.

My quyết định đi làm ban ngày và học thi CFA buổi tối. Sau 6 tháng ròng rã, My đỗ level 1 với điểm số cao trong mỗi hạng mục. Lúc đó, công ty của vị giám đốc nọ không hề có vị trí dành cho My, nhưng ông ấy đã thuyết phục mọi người mở ra một vị trí mới cho My làm việc. My rời Kentucky, bỏ lại mọi thứ để tới Florida bắt đầu công việc mới và thi tiếp level 2, level 3 của bằng CFA. 

Sau khi thấy My đậu 3 level liên tiếp, không rớt lần nào và đảm nhận được mọi công việc của quỹ, ông đã cất nhắc cho My lên làm giám đốc quản lí một quỹ riêng và dần dần trở thành cánh tay đắc lực của ông.

Nhiều người nghe như vậy thường nói My may mắn, nhưng My nghĩ, ai cũng có một cơ hội như thế, gặp một người có khả năng thay đổi vận mệnh của mình, nhưng nếu mình không biết nắm bắt thì mình cũng dễ dàng để cơ hội vụt khỏi tầm tay.

Sau những trải nghiệm như vậy, chị nghĩ rằng muốn thành công nơi xứ người, điều gì là quan trọng nhất?

Theo kinh nghiệm My đúc kết được, thành công là sự kết hợp của ba yếu tố: kiến thức, kĩ năng sống, và yếu tố may mắn. Để có thể phát triển ở Mỹ, trước hết ai cũng cần có kiến thức và trình độ. Nền tảng ấy, mình cần tạo dựng thật vững chắc từ ghế nhà trường vì không có nó mình không thể đảm đương được công việc. Từ đó, khi đi làm mình cần đúc kết thêm kĩ năng sống để giao tiếp, để lãnh đạo và để phát huy được thế mạnh của mình đúng lúc, đúng chỗ.

Hai yếu tố đầu quyết định 99% của sự thành công. Do đó mỗi năm, My đều hoạch định kế hoạch cho bản thân và nhìn lại xem mình đã làm và học hỏi được gì mới. Nếu đến tháng 12 mà chưa làm được gì, My cảm thấy mình đã thua chính mình của năm ngoái. Mặc dù sống vậy cũng hơi áp lực, nhưng nhưng My nghĩ cuộc sống luôn có mục tiêu, luôn phát triển bản thân như vậy rất thú vị.

Sự may mắn là yếu tố duy nhất không nằm trong tầm kiểm soát của bản thân. Và điều duy nhất mình có thể làm là phải nỗ lực, không ngừng trau dồi hai yếu tố đầu để có thể nhận ra, sẵn sàng đón nhận và phát huy một cách tốt nhất khi cơ hội may mắn đến.

     

     Học xong mà về ngay, thứ mang về chỉ là một tấm bằng

Trong suốt 15 năm ở xứ người, chị thấy giai đoạn nào là khó khăn nhất ?

Năm 2009, ngoài khó khăn về việc làm thì My còn bị tai nạn xe khá nặng. Rất may mắn, lúc My bị tai nạn thì ba mẹ cũng có mặt và đã ở lại Mỹ để chăm sóc My suốt khoảng thời gian đó. Lúc đó khi nằm tịnh dưỡng và có nhiều thời gian suy nghĩ, My đã tự hỏi không biết việc mình cương quyết ở lại để tìm việc làm là đúng hay sai vì các bạn cùng lứa đều đã đi về hết.

Tới bây giờ, những vết thương của My vẫn không thể hồi phục hoàn toàn. Có lẽ, nhiều người sau tai nạn khá nặng như vậy sẽ nghĩ tới chuyện về nước, để khi ốm đau có người thân ở bên, nhưng My vẫn cứng đầu muốn ở lại vì My thực sự thấy rằng kiến thức 4 năm đại học là chưa đủ.

Vì sao vậy?

Vì My nghĩ rằng, lúc đó My chỉ mới học xong thôi, chưa có kinh nghiệm gì, nếu có về Việt Nam cũng chỉ là mang theo một tấm bằng ở Mỹ và chưa làm được gì nhiều ngoại trừ giúp cho bản thân lấy được một công việc tốt. 

Do đó My đã xác định phải tạo dựng được một sự nghiệp vững chắc bên này và phải làm chủ được một quỹ đầu tư của riêng mình, để sau đó có thể dùng vị trí và mối quan hệ mà mình có để trở về Việt Nam giúp ích cho những bạn trẻ ở Việt Nam mà cũng như My ngày đó, có hoài bão muốn tiến ra biển lớn và cạnh tranh trong thị trường thế giới. 

My nghĩ với khả năng của mình hiện tại nếu về Việt Nam thì sẽ giúp được điều gì cho quê hương?

Trước mắt với kinh nghiệm làm việc với nhiều founders từ Mỹ đến Châu Âu, My muốn được chia sẻ thêm với founders Việt Nam về kinh nghiệm khởi nghiệp, vận hành công ty, thu hút vốn của nhà đầu tư mạo hiểm ở giai đoạn đầu. My thấy ở Việt Nam có rất nhiều nhà khởi nghiệp làm điều đó nhưng chưa có nhiều bài báo viết về quan điểm đó dưới góc nhìn của nhà đầu tư.


Sau đó, My muốn vận dụng những mối quan hệ với nhà đầu tư từ Fuel VC để giúp những startups ở Việt Nam có thể huy động vốn từ Mỹ vì My thấy hiện giờ hầu hết vốn đầu tư vào startup công nghệ ở Việt Nam vẫn từ những nước châu Á xung quanh. 

Bên cạnh đó, ngoài việc tìm nhà đầu tư, My có thể giúp các startup kết nối với những tập đoàn ở Mỹ để có thể giúp họ có cơ hội sát nhập với những công ty Mỹ muốn xâm nhập vào thị trường Việt Nam hoặc ngược lại, giúp những startup đó tiến ra thị trường Bắc Mỹ. Và để làm được những chuyện đó, My nghĩ sẽ thích hợp hơn nếu My vẫn giữ vị trí là người lãnh đạo ở quỹ Fuel VC và chỉ đi đi về về với Việt Nam thay vì về hẳn.

Tôi muốn đưa những công nghệ hàng đầu thế giới về Việt Nam

Quỹ đầu tư Fuel VC mà chị đang điều hành ở Mỹ có vị trí như thế nào nếu so sánh với các quỹ khác tại đây?

Ở Mỹ có rất nhiều quỹ đầu tư mạo hiểm và người ta thường phân thành 3 loại: những quỹ lớn có vốn khoảng từ 500 triệu đô trở lên, quỹ tầm trung từ 100 tới dưới 500 triệu đô và dưới 100 triệu đô được coi là quỹ nhỏ. Từ lúc mới thành lập, Fuel VC đã xác định chỉ tập trung vào quỹ tầm trung và chỉ rót vốn vào các công ty công nghệ thời đại mới từ trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, thực tế ảo, robot, và công nghệ tài chính...


                            My và ca sĩ Pitbull cùng đồng nghiệp


Một điều thú vị là 50% thành viên của quỹ xuất phát từ thị trường niêm yết và My là một trong số đó. Do đó quỹ có nhiều kinh nghiệm chuyên môn trong việc quản lí quỹ, gọi vốn đầu tư, phân bố tài sản, và quản trị rủi ro. Ngoài ra, thay vì đặt trụ sở tại Thung lũng Silicon như nhiều quỹ đầu tư mạo hiểm khác, quỹ chọn Miami - một thành phố rất phát triển, hội tụ nhiều founder và thuận lợi khi kết nối với châu Âu và Nam Mỹ.

Là một người phụ nữ nhập cư, chị đã bắt đầu với công việc này thế nào?

Trước khi làm ở Fuel VC, My từng làm nhiều năm ở các quỹ quản lý tài sản trong thị trường niêm yết. Nhưng từ sau khủng hoảng tài chính năm 2009, My chú ý rằng các kênh đầu tư như cổ phiếu hay trái phiếu ở Mỹ dần mất hấp dẫn. Mọi người chú ý nhiều hơn tới thị trường tư và thấy rằng, các công ty công nghệ ngày càng lớn mạnh với tốc độ quá nhanh. Và quan trọng hơn hết những công ty công nghệ này chọn ở lại thị trường tư lâu hơn để phát triển thay vì tham gia thị trường niêm yết từ sớm để gọi vốn

Ví dụ, Amazon năm 1997 bước vào thị trường niêm yết khi mới 3 tuổi và định giá công ty chỉ khoảng 460 triệu đô. Nhưng sau này, những công ty như Facebook, Google hay Uber tới lúc chào bán chứng khoán công khai (IPO) đã có tuổi đời 10 năm và đạt giá trị tới cả tỷ đô.

Các nhà đầu tư hiểu rằng, muốn thu được lợi nhuận cao, phải đầu tư vào startup từ rất sớm, chứ nếu đợi các công ty này IPO thì đã quá trễ. Vì thế, lĩnh vực đầu tư mạo hiểm dần thu hút rất nhiều nhà đầu tư trong đó có khách hàng của My. Họ rất mong muốn My đi tìm giúp những cơ hội mới hấp dẫn như thế.

Chính điều đó thúc đẩy My rời thị trường niêm yết và tìm tới quỹ Fuel VC, nơi My bắt đầu với vị trí chỉ là chuyên viên phân tích tài chính.

Nhưng bằng sự nỗ lực, kinh nghiệm đã có, chỉ trong vòng 2,5 năm, My trở thành người điều hành quỹ và chịu trách nhiệm chính về mặt đầu tư. My cảm thấy tự hào mình là người trẻ tuổi nhất đồng thời là người phụ nữ đầu tiên đảm nhiệm chức vụ này tại đây.


       My làm việc cùng chuyên gia.


Những kinh nghiệm gì đã giúp chị nhận được sự tín nhiệm và thăng tiến nhanh như vậy?

Kinh nghiệm làm việc ở thị trường niêm yết trước khi gia nhập thị trường đầu tư mạo hiểm cho My cái nhìn tổng quát về mọi phương thức và kênh đầu tư. Do đó My đã rất thành công trong việc giúp Fuel VC huy động vốn. 

Về mặt đánh giá cơ hội đầu tư, My phân loại startups theo nhiều dạng khác nhau tuỳ theo tiềm năng phát triển của công ty và khả năng sinh lời cho nhà đầu tư chứ không chỉ tập trung vào việc công ty có trở thành unicorn (kỳ lân) hay không. Bởi vì không phải công ty nào cũng có khả năng đó. Tấm bằng CFA giúp My nhiều trong việc định giá công ty, xây dựng mô hình tài chính, chiến lược phát triển và exit (lối thoát) cho những công ty startup.

Sau khi quyết định đầu tư, để giảm thiểu rủi ro, My không bao giờ chọn rót vốn một khoản quá lớn. Bởi vì My coi khoản vốn ban đầu chỉ là cơ hội giúp quỹ đầu tư và founder được làm việc sâu với nhau. Chỉ khi được đứng ở góc nhìn bên trong như thế, mình mới có cơ hội hiểu rõ nội tình hoặc những rắc rối mà doanh nghiệp đang vướng phải.

Cách làm này đồng thời giúp founder có động lực hoàn thành mục tiêu do quỹ đề ra để có thể nhận được những khoản vốn tiếp theo từ quỹ

Cuối cùng khi công ty startup tìm kiếm cơ hội exit, mối quan hệ với những ngân hàng đầu tư giúp My dễ dàng hơn trong việc tiếp cận những đối tác có thể mua lại hoặc giúp công ty chuẩn bị cho việc lên sàn niêm yết.

Có những công nghệ nào khiến chị đặc biệt ấn tượng?

Có rất nhiều startup có công nghệ lõi rất hay mà My rất muốn đưa về Việt Nam. Ví dụ, Fuel VC vừa đầu tư vào Curve, một công ty fintech ở UK đang tăng trưởng rất nhanh ở 32 nước châu Âu và chuẩn bị xâm nhập vào thị trường Mỹ. Công ty này sở hữu platform (nền tảng) cho phép người dùng đưa nhiều tài khoản ngân hàng của mình lên trên đó. Khi quẹt thẻ, họ có thể chọn lựa tài khoản ngân hàng mình muốn thông qua ứng dụng trên điện thoại. 

Một trong những chức năng My thích nhất của Curve là time travel (du hành thời gian). Với time travel, bạn có thể thay đổi cách bạn thanh toán ngay cả khi giao dịch đó đã xảy ra từ trước đó. Ví dụ, nếu bạn mời đối tác đi ăn trưa bằng tiền của cơ quan, nhưng lại quẹt nhầm bằng thẻ cá nhân, thì chỉ cần thao tác trên app này để điều chỉnh. Hoặc khi bạn đi mua những vật dụng lớn và đã thanh toán trả hết tiền ở cửa hàng, nhưng sau đó vài ngày lại đổi ý, muốn trả góp hàng tháng thì ứng dụng cũng có thể trả tiền lại tiền cho bạn và hàng tháng sẽ đều đặn trừ đi khoản phải trả góp.

Hoặc một công nghệ khác mà My chỉ ước giá như có thể sớm đưa về Việt Nam. Đó là công ty Ubicquia, chuyên về lĩnh vực smart city (thành phố thông minh) và mạng 5G ở Florida. Công ty này phát triển một thiết bị mà khi gắn vào đèn đường, có thể điều khiển đèn từ xa, giúp tiết kiệm năng lượng. Ngoài ra, nó còn giúp đèn đường phát wifi, quay video, thu audio... Điều đó có thể giúp ích rất nhiều cho các nhà quản lý đô thị để giải quyết những sự vụ trên đường, đảm bảo an ninh. Hơn nữa, wifi cũng hỗ trợ xe không người lái và xây dựng thành phố thông minh.

Khi chị nói muốn đưa những công nghệ hiện đại đó về Việt Nam, chị đã có hành động gì cụ thể hay chưa?

My luôn ấp ủ mong muốn một ngày nào đó có thể xây dựng một hệ thống sinh thái giữa Việt Nam và Mỹ để giúp đỡ những startup ở Việt Nam vươn ra thị trường thế giới. 

Ở bên này, My đang đầu tư cho công ty của anh Vũ Duy Thức (Thức Vũ - founder & CEO người Việt tại công ty Ohmni Labs - một startup chuyên sản xuất robot). Khi đứng trên đất Mỹ mà My vẫn có thể rót vốn vào một công ty do người Việt làm founder & CEO như trường hợp đối với anh Thức thì đó là một dấu ấn rất đặc biệt. 

My và anh Thức cũng đang nhen nhóm một kế hoạch dưới sự hỗ trợ của Fuel VC thành lập một quỹ đầu tư ở Việt Nam hoặc ở khu vực Đông Nam Á, giúp kết nối các nhà đầu tư, các chuyên gia ở Mỹ với các doanh nghiệp Việt Nam hoặc ngược lại.

Chuyện đưa nền tảng công nghệ từ Mỹ về Việt Nam, My nghĩ là điều rất khả thi, đặc biệt là những công nghệ phục vụ cho nhu cầu của người tiêu dùng ở Việt Nam, đất nước hiện đang ngày có thu nhập cao hơn và muốn chất lượng cuộc sống cao hơn.

Ở chiều ngược lại, My nghĩ rằng rất nhiều startup Việt đang rất cần vốn cũng như một hệ sinh thái tốt để phát triển. Vì thế, My rất muốn xây dựng hệ sinh thái đó ở Việt Nam, để có thể hỗ trợ các nhà khởi nghiệp về mọi mặt từ xây dựng sản phẩm, phát triển công nghệ, định hướng chiến lược kinh doanh và huy động vốn.

Xin cảm ơn chị về cuộc trò chuyện này!

Sách giáo khoa phải được sử dụng ổn định, lâu dài, tránh lãng phí

 

 01/11/2020 06:50 Thùy Linh
GDVN- Bộ Giáo dục, Ủy ban nhân dân tỉnh/thành sẽ tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm đối với vi phạm trong sử dụng sách giáo khoa, sách tham khảo. 

Tại hội nghị trực tuyến toàn quốc ngành giáo dục năm 2020, lãnh đạo Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết, năm học 2020-2021 và những năm tiếp theo, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các bộ, ngành, địa phương tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả Kết luận 51 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 29 của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, trong đó tập trung khắc phục những tồn tại, hạn chế và thực hiện tốt một số nhiệm vụ và giải pháp cụ thể như sau:

Một là, tổ chức triển khai thành công Chương trình giáo dục phổ thông mới. Trong đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức thẩm định, phê duyệt sách giáo khoa và tài liệu giáo dục địa phương theo lộ trình đảm bảo chất lượng, không được để xảy ra những hạn chế, thiếu xót như sách tiếng Việt lớp 1 thời gian qua. 

Sách giáo khoa phải được sử dụng ổn định, lâu dài, tránh lãng phí, với giá cả phù hợp với thu nhập của đa số người dân. 

Năm học 2020-2021, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức thẩm định, phê duyệt sách giáo khoa và tài liệu giáo dục địa phương theo lộ trình (ảnh minh họa: T.L)

Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố sẽ tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm đối với các vi phạm trong việc sử dụng sách giáo khoa, sách tham khảo trong các nhà trường. 

Hai là, các địa phương thực hiện rà soát, tuyển dụng, bố trí, sắp xếp đội ngũ giáo viên theo đúng các quy định của nhà nước; chủ động đặt hàng các trường sư phạm trong việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên theo từng môn học, cấp học để khắc phục cho được tình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ như hiện nay, đồng thời phải đảm bảo “có học sinh thì phải có giáo viên đứng lớp”; thường xuyên kiểm tra, thanh tra, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

Ba là, các địa phương chủ động rà soát nhu cầu để có kế hoạch và chủ động bố trí nguồn lực đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất trường lớp, thiết bị dạy học, trước hết là các thiết bị dạy học tối thiểu để thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông mới. 

Nhiều thầy cô nức nở khen sự đột phá của chương trình giáo dục phổ thông mới
Nhiều thầy cô nức nở khen sự đột phá của chương trình giáo dục phổ thông mới

Đẩy mạnh thu hút các nguồn lực ngoài ngân sách Nhà nước đầu tư cho giáo dục, nhất là đối với giáo dục mầm non và giáo dục đại học; phát triển các cơ sở giáo dục tư thục chất lượng cao, hội nhập quốc tế.

Bốn là, tạo chuyển biến rõ rệt trong giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên. Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục hướng dẫn, chỉ đạo tổ chức thực hiện tốt Chỉ thị số 31/CT-TTg ngày 04/12/2019 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên; xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học; nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và địa phương trong quản lý, giáo dục đạo đức, lối sống, kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên. 

Các địa phương huy động sự tham gia của các cấp, các ngành, các đoàn thể phối hợp chặt chẽ với ngành Giáo dục để thực hiện tốt nhiệm vụ này, trước hết khắc phục tình trạng bạo lực học đường xảy ra ở một số địa phương gây bức xúc xã hội thời gian qua.

Năm là, tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý giáo dục từ trung ương đến địa phương, trước hết là phân định rõ trách nhiệm của từng cấp, từng ngành đối với từng vấn đề cụ thể trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. 

Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, đẩy mạnh chuyển đổi số trong tất cả các cấp học, hoạt động giáo dục. Đổi mới quản trị nhà trường, coi trọng quản lý chất lượng, gắn trách nhiệm quản lý chuyên môn với quản lý nhân sự và quản lý tài chính. Phát huy dân chủ, đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cơ sở giáo dục và đào tạo. Đẩy mạnh thực hiện tự chủ đối với các trường phổ thông đáp ứng đủ điều kiện.

Sáu là, tiếp tục đẩy mạnh tự chủ đại học. Các bộ, cơ quan chủ quản sẽ chỉ đạo các cơ sở giáo dục đại học tập trung kiện toàn Hội đồng trường bảo đảm là một thiết chế thực quyền, hiệu lực, hiệu quả. Khuyến khích phát triển các ngành, các chương trình đào tạo nhân lực chất lượng cao phục vụ cho các lĩnh vực kinh tế mũi nhọn, kinh tế số. 

Đẩy mạnh các hoạt động đổi mới sáng tạo, kết nối nhà trường với doanh nghiệp, gắn đào tạo với nhu cầu của thị trường lao động. Tăng cường hội nhập quốc tế, thu hút học sinh, sinh viên Việt Nam học tập trong nước và thu hút sinh viên nước ngoài đến Việt Nam học tập. Tăng cường kiểm định chất lượng, chú trọng kiểm định quốc tế các cơ sở giáo dục đại học, ngành đào tạo và trách nhiệm giải trình của các cơ sở đào tạo. 

Ngoài ra, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ chủ trì xây dựng và triển khai Đề án Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và các trường sư phạm giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, tập trung xây dựng một số đại học nghiên cứu đẳng cấp thế giới, làm đầu tàu để dẫn dắt hệ thống, đồng thời cương quyết đóng cửa các trường đại học không đáp ứng được các điều kiện đảm bảo chất lượng, không tuyển sinh được trong thời gian dài. 

Tăng cường thanh tra, kiểm tra các chương trình liên kết giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo, các cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và hoạt động tư vấn du học. Xem xét dừng tuyển sinh các chương trình, các ngành đào tạo không đảm bảo chất lượng.

Thùy Linh

Sáu trở ngại luyện nghe tiếng Anh

 

Thứ sáu, 3/7/2020, 12:13 (GMT+7) vnexpress


Ngoài phát âm sai, từ vựng kém, Hoàng Ngọc Quỳnh cho rằng trở ngại khi luyện nghe tiếng Anh còn là chọn sai tài liệu và thiếu tập trung.

Hoàng Ngọc Quỳnh, sinh năm 1990, cựu sinh viên Đại học Kinh tế quốc dân, tốt nghiệp loại xuất sắc trường Nottingham Business, Đại học Nottingham Trent, Anh năm 2017. Năm ngoái, chị giành học bổng tiến sĩ toàn phần của Đại học Lancaster (Anh) trị giá 89.000 bảng Anh (khoảng 2,6 tỷ đồng) và là tác giả hai cuốn sách luyện nghe, nói tiếng Anh.

Với kinh nghiệm du học, trong đó IELTS Speaking 8.5, chị Quỳnh chỉ ra sáu trở lại khiến người học gặp khó khi luyện nghe tiếng Anh.

Việc luyện nghe tiếng Anh gặp nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân. Một phần do các bạn không có môi trường để học và thực hành kỹ năng nghe từ sớm, vốn từ vựng hạn chế hay khả năng phát âm tiếng Anh chuẩn chưa tốt; một phần do bạn không luyện được sự tập trung khi nghe tiếng Anh, và phần còn lại do việc thực hành chưa đúng cách hoặc chưa đủ.

Tôi sẽ lần lượt phân tích các khó khăn kể trên và đưa ra một số giải pháp để phần nào giúp các bạn luyện nghe tiếng Anh dễ dàng và hiệu quả hơn.



1. Phát âm (Pronunciation)

Cách phát âm của người bản ngữ rất khác so với cách bạn vẫn nói tiếng Anh, khiến bạn bị "lạc" khi nghe, không thể bắt nhịp kịp để hiểu hết những gì họ nói. Trong nhiều trường hợp, vì không thể nghe rõ những câu đầu, bạn sẽ hoang mang và không tập trung được vào phần còn lại của cuộc hội thoại.

Ngoài việc nghe được cách phát âm chuẩn của 44 âm tiếng Anh và thực hành để có thể nói được gần giống như vậy, bạn nên quan tâm đến một số vấn đề khác để luyện nghe tiếng Anh tốt hơn.

Đầu tiên, bạn cần học cách nhấn trọng âm của từ (word stress) chính xác. Việc quen với cách nói có trọng âm, nhấn trọng âm chính xác giúp việc nghe tiếng Anh trở nên dễ dàng hơn.

Tiếp theo, bạn cần học và thực hành cách nối âm và nói giản lược trong phát âm tiếng Anh (linking and reduction). Đa số từ tiếng Anh có xu hướng được nối với nhau trong các hội thoại theo tốc độ tự nhiên.

Ngoài ra, người bản ngữ cũng thường xuyên rút gọn các từ khi nói (reduction). Điều này giúp họ cảm thấy việc nói (đặc biệt trong giao tiếp đời thường) dễ dàng, hiệu quả và tự nhiên hơn. Tuy nhiên, thói quen này lại khiến người nghe, đặc biệt là những người có tiếng mẹ đẻ riêng rẽ, không nối với nhau khi phát âm (như tiếng Việt) sẽ cảm thấy khó khăn.

6b48ba9ca6085b560219-3457-1593765676.jpg


Chị Hoàng Ngọc Quỳnh tại Đại học Lancaster (Anh). Ảnh: Nhân vật cung cấp.

2. Từ vựng (Vocabulary)

Nếu đã thực hành nghe tiếng Anh trong thời gian tương đối dài, thậm chí một vài năm, bạn có thể phát âm chuẩn, nhưng vẫn cảm thấy khó hiểu khi nghe tiếng Anh theo nhiều chủ đề, khả năng rất cao là do vốn từ vựng của bạn còn hạn chế.

Khi lượng từ vựng không đủ, việc luyện nghe rất khó khăn dù bạn có tập nhiều lần. Bạn cần tích lũy đủ lượng từ vựng cơ bản, thực tế và theo các chủ đề thông dụng. Dĩ nhiên, bạn sẽ không thể học được hàng trăm từ vựng chỉ qua một đêm mà nên học từ từ để tìm phương pháp phù hợp với bản thân. Bạn có thể học từ vựng qua các tình huống giao tiếp, tra từ điển, ghi chép, hoặc qua ngữ cảnh với các bài luyện nghe theo nhiều chủ đề.

3. Sự tập trung (Concentration)

Nếu quá lo lắng về việc phải nghe hiểu hoặc luôn nghĩ về nhiều thứ khác nhau, bạn sẽ lơ đễnh và khó bắt hết các ý mà mình nghe được. Thực ra đây không phải là chuyện của riêng bạn mà là vấn đề của rất nhiều người học tiếng Anh, thậm chí cả những người mà các kỹ năng khác đã khá tốt. Vì vậy, song song với việc học từ vựng và phát âm chuẩn, bạn cần nâng cao sự tập trung khi nghe tiếng Anh.

4. Phương pháp luyện nghe (Listening Methods)

Theo kinh nghiệm cá nhân, tôi thấy có nhiều cách để thực hành nghe tiếng Anh. Cách nghe nào cùng đúng, trừ luyện nghe một cách thụ động (passive listening only). Trên thực tế, luyện nghe thụ động cũng là một cách thực hành kết hợp cho việc học tiếng Anh khá tốt. Bạn có thể chỉ nghe mà không cần phải hiểu, hay theo cách nói dễ hiểu của nhiều người chính là "tắm tiếng Anh". Cách thực hành này giúp não bộ làm quen với âm điệu, ngữ điệu, từ vựng, ngữ pháp tiếng Anh và giúp cho việc học dễ dàng hơn rất nhiều.

Tuy nhiên, nếu luôn nghe tiếng Anh một cách thụ động, bạn có thể cảm giác như mình hiểu hết những gì nghe thấy nhưng đó chỉ làm cảm giác. Bởi thực tế, bạn không chủ động "nạp" từ vựng, ngữ pháp và các cách phát âm đó vào đầu mà chỉ mới "làm quen" với chúng. Thậm chí, việc nghe thụ động còn "tai hại" tới mức, bạn dần hình thành thói quen nghe mà không cần hiểu. Điều này đồng nghĩa với việc dần dần bạn không có phản xạ nghe hiểu tiếng Anh.

Bạn cần kết hợp cả hai phương pháp thực hành nghe bằng cách thường xuyên nghe chủ động, hiểu những gì mình nghe được, từng chút một. Khi thực hành nghe thụ động kết hợp với chủ động đủ lâu, tiếng Anh sẽ "ngấm" dần vào não bộ của bạn.

Các từ, cụm từ và các câu tiếng Anh có tần suất được sử dụng nhiều nhất được lặp đi lặp lại trong đầu tới khi bạn có thể sử dụng được chúng. Khi đó, bạn bắt đầu có khả năng suy nghĩ bằng tiếng Anh, nói ra được tiếng Anh và dần "phản xạ nghe hiểu" với các bài nghe với tốc độ nhanh dần.

5. Tài liệu luyện nghe (Listening Materials)

Nếu bạn chọn tài liệu nghe quá khó hoặc quá dễ (việc này liên quan tới tốc độ nghe và từ vựng sử dụng trong bài nghe) thì khả năng nghe sẽ khó được cải thiện.

Nếu tài liệu nghe quá khó, bạn sẽ không thể hiểu được những gì nghe được, do đó dễ dàng từ bỏ việc học tiếng Anh. Một số người bạn của mình muốn tăng khả năng nghe "thần tốc" đã chọn cách nghe tin tức từ CNN, CNBC và xem phim không phụ đề. Các bạn ấy đều thất bại trong việc cải thiện khả năng nghe, vì các tài liệu này thực sự là vượt xa trình độ khi đó.

Ngược lại, nếu tài liệu luyện nghe quá dễ, khả năng nghe của bạn sẽ chỉ dừng chân tại chỗ. Bạn có thể cảm thấy các video dạy tiếng Anh khá dễ nghe có tốc độ nói khá chậm, từ vựng đơn giản hướng vào người học. Nếu không bước ra khỏi "vùng an toàn", bạn sẽ không thể hướng tới việc nghe hiểu các bản tin tiếng Anh hay xem phim không cần dùng phụ đề.

Cách chọn tài liệu:

- Tài liệu nghe mức trung bình, giúp bạn hiểu 70-80%. Bạn cũng có thể chọn các tài liệu "siêu khó" để thách thức khả năng nghe như đã đề cập bên trên, nhưng chỉ nên sử dụng khi đã hiểu sơ nội dung bằng việc xem transcript hoặc học trước từ mới.

- Tài liệu nghe thuộc các lĩnh vực bạn hiểu hoặc chủ đề quan tâm, hứng thú. Việc này rất quan trọng vì chí ít bạn cũng hiểu ít nhiều hoặc đoán biết được nội dung đang được nói tới. Việc bắt đầu bằng những thứ khiến bạn muốn tiếp tục nghe, xem, đọc sẽ là điểm khởi đầu thuận lợi trong hành trình học tiếng Anh đầy khó khăn.

6. Động lực (Motivation)

Trở ngại cuối cùng với nhiều bạn trong việc thực hành nghe tiếng Anh nói riêng và học các kỹ năng tiếng Anh nói chung chính là thiếu động lực học tập. Khi nghe không hiểu, bạn thường chán nản, mất động lực và từ bỏ.

Thực ra, tiếng Anh cần rất nhiều thời gian luyện tập để có thể thuần thục, không phải chỉ sau vài ngày chăm chỉ luyện tập là đủ. Đặc biệt trong một môi trường không nói tiếng Anh, việc nghe hiểu ngôn ngữ này sẽ mất thời gian dài.

Hoàng Ngọc Quỳnh

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Blogger Templates