SƯU TẬP NHỮNG KIẾN THỨC CẦN THIẾT CHO GIÁO VIÊN ÂM NHẠC VIỆT NAM THỜI 4.0

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

Thứ Ba, 1 tháng 10, 2019

Giáo dục nghệ thuật: Nâng cao năng lực cho giáo viên

GD&TĐ - Theo báo cáo của Bộ GD&ĐT, các trường sư phạm/các cơ sở giáo dục có đào tạo giáo viên Âm nhạc và Mỹ thuật cho nhà trường phổ thông còn chậm đổi mới, chưa chủ động đề xuất đổi mới các phương pháp dạy học và nội dung chương trình đào tạo để theo kịp với Chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) mới. 
Chương trình đào tạo của các cơ sở giáo dục đào tạo giáo viên Âm nhạc và Mỹ thuật hiện nay đang dạy những gì mình có, chưa dạy học theo nhu cầu và thật sự đáp ứng yêu cầu của nhà trường phổ thông.
Nội dung chương trình đào tạo giáo viên Âm nhạc và Mỹ thuật giữa các cơ sở giáo dục không thống nhất, chất lượng đào tạo của các cơ sở giáo dục chênh lệch rất rõ, vì vậy, năng lực nghệ thuật của các giáo viên Âm nhạc, Mỹ thuật rất không đồng đều.
Báo cáo có sự tham góp của 3 vụ, cục của Bộ GD&ĐT: Vụ Giáo dục Tiểu học, Vụ Giáo dục Trung học, Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục tại Hội nghị “Nâng cao chất lượng giáo dục nghệ thuật trong trường học” (tổ chức ngày 21/8 tại Hà Nội vừa qua) đã đề xuất giải pháp đào tạo, bồi dưỡng giáo viên Âm nhạc và giáo viên Mỹ thuật ở các trường phổ thông thực hiện Chương trình GDPT mới, trong đó có giải pháp về xây dựng các chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên Âm nhạc và Mỹ thuật.
Theo đó, các cơ sở đào tạo giáo viên Âm nhạc và Mỹ thuật cần căn cứ chương trình chi tiết môn Âm nhạc và Mỹ thuật trong chương trình GDPT (2018) để điều chỉnh chương trình đào tạo hiện tại của cơ sở mình. Đồng thời, quản lý, thực hiện tốt quá trình đào tạo (từ tuyển sinh đầu vào đến chuẩn trình độ đào tạo đầu ra), bảo đảm đáp ứng yêu cầu đối với môn học Âm nhạc và Mỹ thuật ở trường phổ thông.
Mặt khác, tăng cường các hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực nghề nghiệp cho giáo viên Âm nhạc và Mỹ thuật phổ thông. Để đáp ứng chương trình GDPT 2018, cần bồi dưỡng cho cả hai đối tượng: Giảng viên sư phạm và giáo viên phổ thông thực hiện chương trình GDPT 2018. Trong đó, tập trung vào các chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên Âm nhạc, Mỹ huật đáp ứng Chương trình GDPT mới ở cả 3 cấp học.
Đối với chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên Âm nhạc, Mỹ thuật đáp ứng Chương trình GDPT mới, các cơ sở đào tạo giáo viên cần: Điều chỉnh, bổ sung nội dung chương trình đào tạo giáo viên Âm nhạc, Mỹ thuật ở trình độ đại học sư phạm chính quy. Điều chỉnh, bổ sung nội dung các chương trình liên thông từ trình độ trung cấp sư phạm, cao đẳng sư phạm hoặc tương đương lên trình độ đại học sư phạm.
Với chương trình bồi dưỡng kiến thức (đào tạo lại) chuẩn năng lực nghề nghiệp của giáo viên phổ thông, cần xây dựng các modun bồi dưỡng theo khung năng lực nghệ thuật của giáo viên phổ thông. Chương trình bồi dưỡng giáo viên cho những người học các chuyên ngành nghệ thuật không thuộc khối ngành sư phạm như: Thiết kế đồ họa, thiết kế thời trang, hội họa, thanh nhạc, piano, lý luận âm nhạc, nhạc cụ… cần xây dựng các modun bổ sung kiến thức về nghiệp vụ sư phạm, phương pháp dạy học âm nhạc/mỹ thuật ở trường phổ thông cho đối tượng này. Ngoài ra, cần xây dựng chương trình bồi dưỡng cho giáo viên tiểu học dạy môn thêm môn Âm nhạc và Mỹ thuật theo sát nội dung chương trình môn học Âm nhạc/Mỹ thuật mới.
Thảo Đan

Phương pháp dạy Toán khác biệt của Singapore




Thứ tư, 2/10/2019, 10:55 (GMT+7)
   





Đổi mới giáo dục Việt Nam vừa “dứt khoát” loại bỏ bộ sách giáo khoa viết theo quan điểm công nghệ giáo dục của giáo sư Hồ Ngọc Đại và nhìn chung hiệu ứng số đông của dư luận cũng “hùa” theo ủng hộ quyết định này. Ngược lại Singapore  đang chủ trương chuyển đổi toàn bộ sách giáo khoa nước này xây dựng theo công nghệ giáo dục. Singapore đang gặt hái những thành công trong giáo dục nhờ công nghệ giáo dục và đã được thế giới ghi nhận trong khi ở Việt Nam hiệu ứng số đông lại lôi công nghệ giáo dục ra làm trò khôi hài, bài bác  “ ... học kiểu vuông vuông, tròn tròn..”. 
Hãy đọc bài viết dưới đây để hiểu thêm về công nghệ giáo dục ( Bee).
Có nhiều lý do dẫn tới sự thành công trong giáo dục Toán học tại quốc đảo này, một trong số đó đến từ phương pháp dạy gọi là "Toán Singapore".
Toán Singapore là chương trình dạy độc đáo, tập trung vào kỹ năng giải quyết vấn đề và xây dựng nền tảng toán học vững chắc. Chương trình dành cho trẻ em từ mẫu giáo đến lớp 6, là một phần của chương trình giảng dạy quốc gia dưới sự giám sát chặt chẽ của Bộ Giáo dục.
Trước khi chương trình toán Singapore ra đời, quốc gia này sử dụng sách giáo khoa của những nước khác. Năm 1981, Phòng Kế hoạch và Phát triển chương trình giảng dạy Singapore (nay là Viện Phát triển Chương trình giảng dạy Singapore) thấy được sự cần thiết của bộ sách giáo khoa riêng nên bắt đầu xây dựng chương trình giảng dạy mới.
Năm 1982, Singapore ra mắt bộ sách giáo khoa riêng, trong đó có "Toán tiểu học", phân phát tới các trường học trên toàn quốc. Bộ sách giáo khoa được sửa đổi bổ sung vào năm 1992, nhấn mạnh hơn việc dạy học sinh giải quyết vấn đề.
Những ảnh hưởng từ bộ sách giáo khoa mới của Singapore đã được thế giới nhìn nhận rõ rệt sau các bài đánh giá chất lượng học sinh vào năm 1995, 1999 và 2003. Cho đến gần đây, học sinh Singapore luôn đạt các thành tích cao trên đấu trường Toán học quốc tế. Đó là lý do tại sao các nhà giáo dục, nhà toán học trên thế giới bắt đầu dành sự chú ý đến Toán Singapore.
Học sinh Singapore học Toán. Ảnh: Shutterstock.
Học sinh Singapore học Toán. Ảnh: Shutterstock.
Toán Singapore khác biệt thế nào?
Hãy tưởng tượng bạn đang dự giờ môn Toán tại một lớp 3 bất kỳ. Các em đang học về phép chia số lớn và chăm chú lắng nghe giáo viên trình bày các bước thực hiện phép chia số lớn.
Thế rồi bạn sang một lớp 3 khác cũng đang dạy về phép chia số lớn, nhưng ở đây cô giáo đặt lên bàn những chiếc lọ và đồng xu, sau đó ra đề bài: "Hiện cô có 17 đồng xu, cô muốn chia đều vào 5 lọ, cô sẽ phải làm như thế nào?". Học sinh cùng nhau tìm cách trả lời thông qua việc xếp đồng xu vào lọ. Sau khi đã thảo luận theo mọi cách, cô giáo mới bắt đầu bước vào bài học về phép chia số lớn.
Lớp học đầu tiên sử dụng cách tiếp cận toán học điển hình, phổ thông hơn trong khi lớp học thứ hai đang sử dụng Toán Singapore. Về mặt lý thuyết, bài học của hai lớp là giống nhau, nhưng cách học sinh tiếp cận toán học là khác nhau. Và cách tiếp cận khác biệt thứ hai đã tạo nên Toán Singapore.
Toán Singapore tập trung xây dựng kỹ năng toán học cơ bản, thay vì chú ý đến nội dung, cho phép học sinh tập trung vào khái niệm sâu hơn, sử dụng phương pháp học "ba bước" lần lượt là cụ thể, hình ảnh và trừu tượng. 
Phương pháp học ba bước
Phương pháp này dựa trên lý thuyết của nhà tâm lý học người Mỹ, Jerome Bruner. Ông cho rằng để tiếp cận một vấn đề, người học cần trải qua ba bước, đầu tiên là xử lý đối tượng thực tế, sau đó sử dụng hình ảnh để mô phỏng lại vấn đề, cuối cùng là dùng khái niệm trừu tượng để giải thích. Lý thuyết này được áp dụng vào Toán Singapore giúp trẻ ghi nhớ tốt và hiểu biết sâu hơn.
Bước đầu tiên trong phương pháp ba bước là cụ thể hóa. Giáo viên sẽ đưa ra những hình khối, vật dụng mà học sinh có thể chạm vào và cảm nhận như xúc xắc, bộ xếp hình, bút chì màu để biểu đạt các phép tính.
Sau đó, học sinh chuyển sang tiếp nhận vấn đề bằng hình ảnh và củng cố kiến thức về các khái niệm bằng sơ đồ gọi là "mô hình thanh". Mỗi thanh hình chữ nhật sẽ đại diện cho một số trong bài toán. Mô hình thanh này rất hữu ích trong việc học về các phép tính cộng, trừ, nhân, chia, phân số hay số thập phân.
Cuối cùng, khi đã được nhìn và sờ, học sinh sẽ chuyển sang tiếp nhận khái niệm toán học. Trẻ em Singapore sẽ học hai khái niệm chính (toàn phần và so sánh) và đây là hai khái niệm nền tảng cho những bài học sau này.
Khái niệm toàn phần giúp học sinh hiểu về các phần và tổng các phần sẽ tạo nên cái toàn thể. Ví dụ, đề bài cho: "Isabelle có 3 quả bóng, Leane có 2 quả bóng. Hỏi hai bạn có tất cả bao nhiêu quả bóng?".
Cách thức học sinh sử dụng khái niệm toàn phần. Ảnh: The Asian Parent.
Cách thức học sinh sử dụng khái niệm toàn phần. Ảnh: The Asian Parent.
Học sinh Singapore sẽ vẽ một thanh dài hình chữ nhật, sau đó chia làm hai phần, một phần dài và một phần ngắn. Tiếp đó, em sẽ dán nhãn hai thanh này với các số có trong đề bài và cộng chúng lại để được kết quả bằng 5. Học sinh có thể ứng dụng khái niệm toàn phần vào phép tính cộng, trừ, nhân, chia.
Khác với toàn phần, khái niệm so sánh sử dụng hai thanh song song. Ví dụ, đề bài cho: "Emily có 5 cái bút chì và 3 cục tẩy. Hỏi, số bút chì nhiều hơn số cục tẩy là bao nhiêu?".
Cách thức học sinh sử dụng khái niệm so sánh. Ảnh: The Asian Parent.
Cách thức học sinh sử dụng khái niệm so sánh. Ảnh: The Asian Parent.
Để giải bài toán này, học sinh Singapore sẽ vẽ hai thanh song song, trong đó thanh đầu tiên vẽ dài hơn, đại diện cho số bút chì, thanh thứ hai ngắn hơn là số cục tẩy. Nhờ mô hình thanh, các em nhận ra phần dư ra của thanh đầu tiên chính là đáp án cần tìm và thực hiện phép tính 5 - 3 = 2.
Khi nhuần nhuyễn cách sử dụng hai khái niệm này để giải quyết các vấn đề toán học cơ bản, học sinh có thể sử dụng chúng trong các vấn đề nâng cao.
Ưu và nhược điểm của Toán Singapore
Sách giáo khoa và sách bài tập toán của Singapore rất đơn giản, dễ hiểu, dễ đọc với những bài toán căn bản, hình ảnh sinh động. Toán Singapore liên kết chặt chẽ với phương pháp giáo dục phổ thông của Mỹ, được gọi là Tiêu chuẩn cốt lõi chung (Common Core State Standards). Việc này mở ra cơ hội để Toán Singapore tiếp cận nhiều hơn tới các bang, trường học tại Mỹ.
Sách giáo khoa Toán hướng dẫn tuần tự, dựa trên các kỹ năng và khái niệm học sinh đã học trước đó để dần dần phát triển. Học sinh Singapore chỉ cần học trong sách giáo khoa, không cần tham khảo tài liệu bổ sung. 
Một ưu điểm nữa là Toán Singapore yêu cầu học sinh làm chủ các khái niệm, trái ngược với việc học thuộc lòng các quy tắc và công thức. Học sinh học ít chủ đề trong một năm 13-15 chủ đề), nhưng học theo hướng chuyên sâu nên có nền tảng vững chắc để học cao hơn mà không quên khái niệm, công thức. 
Phương pháp học Toán Singapore trực quan, sinh động, kích thích mọi giác quan của người học. Toán Singapore áp dụng phương pháp ba bước giúp học sinh có thể sờ, nhìn, nghe (nhiều trường cho học sinh xem video hướng dẫn trên Youtube) làm cầu nối đến những khái niệm trừu tượng.
Tuy nhiên, Toán Singapore cũng có nhiều nhược điểm. Với mô hình toán học liên kết với thực tế, giáo viên Singapore phải liên tục bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng, đòi hỏi lượng tài chính đáng kể dành cho đào tạo giáo viên. Học sinh làm bài tập trực tiếp vào sách giáo khoa, sách bài tập nên mỗi năm đều phải mua mới tài liệu học tập. Điều này tạo gánh nặng tài chính cho gia đình học sinh và nhà trường.
Toán Singapore ít tập trung vào ứng dụng trong thực tế. Hiện nay, toán học nhấn mạnh vào việc ứng dụng trong đời sống ví dụ để phân tích số liệu, đo đạc, nhưng toán Singapore thiên về củng cố nền tảng toán học.
Tú Anh (Theo Verywell Family, The Asian Parent, 74 million)

Thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới: Chủ động tự bồi dưỡng


Học sinh Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi (quận 4) trong giờ học tiếng Anh.Học sinh Trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi (quận 4) trong giờ học tiếng Anh.
GD&TĐ - Chuẩn bị cho Chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) mới, Bộ GD&ĐT đang đẩy mạnh công tác bồi dưỡng giáo viên ở các tỉnh, thành trong cả nước. Bên cạnh tham gia các lớp bồi dưỡng, đội ngũ nhà giáo cũng chủ động trong việc tự bồi dưỡng, nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng để tiệm cận với chương trình. 
Ưu tiên bồi dưỡng giáo viên
Theo lãnh đạo Sở GD&ĐT TPHCM, để chuẩn bị về đội ngũ cho chương trình mới, Sở GD&ĐT đã xây dựng lực lượng cán bộ quản lý, giáo viên cốt cán, nhất là ở cấp tiểu học để tham gia các chương trình, các lớp bồi dưỡng, tập huấn do Bộ GD&ĐT tổ chức. Cụ thể, trong tháng 10 này, Sở cử khoảng 70 hiệu trưởng và gần 500 giáo viên cốt cán của TPHCM tham gia chương trình bồi dưỡng giáo viên do Bộ GD&ĐT tổ chức. Từ đó, sẽ xây dựng đội ngũ báo cáo viên, các chuyên đề nhằm thực hiện việc bồi dưỡng, tập huấn về Chương trình giáo dục phổ thông mới cho toàn ngành.
Ông Nguyễn Văn Hiếu, Phó Giám đốc Sở GD&ĐT TPHCM cho biết, để chuẩn bị thực hiện chương trình GDPT vào năm học 2020 - 2021, bảo đảm 100% thầy cô giáo dạy lớp 1 được tập huấn, bồi dưỡng, trong năm học này, sở đề nghị lãnh đạo các trường tổ chức cho các giáo viên nghiên cứu kĩ Thông tư 32 của Bộ GD&ĐT về ban hành chương trình GDPT, nghiên cứu tổng thể chương trình, mục tiêu, đầu ra, yêu cầu, định hướng phát triển…
Chương trình mới được thiết kế theo hướng mở để giáo viên chủ động, sáng tạo trong cách giảng dạy của mình. Trước mắt, các giáo viên, nhà trường cần thực hiện tốt Văn bản 4612 của Bộ GD&ĐT về đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, đổi mới kiểm tra, đánh giá học sinh…
Bên cạnh đó, Sở cũng chủ động phối hợp với các trường ĐH, cơ sở bồi dưỡng giáo viên xây dựng những chuyên đề về chương trình GDPT tổng thể để triển khai cho các đơn vị cơ sở.
Ngay trong hè năm 2019, ngành đã xây dựng, đưa vào chương trình bồi dưỡng hè nhiều chuyên đề, nội dung để trang bị sẵn sàng cho cán bộ, giáo viên những kiến thức, kỹ năng cần thiết nhằm bảo đảm việc triển khai chương trình GDPT 2018 đúng tiến độ và đạt chất lượng theo chỉ đạo của Bộ GD&ĐT.
UBND TPHCM đã yêu cầu các cơ sở giáo dục thực hiện rà soát hiện trạng, nhu cầu cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên từng cấp học, lớp học, môn học theo lộ trình thực hiện chương trình giáo dục phổ thông, từ đó đề xuất với Sở GD&ĐT nhằm bảo đảm số lượng và chất lượng để thực hiện kế hoạch bồi dưỡng giáo viên đạt hiệu quả thực hiện chương trình GDPT; tham gia đầy đủ các khóa bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên hàng năm (từ năm 2019 đến năm 2023).
Cụ thể: Các lớp bồi dưỡng hướng dẫn dạy học môn học (theo tài liệu hướng dẫn dạy học chương trình GDPT), trong đó giáo viên tiểu học gồm 6 đợt (từ năm 2018 đến năm 2023); giáo viên THCS gồm 5 đợt (từ năm 2019 đến năm 2023) và giáo viên THPT gồm 4 đợt (từ năm 2020 đến năm 2023)…
 Ảnh minh họa/ Internet
Tự bồi dưỡng để đáp ứng yêu cầu
Ngoài việc bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình mới, việc bồi dưỡng thường xuyên để nâng cao năng lực người thầy theo chuẩn giáo viên, chuẩn hiệu trưởng mà Bộ đã ban hành cũng được Sở GD&ĐT, các quận, huyện tại TPHCM chú trọng. Đặc biệt, đội ngũ nhà giáo luôn chủ động tìm tòi, sáng tạo trong cách dạy học, không ngừng nỗ lực học hỏi, nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng để tiệm cận với chương trình GDPT năm 2018.
Tại TPHCM, từ nhiều năm nay, các trường học đã chủ động triển khai cho giáo viên trong đổi mới phương pháp dạy học, đánh giá học sinh, triển khai kế hoạch dạy các tiết học trải nghiệm ngoài nhà trường, tiết học STEM..., tổ chức cho học sinh tự khám phá, vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn.
TPHCM đã thực hiện việc triển khai cho học sinh tiếp cận tiếng Anh từ lớp 1 theo chương trình tiếng Anh tăng cường; nhà trường chủ động cho học sinh làm quen với bộ môn Tin học qua chương trình Tin học IC3 Spark, trong đó một số trường có điều kiện đã chủ động dạy Tin học cho học sinh ngay từ năm lớp 1… Bên cạnh đó, ngành GD TP cũng triển khai xây dựng mô hình trường tiểu học tiên tiến theo xu hướng hội nhập khu vực và quốc tế.
Sự chủ động của các trường đặt ra yêu cầu đối với người giáo viên là luôn đổi mới, sáng tạo. Thạc sĩ Vũ Hoàng Sơn, giáo viên Trường TH Bình Hòa (quận Bình Thạnh) cho rằng, nghề giáo đòi hỏi mỗi giáo viên học hỏi, sáng tạo hằng ngày, học từ đồng nghiệp, tài liệu, các mô hình trong và ngoài nước với phương pháp, kỹ năng dạy học hay, hiệu quả và áp dụng phù hợp với học sinh của mình.
Được bồi dưỡng và tự bồi dưỡng là hai yếu tố quan trọng giúp người giáo viên luôn chủ động, sẵn sàng thích nghi với bất cứ sự thay đổi nào, giáo viên cũng linh hoạt tiếp cận tốt nhất.
Đề cao vai trò của tự bồi dưỡng, thầy Vương Sĩ Đức, giáo viên Trường TH Nguyễn Thị Minh Khai (quận Gò Vấp) chia sẻ, điều cốt lõi vẫn là năng lực, kỹ năng của người thầy. Nếu giáo viên chuẩn bị tốt tâm thế, tìm hiểu kĩ về tổng thể chương trình mới, mục tiêu, định hướng, có nền tốt, khi tham gia tập huấn, bồi dưỡng, các thầy cô sẽ nắm gọn tinh thần, cách thức, nội dung… của chương trình nên việc tiếp cận, triển khai chương trình mới sẽ rất thuận lợi.
Thảo Nguyên

Việt Nam nên xây dựng nền giáo dục “may đo”


Dân trí Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra chóng mặt trên tất cả các lĩnh vực đời sống. Tuy nhiên, GS.TSKH Đặng Ứng Vận cho rằng, giáo dục đại học Việt Nam vẫn đang ở thời kỳ cách mạng 2.0. Để  tái tạo lại hệ thống GD Việt Nam thích ứng với thời cuộc, Việt Nam nên xây dựng nền giáo dục “may đo”. 
>>Giáo dục đại học Việt Nam 10 năm tới: Phải khai thông điểm nghẽn để cạnh tranh bình đẳng 
>>Giáo dục đại học Việt Nam 10 năm tới: Chỉ nên để tối đa 150 đại học 
>>0,33% GDP đầu tư cho giáo dục đại học: Thấp nhất thế giới

Trao đổi với phóng viên Dân trí, GS.TSKH Đặng Ứng Vận - thành viên Hội đồng Giáo dục quốc gia cho biết, cách mạng CN 4.0 ra đời từ năm 2000, cùng với việc kết nối mạng máy tính trong công nghiệp, internet được đưa vào hệ thống giáo dục. Hiện nay, sinh viên có thể tham gia vào quá trình học từ xa và có thể tiếp cận với một nguồn thông tin không giới hạn.
 Tuy vậy, vẫn chưa có những thay đổi về các mô hình giáo dục, người học vẫn được kiểm tra bằng các tiêu chuẩn của CN 2.0, lợi ích từ máy tính và internet vẫn bị cản trở/sa lầy ở một khâu nào đó trong mô hình GD đáp ứng các đòi hỏi của CN 2.0.
 Mặc dù có nhiều cuộc thảo luận về học tập lấy người học làm trung tâm, đầu ra của việc học, học tập suốt đời và thậm chí cả về sử dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong giáo dục, lĩnh vực GD và GD đại học nói riêng, vẫn áp dụng các phương pháp tạo điều kiện học tập cổ xưa.
 Chương trình đào tạo và chương trình dạy học hầu như không thể bắt kịp với nhu cầu của ngành công nghiệp và đời sống xã hội đương đại.
 Trên thực tế, có một khoảng cách giữa các cơ sở GD và công nghiệp. Theo kết quả điều tra của INTELITEK, một tổ chức có tín nhiệm thì 72% các cơ sở GD tin rằng những người lao động mới được đào tạo sẵn sàng cho công việc, trong khi đó chỉ có 42% các nhà tuyển dụng tin rằng những người lao động mới được đào tạo là sẵn sàng cho công việc.
 Đây rõ ràng là một sự khác biệt lớn. Các cơ sở GD đã không bắt nhịp được với doanh nghiệp và công nghiệp. 
Việt Nam nên xây dựng nền giáo dục “may đo” - 1
Nhấn để phóng to ảnh
Dấu ấn của 2.0 còn đậm nét trong giáo dục đại học Việt Nam
GS có thể chỉ rõ những hạn chế của GD đại học Việt Nam trước ngưỡng cửa 4.0?
GD đại học Việt Nam ngoài những hạn chế chung như hệ thống GD ĐH thế giới thì còn có những hạn chế riêng khiến cho thách thức trong việc tiếp cận 4.0 của GD đại học VN không chỉ là kép mà là chập 3 (hat-trick).
Đó là dấu ấn của 2.0 còn đậm nét trong GD ĐH Việt Nam. Cụ thể, quá trình học tập được sắp đặt trước và theo thứ tự, chất lượng được kiểm tra thông qua các bài kiểm tra theo chuẩn được thực hiện ở mỗi cuối học kỳ, giáo viên được chuyên ngành hóa, sử dụng cùng một thang đánh giá cho các cơ sở GD và chương trình đào tạo và sự thiếu dân chủ rõ rệt trong nhà trường khi mà không ai có thể tự thiết kế con đường học tập của riêng mình (ngay cả hệ tín chỉ đang được triển khai vẫn còn mang tính hình thức).
Thậm chí GD ĐH Việt Nam vẫn còn những khiếm khuyết khi đối chiếu với các chuẩn mực của 2.0 như là sự kết nối giữa các trường đại học và các doanh nghiệp, việc đào tạo các kỹ năng nhận thức cấp cao như giải quyết vấn đề, suy luận logic, làm việc theo nhóm, kỹ năng thích nghi nhanh chưa được quan tâm; chưa tạo động lực và khả năng học tập suốt đời và học tập liên tục cho mọi người, đặc biệt là kỹ năng khai thác các nguồn học liệu mở, các khóa học trực tuyến đại chúng và sự yếu kém về tiếng Anh.
Bên cạnh đó, Việt Nam không có những định hướng rõ nét có tính dẫn dắt cho học sinh hướng tới STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học), dẫn đến tình trạng những học sinh giỏi nhất thường lựa chọn các ngành ngoại thương, tài chính, ngân hàng..., thiếu hụt nhân lực trong một số ngành công nghệ tăng trưởng nhanh trong thời đại số hóa và tự động hóa, đặc biệt là ngành CNTT.
Báo cáo mới nhất về ngành CNTT của Vietnamworks cho thấy, trong 3 năm gần đây, số  lượng công việc của ngành này đã tăng trung bình 47%/năm, nhưng số lượng nhân sự chỉ tăng ở mức 8%.
Ngoài ra, chất lượng GD đại học Việt Nam là có vấn đề xuất phát từ tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường và từ chủ trương cho mở quá nhiều trường đại học.
 Khi mà các trường đại học phải lo kiếm sống để tồn tại như một doanh nghiệp trong bối cảnh số lượng tuyển sinh ngày càng thấp và chúng ta chưa có giải pháp hiệu quả để kiểm soát đầu ra, phần lớn các trường đại học tầm trung lúng túng trong việc giải quyết nghịch lý: một mặt đảm bảo không cung cấp thứ phẩm và phế phẩm cho xã hội và mặt khác sinh viên sẽ ngại vào các trường chặt chẽ trong việc cấp chứng chỉ học tập.
Việt Nam nên xây dựng nền giáo dục “may đo” - 2
Nhấn để phóng to ảnh
GS.TSKH Đặng Ứng Vận
Việt Nam nên  xây dựng nền giáo dục "may đo"
Thưa GS, chúng ta phải làm thế nào để tái tạo lại hệ thống giáo dục thích ứng với công nghệ mới?
Chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng mức độ phức tạp của các tác động của CM 4.0 đến giáo dục, kinh doanh, chính phủ và con người ngày càng tăng và cuối cùng, tất cả, cho dù kinh doanh, chính phủ hay bản thân mỗi con người chúng ta đều đòi hỏi phải được giáo dục, đào tạo, đào tạo lại để biết cách đáp ứng những tác động đó. Như vậy GD chịu tác động kép của 4.0.
Với việc đại chúng hóa GD xảy ra trên toàn thế giới trong ba thập kỷ qua, thiết kế của cả hai hệ thống GD truyền thống và hiện đại đã không đảm bảo tiếp cận với một nền GD có chất lượng và thích ứng cho dân số thế giới.
Như vậy, cần phải thiết kế lại các hệ thống GD đương đại để tạo ra một hệ thống thích nghi và linh hoạt hỗ trợ hiệu quả cho các cuộc CM công nghiệp thứ tư và tương lai. Theo đó, phải thay đổi cách dạy của thầy và cách học của trò trong thế kỷ 21. Việt Nam nên  xây dựng nền giáo dục may đo.
 Vậy nền giáo dục may đo  này sẽ hoạt động như thế nào thưa GS?
Trong nền giáo dục may đo, thay cho việc chỉ dạy chữ, chỉ truyền đạt kiến thức (giờ thì đã bổ sung thêm là kết hợp hài hòa dạy chữ, dạy người và dạy nghề) nên dạy cách suy nghĩ và sáng tạo.
Thứ hai, tài năng con người là đa dạng và ẩn chứa bên trong mỗi cá thể. Cần tạo tình huống cho chúng bộc lộ. Có thể ví như mỏ quý nằm sâu trong lòng đất hoặc lộ thiên không thể khai thác theo cùng một quy trình công nghệ được. Xã hội lại rất cần nhiều tài năng khác nhau chứ không phải một vài khả năng đơn thuần nào đó như làm toán hoặc viết văn.
Tâm điểm của thử thách này chính là xây dựng lại cách nhìn của chúng ta về khả năng và sự hiểu biết của người học.
Thứ ba, tất cả học sinh đều được học trường tốt. Trồng người không phải là một quy trình công nghiệp (như gieo hạt bằng máy) được chuẩn hóa, tuyến tính và cứng nhắc.
Giáo dục là một quá trình sinh và tâm lý học mà chúng ta không đoán trước được đặc tính sản phẩm đầu ra nên thầy cô giáo phải biết cách hướng dẫn cho người học lựa chọn, điều chỉnh phù hợp với từng cá thể, nuôi dưỡng được tâm hồn và lòng đam mê học tập. Nếu không có sự đam mê thì trái đất cũng lụi tàn.
Vì thế, theo quan điểm cũ, trường tốt được dành cho những học sinh tốt nhất. Việc thi tuyển được dùng để đảm bảo rằng chỉ có các sinh viên trí tuệ tài năng nhất (theo chuẩn do người lớn đặt ra) được nhận vào các trường có uy tín.
Quan điểm mới, khi tài năng bên trong của mọi trẻ em được bộc lộ, tất cả các trường sẽ trở thành một trường học tốt. Đây mới là tư tưởng cốt lõi của nền GD may đo.
Thứ tư, ai cũng được học hành và học suốt đời. Muốn vậy, cần đảm bảo cơ hội tiếp cận GD của các tầng lớp nhân dân ở các trình độ, phương thức và loại hình GD và đào tạo khác nhau.
Mở rộng cơ hội học tập và nâng cao chất lượng không chỉ trông chờ vào nguồn lực từ Nhà nước mà còn từ xã hội và bản thân người đi học. Đây cũng là mục tiêu của việc xây dựng một hệ thống GD theo hướng mở mà Nghị quyết 29 đã đề ra.
Thứ năm, học để làm chủ đất nước và sánh vai cùng bè bạn năm châu.  Đây là tiền đề có tính mục tiêu nên tôi để cuối chứ không phải vì nó kém quan trọng.
Xin lưu tâm chữ “làm chủ”. Chúng ta phàn nàn sinh viên tốt nghiệp không có việc làm, xã hội trách một lần thì chúng tôi tự trách mình mười. Đã học đến đại học (mà xã hội gọi là thầy) thì phải có năng lực lập nghiệp và thậm chí sáng nghiệp cho xã hội.
Tại sao cứ kêu ca là không tìm được việc làm, tại sao cứ nghĩ học xong để đi làm thuê. Xin được làm thuê cho một công ty nước ngoài lương cao là hả hê lắm. Tại sao không nghĩ rằng học ra để làm ông chủ, để cùng với bạn bè lập nghiệp? Lỗi ở chính nhà trường đại học chưa chú trọng GD khai phóng, chưa hướng dẫn cho sinh viên biết cách tự học, tự nghiên cứu để đạt được các mục tiêu sống của mỗi người.
Ý thứ hai trong mục tiêu là “sánh vai cùng bè bạn năm châu”. Tư tưởng này của cụ Hồ cao hơn tư tưởng hội nhập hiện nay. Riêng chuyện hội nhập chắc còn nhiều việc phải bàn tiếp.
Trong 5 điểm đã nêu thì khó thực hiện nhất là làm sao cho các trường của Việt Nam đều là những trường tốt. Đây là việc của các trường đại học, chắc chắn không ai có thể làm thay được. Mặt khác, xã hội, doanh nghiệp và công nghiệp cần đầu tư thêm cho giáo dục, huy động thêm nguồn lực và cần một cung cách quản lý hiệu quả của Nhà nước.
Thận trọng khi nhìn nhận STEM
Mô hình giáo dục mới mà giáo dục Việt Nam đang áp dụng vào các trường học, giáo sư nhìn nhận nó như thế nào?
STEM như một giải pháp định hướng nhằm hỗ trợ nhân lực cho 4.0 mà một số nước phát triển đã theo đuổi. Tuy vậy, cũng rất cần thận trọng nhìn nhận nó như là một trong những lựa chọn về chính sách GD và chương trình giảng dạy trong các trường học để cải thiện khả năng cạnh tranh trong phát triển kinh tế - xã hội.
Nó có ý nghĩa đối với sự phát triển lực lượng lao động đáp ứng hướng ưu tiên trong phát triển kinh tế xã hội và được dùng trước tiên trong GDPT và GD đại cương. Có thể nêu ra nhiều tổ hợp khác đáp ứng những nhu cầu đa dạng khác nhau ví dụ như STM, eSTEM, STEMIE, STEMLE, STREAM.. và gần đây trên các phương tiện thông tin đại chúng đã xuất hiện GD khai phóng (cũng là một loại tổ hợp CTGD khác).
Vẫn là cần một sự định hướng chiến lược quốc gia về nhân lực để có thể lựa chọn một tổ hợp tối ưu thích ứng với đặc điểm con người Việt Nam, với chiến lược phát triển đất nước Việt Nam.
Hôm nay chúng ta có thể nhận thức được sự cần thiết của STEM nhưng ngày mai đây có thể lại là một tổ hợp khác. Đó cũng là điều tất yếu.
Nếu như quay trở lại với triết lý CM kinh điển mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Dĩ bất biến ứng vạn biến” thì cho dù là chọn STEM hay STREM (thêm robotic) hay AMSEE (Applied Math, Science, Engineering, and Entrepreneurship) thì điều quan trọng hàng đầu hiện nay vẫn là sự làm mới (innovation) lấy việc học của các thế hệ khác nhau trong xã hội làm điểm đột phá (disruptive innovation) để thiết kế lại hệ thống.
Chúng tôi không dám nói về CM học tập như thế giới đã nói vì rằng với người Việt và văn hóa Việt “CM dẫn đến xáo trộn và đổ vỡ” mà chỉ nói đến “đổi mới có tính đột phá”. Sự đổi mới đột phá này có gây bất ổn không, có xáo trộn và đổ vỡ không.
Thưa là xáo trộn thì có nhưng đổ vỡ thì không. Chắc chắn là không vì chúng ta đã có triết lý “trồng người” trước người phương tây và cũng đã chú trọng GD ngoài nhà trường với triết lý “học thầy không tày học bạn” và từ xa xưa là triết lý “ba người cùng đi ắt có người là thầy ta” (tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư)
Xin trân trọng cám ơn GS!
CM CN 2.0 (bắt đầu từ năm 1900 với sự hình thành dây chuyền sản xuất) đòi hỏi những người lao động tiên tiến, họ cần biết đọc biết viết, cần được GD và huấn luyện để trở thành một mắt xích hiệu quả trong dây chuyền sản xuất. Hệ thống này, về thực chất vẫn đang tồn tại trong ý nghĩ của mọi người ngày hôm nay. GD đáp ứng những đòi hỏi của công nghiệp.
Hồng Hạnh

Thông tin về xuất xứ đàn piano YAMAHA

UPRIGHT PIANO:

Nếu dãy số seri của bạn bắt đầu bằng chữ từ T, thì cây đàn piano đó được sản xuất tại Thomaston, Geargia, Mỹ.

Nếu dãy số seri của bạn bắt đầu bằng chữ từ U, thì cây đàn piano đó được sản xuất tại South Haven, Michigan , Mỹ.

Nếu dãy số seri của bạn bắt đầu bằng chữ từ H, thì cây đàn piano đó được sản xuất tại Hangzhou , Trung Quốc.

Nếu dãy số seri của bạn bắt đầu bằng chữ từ YT, thì cây đàn piano đó được sản xuất tại Taoyuan, Đài Loan.

Nếu dãy số seri của bạn bắt đầu bằng chữ từ J, thì cây đàn piano đó được sản xuất tại Jakarta, .
GRAND PIANO:

Những dòng đàn được sản xuất tại Thomaston, Geargia, Mỹ bao gồm: GH1G, GH1FP, GC1G, GC1FP.
Những dòng đàn được sản xuất tại Jakarta, bao gồm: GA1E, DGA1E, GB1, DGB1, GB1K, DGB1K.
Những dòng đàn còn lại được sản xuất tại Hamamatsu , Nhật Bản.
(Nguồn: http://usa.yamaha.com/support/finding_age_of_yamaha_piano/)






Tập huấn sử dụng recorder cho giáo viên dạy âm nhạc tiểu học Khánh Hoà

Sở Giáo dục và Đào tạo vừa phối hợp với Công ty TNHH Âm nhạc Yamaha Việt Nam tổ chức lớp tập huấn dạy sáo Recorder cho 20 giáo viên âm nhạc tiểu học.


Quang cảnh buổi tập huấn.
Quang cảnh buổi tập huấn.

Dưới sự hướng dẫn của giảng viên người Nhật Bản Yuuki Shimada, các giáo viên được tìm hiểu về lịch sử sáo Recorder, một loại sáo đã được chơi tại nhiều quốc gia. Trên cơ sở được giới thiệu những điểm căn bản của sáo Recorder, các giáo viên đã luyện tập kỹ thuật sử dụng sáo Recorder.

Trước đó, vào tháng 8, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phối hợp với công ty trên tập huấn về nâng cao năng lực sử dụng sáo Recorder cho các giáo viên âm nhạc của 10 trường thí điểm tại tỉnh. Khánh Hòa là 1 trong 10 tỉnh, thành phố của cả nước tham gia thí điểm chương trình “Hỗ trợ và dạy sáo Recorder trong môn Âm nhạc ở trường tiểu học giai đoạn 2017 - 2020”. Năm học này, ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh cũng khuyến khích các trường tổ chức câu lạc bộ sáo Recorder và khuyến khích giáo viên âm nhạc dạy sáo Recorder trong nhà trường dưới hình thức câu lạc bộ. Sở sẽ tổ chức ngày hội giao lưu các câu lạc bộ sáo Recorder cấp tỉnh dành cho giáo viên và học sinh, dự kiến vào tháng 2-2019.

Tìm hiểu về kỳ thi thẩm định trình độ piano Piara examinations ( Nhật bản) tổ chức tại Việt Nam

1. Piara examinations là kỳ thi thẩm định trình độ Piano thông qua các bài diễn tấu của thí sinh.
2. Đây là kỳ thi mang tính thực hành với các kỹ năng biểu diễn của đàn Piano.
3. Thí sinh có thể đăng ký thi bất cứ trình độ nào phù hợp với khả năng của mình
Theo tiêu chuẩn phân cấp của Piara từ level 18 (thấp nhất) đến level 1 (cao nhất)


4. Phòng thi:
Là một phòng cách âm, yên tĩnh :
* Nhạc cụ : Acoustic Piano
* Bàn làm viêc của giám khảo
* Một thí sinh
* 2 đến 3 giám khảo, trong đó có một Giám khảo đến từ Nhật bản .
* Một thông dịch tiếng Nhật.
Lưu ý: Giáo viên, phụ huynh… Không được phép vào phòng thi.
Tuy nhiên Ban tồ chức cuộc thi sẽ bố trí camera để Giáo viên, phụ huynh… quan sát cuộc thi qua màn hình .
5. Tiến trình thi của mỗi thí sinh :
– Thí sinh vào phòng thi trình Phiếu Chấm điểm cho Ban giám khảo .
– Phiếu Chấm điểm ghi thông tin cá nhân, chương trình thi của thí sinh ,
và các tiêu chí đánh giá .
– Thí sinh thề hiện nghi thức chào sân khấu và ngồi vào đàn trình bày bài thi.
6. Bảng kết quả thẩm định : Sau 20 ngày kể từ ngày thi, thí sinh sẽ nhận được bản kết quả thẩm định : nhận xét và đánh giá chi tiết chuyên môn về phần trình bày bài thi của mình, theo tiêu chí chấm điểm của Piara Nhật Bản.
7. Khung đánh giá quy định như sau :
A : Suất sắc , B : giỏi , C : đạt yêu cầu D : không đạt yêu cầu
8. Chứng chỉ : sẽ được nhận vào lễ Piara Graduation được tổ chức vào tháng 12 mỗi năm.
Ban chủ tọa gồm Đại diện Toyo Piano Nhật Bản, Đại diện Hội đồng Giám Khảo Piara, các Giảng viên đại diện Trung tâm Khảo thí Piara, sẽ trao chứng chỉ Piara cho các thí sinh dự thi
9. Piano Recital : Sau mỗi kỳ thi, căn cứ vào bản nhận xét của Ban giám khảo. Mỗi Trung tâm khảo thí nên tổ chức một recital về piano, giới thiệu các học viên đạt kết quả tốt biểu diễn bài thi Piara của mình.

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Blogger Templates